🌑꧁༺S꙰áT꙰ T꙰H꙰ủ ÁN꙰H꙰ T꙰R꙰ăN꙰G꙰༻꧂🌑

Giới thiệu về bản thân

hello mình học lớp 9A1,tên thật của mình là Lê Phước Vinh,các bạn nào kb vs mình mà hay nhắn tin thì lưu ý đừng nên nhắn vs mình quá nhiều vì mình đang bận ôn thi vào 10 và cần thời gian để chơi GAME
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Giải bài toán GT:   cân tại   tại  .
 là trung điểm   đối xứng với   qua   (  là trung điểm  ).
 là trung điểm  .
KL:
a)   là hình chữ nhật.
b)   là hình bình hành.
c)   là hình bình hành.
d)   đồng quy.

a) Chứng minh tứ giác   là hình chữ nhật
  • Xét tứ giác   có:
    •  là trung điểm của đường chéo   (giả thiết).
    •  là trung điểm của đường chéo   (do   đối xứng với   qua  ).
  •  Tứ giác   là hình bình hành (vì có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường).
  • Mặt khác,   cân tại   có   là đường cao  .
  • Hình bình hành   có   nên là hình chữ nhật.
b) Chứng minh tứ giác   là hình bình hành
  • Vì   là hình chữ nhật (chứng minh câu a)   và  .
  • Vì   cân tại   có đường cao   đồng thời là đường trung tuyến   là trung điểm của  .
  • Từ đó ta có:   (vì  ) và   (cùng bằng  ).
  • Tứ giác   có một cặp cạnh đối vừa song song vừa bằng nhau nên là hình bình hành.
c) Chứng minh tứ giác   là hình bình hành
  • Xét  , có   lần lượt là trung điểm của  .
  •  là đường trung bình của  .
  •  và  .
  • Ta có   là trung điểm    . Do đó   và  .
  • Theo câu (b),   là hình bình hành   và  .
  • Xét tứ giác  :
    • Ta đã có   (hay  ). Tuy nhiên, cách dễ nhất là dùng vector hoặc tính chất bắc cầu:
    • Vì   là hình chữ nhật  .
    • Một cách khác: Trong hình bình hành  , gọi   là giao điểm của   và  . Vì   là trung điểm   và   là trung điểm  , ta có thể xét các đoạn thẳng tương ứng.
    • Cách đơn giản nhất:
      •  (đường trung bình).
      • Trong hình bình hành  .
      • Gọi   là giao điểm của   và  . Vì   là trung điểm   nên   đi qua trung điểm   của đường cao  .
      • Thực tế, xét tứ giác  :
        •  đối xứng với   qua  .
        •  là trung điểm   là trung điểm  .
        • Từ đó chứng minh được các cạnh đối song song và bằng nhau.
        • Cụ thể:   và   (dựa vào tính chất đường trung bình và hình chữ nhật).
d) Chứng minh ba đường thẳng   đồng quy
  • Xét hình bình hành   (đã chứng minh ở câu b).
  • Gọi   là giao điểm của hai đường chéo   và   là trung điểm của   và  .
  • Vì   là trung điểm của   (giả thiết) nên   trùng với  . Vậy   là trung điểm của  .
  • Xét  :
    •  là đường trung tuyến (vì   là trung điểm   - thực tế   nằm trên  ).
    • Tuy nhiên, hãy nhìn vào tứ giác   và   là hai cạnh đối song song.
    • Trong hình thang (hoặc hình bình hành) đặc biệt này:
    • Gọi   là giao điểm của   và  . Điều này không đúng vì  .
    • Lưu ý: Có lẽ đề bài có chút nhầm lẫn ở câu (d) hoặc hình vẽ. Trong hình bình hành   song song với  , nên chúng không thể đồng quy (cắt nhau tại 1 điểm) trừ khi chúng trùng nhau.
    • Nếu đề là   và  : Chúng sẽ đồng quy tại trung điểm mỗi đường.
    • Nếu đề là  : Chúng cũng có tính chất liên quan.
    • Kiểm tra lại: Nếu   đồng quy, thì điểm đồng quy phải là điểm vô tận (vì  ). Trong hình học phẳng thông thường, ta kết luận chúng song song với nhau (một dạng đồng quy tại vô tận). Cụ thể:   mà  .
Ghi chú: Ở câu (d), bạn nên kiểm tra kỹ lại đề bài xem có viết nhầm tên đường thẳng nào không nhé (ví dụ:  ). Nếu đúng như ảnh, thì  , nên ba đường này chỉ có thể "đồng quy" ở vô tận (tức là cùng song song hoặc có liên quan đặc biệt).
Cách 1: Rút về đơn vị
Trong 1 ngày, công ty đó sản xuất được số món đồ là:
Trong 15 ngày, công ty đó sản xuất được số món đồ chơi là:
Cách 2: Dùng phương pháp tỉ số (vì 15 gấp 5 lần 3)
15 ngày gấp 3 ngày số lần là:
Trong 15 ngày, công ty đó sản xuất được số món đồ chơi là:
Đáp số:   món đồ chơi.


1. Giải phương trình Answer: Không thể giải phương trình Phương trình trong hình ảnh là một biểu thức tổng quát sử dụng các từ thay thế (placeholder) thay vì các hàm số hoặc biến cụ thể. Để có thể giải phương trình này, cần cung cấp các hàm số hoặc biến số thực tế cần thay thế vào vị trí các từ placeholder. 2. Phân tích thành phần phương trình Answer: Cấu trúc phương trình Phương trình bao gồm hai phần chính:
  1. Tích phân xác định: ∫0∞placeholderdxintegral under-script 0 over-script infinity end-scripts placeholder space d x∞0placeholder𝑑𝑥biểu diễn diện tích dưới đường cong của hàm số được thay thế vào placeholder từ 000đến vô cùng.
  2. Tổng chuỗi: ∑placeholdersum placeholderplaceholderbiểu diễn tổng của một chuỗi các số hạng được thay thế vào placeholder.
Để một tích có chữ số 0 ở tận cùng, ta cần sự kết hợp của thừa số 2 và thừa số 5 ( ). Trong dãy số từ 1 đến 31, số lượng thừa số 2 rất nhiều, nên số chữ số 0 tận cùng sẽ phụ thuộc vào số lượng thừa số 5 xuất hiện trong tích. Các bước tính toán Ta liệt kê các số trong dãy chia hết cho 5:
  • Các số chia hết cho 5 là: 5, 10, 15, 20, 25, 30.
  • Phân tích các số này ra thừa số nguyên tố:
    •  (có 1 thừa số 5)
    •  (có 1 thừa số 5)
    •  (có 1 thừa số 5)
    •  (có 1 thừa số 5)
    •  (có 2 thừa số 5)
    •  (có 1 thừa số 5)
Kết quả Tổng số thừa số 5 có trong tích là:
Vậy tích   có tất cả 7 chữ số 0 ở tận cùng.

Nếu ý bạn muốn tính giá trị cụ thể của tích này, kết quả là một số rất lớn: 8,222,838,654,177,922,817,725,562,880,000,000
Chào bạn! Phép tính trong hình của bạn rất đơn giản, chúng mình cùng giải nhé. Dựa trên quy tắc ưu tiên phép tính (nhân chia trước, cộng trừ sau), ta có các bước sau: Bước 1: Thực hiện phép nhân
Bước 2: Thực hiện phép cộng

Kết quả cuối cùng:


Câu hỏi trong ảnh của bạn đề cập đến cảm hứng sáng tác của học giả Nguyễn Văn Huyên. Trong chương trình Ngữ văn hiện nay (đặc biệt là lớp 10, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống), văn bản tiêu biểu nhất của ông là "Nghệ thuật truyền thống của người Việt" (trích từ tác phẩm đồ sộ Văn minh Việt Nam). Dưới đây là những lý do và nguồn cảm hứng chính khiến Nguyễn Văn Huyên sáng tác văn bản này: 1. Ý thức tự tôn dân tộc và mong muốn khẳng định giá trị văn hóa Trong bối cảnh đất nước thời bấy giờ (văn bản được hoàn thành năm 1939), nhiều người phương Tây và cả một bộ phận người Việt có cái nhìn chưa đúng hoặc coi nhẹ giá trị văn hóa bản địa. Nguyễn Văn Huyên muốn dùng khoa học để:
  • Chứng minh bản sắc riêng: Khẳng định Việt Nam có một nền văn minh lâu đời, độc lập và không hề kém cạnh so với các dân tộc khác.
  • Xóa bỏ định kiến: Phản bác quan điểm cho rằng văn hóa Việt Nam chỉ là sự mô phỏng hay lệ thuộc hoàn toàn vào văn hóa Trung Hoa.
2. Tinh thần của một nhà trí thức yêu nước Ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Văn khoa tại Đại học Sorbonne (Pháp). Với vốn tri thức uyên bác tiếp thu được từ phương Tây, ông đã quay trở lại nghiên cứu chính dân tộc mình. Cảm hứng sáng tác bắt nguồn từ tình yêu quê hương sâu sắc và trách nhiệm của một nhà khoa học đối với việc bảo tồn di sản dân tộc. 3. Mục đích giáo dục và phổ biến tri thức Nguyễn Văn Huyên viết tác phẩm này không chỉ cho giới học giả mà còn nhằm:
  • Phác họa toàn cảnh đời sống: Từ cư trú, kiến trúc đến các loại hình nghệ thuật dân gian, giúp người đọc (đặc biệt là thế hệ trẻ) hiểu sâu sắc về "cá tính dân tộc".
  • Làm tài liệu giáo khoa: Thực tế, cuốn Văn minh Việt Nam ban đầu được viết như một cuốn giáo khoa để giảng dạy cho học sinh bậc trung học thời đó về văn hóa nước nhà.
Tóm lại Cảm hứng sáng tác của Nguyễn Văn Huyên đến từ sự kết hợp giữa tri thức khoa học hiện đại và lòng yêu nước nồng nàn, nhằm tôn vinh những giá trị tinh thần và nghệ thuật bền bỉ của người Việt qua hàng ngàn năm lịch sử.