Nguyễn Thảo Nhi
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Bài làm
"Di tích là ký ức của đất nước, bảo tồn di tích là gìn giữ linh hồn của dân tộc".Quả thật, di tích lịch sử không chỉ là những công trình cổ kính nhuốm màu thời gian mà còn là nơi lưu giữ ký ức, tâm hồn và bản sắc của cả một dân tộc. Mỗi viên gạch, mỗi dấu tích còn lại đều kể cho chúng ta nghe về những năm tháng hào hùng hoặc những câu chuyện văn hóa đầy ý nghĩa. Di tích lịch sử còn là nơi kết tinh tinh thần, ý chí và khát vọng của bao thế hệ cha ông. Khi đến thăm Văn Miếu – Quốc Tử Giám, ta không chỉ nhìn thấy một quần thể kiến trúc cổ kính mà còn cảm nhận sâu sắc truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo đã ăn sâu vào tâm hồn dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy nhiều di sản đang đứng trước nguy cơ bị tàn phá do tác động của thiên nhiên và sự vô ý thức của con người. Vì vậy, mỗi người, nhất là thế hệ trẻ, cần nâng cao nhận thức về giá trị của di sản, không xâm hại, vẽ bậy, hay làm hư hỏng các công trình. Việc bảo tồn di tích có ý nghĩa vô cùng quan trọng: nó giúp thế hệ trẻ hiểu rõ về cội nguồn, bồi đắp lòng tự hào và tự tôn dân tộc.Để làm được điều này, nhà nước cần có những chính sách trùng tu khoa học, tránh làm biến dạng di sản. Quan trọng hơn cả là mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức, không xâm hại hay viết vẽ bậy lên di tích khi tham quan. Bảo vệ di tích lịch sử là bảo vệ sợi dây kết nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, để những giá trị văn hóa mãi trường tồn cùng thời gian.”H’Hen Niê – Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2017 – là một hình ảnh truyền cảm hứng mạnh mẽ không chỉ bởi hành trình vươn lên từ khó khăn mà còn vì tình yêu và sự trân trọng của cô đối với bản sắc văn hóa dân tộc. Trong những giây phút cuối cùng của nhiệm kỳ hoa hậu cô đã chọn khoác lên mình bộ trang phục truyền thống của người Êđê hành động ấy không chỉ là biểu tượng của lòng tự hào dân tộc mà còn thể hiện tinh thần gìn giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa truyền thống trong thời đại hội nhập”.Từ đó ta thấy được mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nâng cao trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ các di tích lịch sử. Bảo vệ di tích không chỉ là giữ gìn những công trình vật chất, mà còn là bảo vệ cội nguồn, truyền thống và đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Câu 2:
Bài làm
Nguyễn Minh Châu:”Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”.Cuộc sống luôn tồn tại những nghịch lí: có khi con người sống giữa đủ đầy mà vẫn thấy trống rỗng, có lúc thời gian trôi rất nhanh nhưng lòng người lại đọng mãi những suy tư. Văn học, với khả năng chiêm nghiệm và phản ánh đời sống, thường khai thác những nghịch lí ấy để gửi gắm triết lí sâu xa về con người. Bài thơ “Đồng dao cho người lớn” của Nguyễn Trọng Tạo là một tác phẩm như vậy, giản dị về hình thức nhưng giàu suy tư về thời gian và thân phận:
“có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời
có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
.....................................................
mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.
1992”
Bài thơ “Đồng dao cho người lớn” của Nguyễn Trọng Tạo là một tác phẩm chứa đựng những suy tư sâu sắc về cuộc sống, về sự đối lập giữa những gì con người đang phải trải qua và những gì họ có thể nhìn nhận, cảm nhận về thế giới xung quanh:
“có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời
có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới”
Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh “có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi,” như một sự phản ánh về sự mâu thuẫn giữa cái chết và sự sống. Rừng có thể chết đi, nhưng trong tâm hồn mỗi người, những kỷ niệm, ký ức về quá khứ vẫn sống mãi. Đây là một biểu tượng của sự tồn tại vĩnh cửu của những giá trị tinh thần, mặc dù hình thức bên ngoài có thể tàn lụi. Tiếp theo, tác giả tiếp tục mô tả những nghịch lý trong cuộc sống qua các câu thơ như “có con người sống mà như qua đời” hay “có câu trả lời biến thành câu hỏi” .“Có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới” ,“Có cha có mẹ có trẻ mồ côi” những hình ảnh này như một lời phản ánh về sự giả dối, sự lừa dối trong các mối quan hệ.Những câu thơ này phác họa một thế giới đầy mâu thuẫn, nơi mà con người vẫn sống nhưng thiếu vắng niềm vui, thiếu sự chân thành, hay nơi mà các vấn đề tưởng đã được giải quyết lại tiếp tục mở ra những câu hỏi mới, chưa có lời đáp. Bài thơ còn mở rộng suy tư về thân phận:
“có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi
có cả đất trời mà không nhà cửa
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông”
Giữa không gian rộng lớn của đất trời, con người vẫn có thể cảm thấy lạc lõng. Niềm vui thì nhỏ bé, còn nỗi buồn lại dường như bao trùm. Những đối lập ấy làm nổi bật sự mong manh của kiếp người.
“ mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.”
Tuy nhiên, giữa tất cả, sự sống vẫn tiếp diễn: “mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ / mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió”. Điệp cấu trúc “mà… vẫn…” khẳng định dòng chảy bền bỉ của cuộc đời. Dẫu buồn vui, mất mát hay đổi thay, thiên nhiên và cuộc sống vẫn vận động không ngừng. Câu thơ kết “có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi” gợi cảm thức về thời gian: đời người ngắn ngủi, khoảnh khắc trôi qua nhanh như cái chớp mắt.
“Mỗi tác phẩm là một phát minh về hình thức và khám phá về nội dung”.Bài thơ sử dụng thể thơ tự do, không viết hoa đầu dòng, tạo cảm giác như một dòng suy tưởng liên tục. Điệp từ “có” được lặp lại nhiều lần tạo nhịp điệu dồn dập, vừa liệt kê vừa nhấn mạnh tính đa dạng, phức tạp của đời sống. Thủ pháp đối lập và nghịch lí được khai thác triệt để, làm nổi bật chiều sâu triết lí. Ngôn ngữ giản dị nhưng hàm súc, giàu tính gợi. Tác phẩm chứa đựng những suy tư sâu sắc về cuộc sống, về sự đối lập giữa những gì con người đang phải trải qua và những gì họ có thể nhìn nhận, cảm nhận về thế giới xung quanh.
“Đồng dao cho người lớn” không chỉ là lời suy tư về những nghịch lí cuộc đời mà còn nhắc nhở con người sống tỉnh thức hơn trước thời gian và những giá trị tinh thần. Bài thơ để lại dư âm lắng đọng, khiến người đọc phải nhìn lại chính mình giữa dòng chảy bất tận của cuộc sống.
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin
Câu 2. Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là: Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc
Câu 3. - Những dữ liệu mà tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu thứ cấp.
- Ví dụ chứng minh:
+ "Được xây dựng vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên dưới thời Tần Thủy Hoàng, cho tới nay, công trình kỳ vĩ nhất Trung Quốc này đã có tuổi đời hơn 2.300 năm" .
Câu 4. - Giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là: Hình ảnh Vạn Lý Trường Thành được cung cấp trong văn bản.
- Tác dụng:
+ Giúp văn bản thêm sinh động, gợi hình gợi cảm, thu hút, người đọc có thể hình dung và tưởng tượng được hình ảnh của Vạn Lý Trường Thành; giúp thông tin được truyền tải hiệu quả, sinh động hơn.
+ Thể hiện sự kì vĩ, to lớn, tuyệt đẹp, chiều dài lịch sử của phong cảnh Vạn Lý Trường Thành được bao quanh bởi cây cối.
+ Tác giả thể hiện thái độ trân trọng, kính mến và yêu quý kỳ quan này. Không chỉ vậy, tác giả còn truyển tải thông điệp sâu sắc: Hãy giữ vững, duy trì, bảo tồn những giá trị của Vạn Lý Trường Thành.
Câu 5.
- Văn bản "Những sự thật về Vạn Lý Trường Thành, “bức tường” bí ẩn nhất nhân loại" đã cho em thấy được những điều sau:
+ Trình bày khách quan, xác thực, dựa trên dữ liệu cụ thể, giúp người đọc tin tưởng vào thông tin được cung cấp.
+ Thông tin được cung cấp chi tiết, rõ ràng thông qua cách kể, tả, những dữ liệu được cung cấp làm cho đối tượng hiện lên sinh động, dễ hình dung.
+ Văn bản làm nổi bật vai trò, ý nghĩa của đối tượng trong đời sống: Thể hiện sự sáng tạo độc đáo đầy của con người,khả năng bền bỉ, sức khỏe kiên cường của những người đã tạo dựng lên nó. Nó còn là niềm tự hào của người Trung Quốc, là kỳ quan của thế giới đáng được tôn vinh và trân trọng.
+ Văn bản còn thể hiện quan điểm khách quan, thái độ yêu mến, trân trọng của người viết đối với đối tượng. Từ đó nhắc nhở mọi người nên bảo tồn, duy trì những giá trị còn xót lại, không nên phá hoại hay gạch bỏ nó.