Vũ Nam Khang
Giới thiệu về bản thân
Trường học vốn là môi trường để học tập và rèn luyện, nhưng hiện nay, bóng đen của vấn nạn bắt nạt học đường đang làm vẩn đục không gian ấy. Đây không còn là chuyện xích mích nhỏ của trẻ con mà là một thực trạng nhức nhối, gây ra những hậu quả khôn lường cho tâm lý và tương lai của thế hệ trẻ.
Bắt nạt học đường ngày nay không chỉ dừng lại ở những hành động bạo lực thể xác như đánh đập, trấn lột, mà còn biến tướng sang bắt nạt tinh thần. Đó là việc cô lập, tẩy chay, dùng lời lẽ xúc phạm hay cay nghiệt hơn là bắt nạt qua mạng xã hội. Những bình luận ác ý, những tin đồn thất thiệt có thể bủa vây nạn nhân mọi lúc mọi nơi, khiến các em rơi vào trạng thái hoảng loạn và tuyệt vọng.
Nguyên nhân của tình trạng này trước hết xuất phát từ nhận thức lệch lạc của một bộ phận học sinh muốn khẳng định bản thân bằng quyền lực ảo. Bên cạnh đó, sự thiếu sâu sát của gia đình và sự thờ ơ của những người chứng kiến cũng vô tình tiếp tay cho cái ác. Nhiều người coi đó là chuyện bình thường, nhưng chính sự im lặng ấy lại là lưỡi dao sắc nhất cứa vào lòng người bị hại.
Hậu quả mà bắt nạt học đường để lại vô cùng nặng nề. Nạn nhân không chỉ bị tổn thương thân thể mà còn mang theo vết sẹo tâm lý suốt đời, dẫn đến trầm cảm, lo âu, thậm chí là những lựa chọn tiêu cực cực đoan. Ngược lại, những kẻ bắt nạt nếu không được giáo dục lại sẽ dần hình thành nhân cách lệch lạc, dễ sa vào tệ nạn xã hội.
Để ngăn chặn vấn nạn này, sự thấu cảm là liều thuốc quan trọng nhất. Nhà trường cần quản lý chặt chẽ, gia đình cần lắng nghe con cái nhiều hơn và mỗi học sinh cần học cách tôn trọng sự khác biệt của bạn bè. Chúng ta hãy dũng cảm lên tiếng trước sự bất công, bởi sự tử tế và lòng trắc ẩn mới là sức mạnh thực sự giúp xây dựng một môi trường học đường hạnh phúc.
Tóm lại, bắt nạt học đường là một hành vi xấu xí cần được loại bỏ. Mỗi cá nhân cần có trách nhiệm bảo vệ sự an toàn của chính mình và những người xung quanh, để mỗi ngày đến trường thực sự là một ngày vui.
“NHẬN” VÀ “CHO” TRONG HỘI NHẬP VĂN HÓA
Từ cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, Ủy ban văn hóa, giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã khuyến cáo: Bước sang thế kỷ 21, nền khoa học của nhân loại có những bước tiến như vũ bão, làm đảo lộn nhiều giá trị tưởng như đã ổn định. Những thành tựu kì diệu của khoa học, công nghệ,... sẽ kéo theo những thay đổi về văn hóa, tác động sâu sắc đến các giá trị văn hóa truyền thống theo hướng tích cực hoặc tiêu cực.
Vì vậy, các dân tộc cần chuẩn bị cho quá trình hội nhập một cách thông minh, trên cơ sở bảo tồn vững chắc những tinh hoa truyền thống của nền văn hóa dân tộc mình, góp phần làm phong phú nền văn hóa chung của nhân loại.
Từ trước tới nay, Đảng ta luôn luôn đề cao vai trò của văn hóa trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng xác định văn hóa là động lực và nền tảng của phát triển bền vững, “Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế” là cốt lõi của “Văn hóa hội nhập” Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa, vì văn hóa không đứng ngoài chính trị và kinh tế. Hội nhập văn hóa đồng thời diễn ra trong quá trình hội nhập kinh tế.
Nếu hội nhập kinh tế diễn ra theo xu hướng hòa đồng các giá trị thì hội nhập văn hóa - vấn đề cốt tử là phải bảo tồn cho được các giá trị riêng biệt, đó chính là bản sắc văn hóa của dân tộc. Hội nhập văn hóa là sự thống nhất giữa “nhận” và “cho”. “Nhận” cái mới của nước ngoài và “cho” thế giới, đóng góp cho thế giới những điều đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Tức là, quá trình hội nhập, chúng ta không chỉ tiếp biến văn hóa nhân loại để làm giàu có thêm kho tàng văn hóa Việt Nam, mà văn hóa Việt Nam có thể đóng góp những giá trị đặc sắc của mình vào văn hóa chung của nhân loại. Văn hóa Việt Nam có đủ tầm vóc, bản lĩnh, tự tin để tham gia định hình những giá trị chung trong văn hóa của nhân loại. Đó là một nội dung quan trọng của tiến trình hội nhập văn hóa.
Giao lưu và hội nhập văn hóa có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển nền văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc. Nhưng hội nhập bao giờ cũng có hai mặt. Mặt tích cực là giao lưu và hội nhập sẽ giúp cho văn hóa mỗi dân tộc luôn phát triển, tiếp nhận được những tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác để bồi đắp thêm cho văn hóa của dân tộc mình, đồng thời, quảng bá được những giá trị văn hóa của dân tộc mình cho các dân tộc khác. Tuy nhiên, cùng với đó là nguy cơ “đồng hóa” các hệ giá trị, các chuẩn mực văn hóa dân tộc, đe dọa tính sáng tạo của các nền văn hóa dân tộc, dẫn đến tình trạng “vong bản”, thậm chí thủ tiêu các giá trị văn hóa dân tộc.
Bản sắc văn hóa của một dân tộc chính là cốt cách của dân tộc ấy. Cốt cách dân tộc là những phẩm chất tương đối ổn định và bền vững, bởi nó được hình thành và tồn tại trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc. Đồng thời, cốt cách dân tộc được thể hiện rất rõ ở lĩnh vực văn hóa, làm nên bản sắc văn hóa của dân tộc. Vì vậy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cũng chính là giữ gìn cốt cách của dân tộc. Một nền văn hóa giữ được cốt cách dân tộc sẽ là một nền văn hóa có đủ nội lực đề kháng, chống lại các cuộc “xâm lăng văn hóa” từ bên ngoài. Một nền văn hóa như vậy mới đủ tự tin và bản lĩnh để tiếp nhận chọn lọc những giá trị văn hóa của các dân tộc khác, “dân tộc hóa” những giá trị văn hóa nhân loại để đồng hành cùng nhân loại.
Trong quá trình giao lưu văn hóa hiện nay, sự xâm nhập, thẩm thấu các giá trị văn hóa ngoại lai vào nước ta diễn ra thông qua nhiều hình thức, con đường rất tinh vi, thông qua các loại hình nghệ thuật phức hợp. Chưa kể, đang có những âm mưu “xâm lăng” văn hóa, làm mờ nhòe ranh giới, làm “mù nhận thức” của người tiếp nhận. Nguy cơ ấy đòi hỏi dân tộc ta phải trang bị cho nền văn hóa truyền thống một sức đề kháng đủ mạnh, để cốt cách văn hóa Việt Nam thẩm thấu và di truyền vào con tim, khối óc, huyết quản,... của mỗi con dân nước Việt, để trong công cuộc hội nhập, văn hóa chỉ hòa nhập chứ không bị “hòa tan”.