Hà Thị Khánh Huyền
Giới thiệu về bản thân
Bài làm
Trong kỷ nguyên số và biến động không ngừng, tính sáng tạo chính là “tấm hộ chiếu” để thế hệ trẻ không bị bỏ lại phía sau. Sáng tạo không phải điều gì xa vời như phát minh ra tên lửa, mà bắt đầu từ việc dám nghĩ khác, dám làm khác trong học tập và cuộc sống. Với người trẻ, sáng tạo giúp biến kiến thức sách vở thành giải pháp: thay vì học thuộc lòng, ta tạo ra app học từ vựng; thay vì than phiền kẹt xe, ta nghĩ ra mô hình xe bus sông. Sáng tạo còn là vũ khí để khởi nghiệp, để cạnh tranh toàn cầu khi AI dần thay thế lao động lặp lại. Quan trọng hơn, nó nuôi dưỡng bản lĩnh: người sáng tạo không sợ sai, xem thất bại là dữ liệu để làm lại tốt hơn. Miền Tây từng “sáng tạo” ra chợ nổi để thích nghi sông nước, Gen Z hôm nay cũng phải sáng tạo để thích nghi với thế giới phẳng. Xã hội càng nhiều vấn đề thì càng cần những bộ óc không đi theo lối mòn. Vì vậy, rèn tính sáng tạo chính là rèn năng lực sống còn của tuổi trẻ.
Bài làm
Văn Nguyễn Ngọc Tư bao giờ cũng mặn mòi phù sa như chính mảnh đất Cà Mau. Trong Biển người mênh mông, qua Phi và ông Sáu Đèo, chị đã khắc họa trọn vẹn vẻ đẹp của con người Nam Bộ: nghèo mà tình, khổ mà nghĩa, lênh đênh mà thủy chung.
Phi – đứa con của sự lỡ làng nhưng giàu lòng tự trọng
Phi sinh ra đã mang bi kịch: đứa con ngoài ý muốn của thời cuộc. Ba nghi kị, má bỏ đi, chỉ còn ngoại cưu mang. Lớn lên trong định kiến “con không cha”, Phi không hư hỏng như người ta tưởng. Cậu học hết lớp 10, vừa học vừa làm, 33 tuổi vẫn lôi thôi nhưng chưa từng xin ai. Cái nghèo không làm Phi hèn. Chi tiết “ngoại rầy thì cầm mấy ngàn chạy đi cắt tóc” cho thấy cậu thương ngoại, biết điều, không cãi. Phi đại diện cho lớp trẻ miền Tây côi cút: thiếu vắng tình thân nhưng vẫn tự bươn chải, không đổ lỗi cho số phận. Ở Phi có chất “ngang” của dân Nam Bộ: ít nói, lầm lũi chịu đựng, nhưng sống có trước có sau. Vì thế ông Sáu Đèo mới tin mà gửi con bìm bịp – gửi cả niềm tin cuối đời.
Ông Sáu Đèo – người đàn ông Nam Bộ nghĩa tình đến tận cùng
Ông Sáu Đèo bước vào truyện chỉ với “bốn cái thùng các tông” và con bìm bịp. Cả đời ông là một chuyến đi: sống trên ghe, lang thang xứ này xứ nọ, rồi 40 năm đi bộ tìm vợ. “Dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, lội gần rã cặp giò” chỉ để nói một lời xin lỗi. Đó là cái tình của đàn ông Nam Bộ: ít lời, không văn hoa, nhưng đã thương thì thủy chung đến dại khờ. Ông nghèo, xỉn, có lúc nặng lời làm vợ bỏ đi, nhưng 40 năm sau vẫn đau đáu “qua có hơi nặng lời”. Chi tiết ông gửi con bìm bịp cho Phi vì “sợ có lúc giữa đường lăn ra chết, để con trời vật này lại không ai lo” vừa buồn cười vừa thương. Người Nam Bộ là vậy: với người dưng còn không nỡ bỏ, huống chi với vật, với người mình thương.
Gặp nhau giữa “biển người mênh mông”
Phi và ông Sáu Đèo đều là những mảnh đời trôi dạt. Họ không ruột rà máu mủ, nhưng lại nương tựa nhau bằng cái tình của người miền Tây: “qua tin tưởng chú em nhiều, đừng phụ lòng qua nghen”. Giữa thị xã xa lạ, căn nhà trọ chung vách thành nơi hai kẻ cô đơn sưởi ấm cho nhau. Nguyễn Ngọc Tư không tô hồng: cuộc đời họ vẫn khổ, ông Sáu đi biền biệt, Phi vẫn một mình với con bìm bịp. Nhưng chính cái khổ đó làm nổi bật vẻ đẹp: sống tử tế giữa biển người mênh mông, không bon chen, không lừa lọc.
Kết lại, Phi và ông Sáu Đèo là hai giọt nước chắt ra từ dòng sông Cửu Long. Họ nói ít, làm nhiều; nghèo vật chất nhưng giàu ân nghĩa. Qua họ, Nguyễn Ngọc Tư nhắc ta nhớ: cái gốc của người Nam Bộ không nằm ở ruộng lúa hay vườn trái, mà ở tấm lòng “thương nhau mà sống”. Giữa thời đại ai cũng vội, đọc lại trang văn này để thấy mình cần chậm lại, cần sống như Phi, như ông Sáu: có lỗi thì đi tìm để xin lỗi, có tin thì gửi gắm cho trọn.
1.
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin.
2
Sử dụng “cây bẹo”: treo hàng hoá lên sào cao để khách dễ nhìn thấy
Cách rao hàng “lạ“: treo lá lợp nhà để báo hiệu bán ghe
Âm thanh đa dạng: tiếng kèn bấm tay, kèn đạp chân và những lời ra ngọt ngào như “Ai ăn chè đậu đen …hôn?”
3:
Nêu tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản trên.Trả lời: Việc nhắc đến các địa danh (sông Cửu Long, Tiền Tây, Cần Thơ) giúp:Xác định rõ không gian, nguồn gốc của nét văn hóa được nói đến.Tăng độ tin cậy, tính xác thực cho thông tin.Gợi sự gần gũi và niềm tự hào về vùng đất miền Tây sông nước.
4:
Nêu tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản trên.Trả lời: Phương tiện phi ngôn ngữ ở đây chính là hình ảnh các loại hàng hóa treo trên cây bẹo và âm thanh của các loại kèn.Tác dụng: Giúp việc quảng bá hàng hóa trở nên trực quan, sinh động, truyền đạt thông tin nhanh chóng từ xa trong môi trường sông nước ồn ào mà không cần tốn sức rao bằng lời.
5.
Vai trò của chợ nổi đối với đời sống người dân miền Tây
Chợ nổi không chỉ là nơi mua bán, mà là “linh hồn” của văn hóa sông nước Nam Bộ. Với người miền Tây, chợ nổi có 4 vai trò không thể thay thế:
Huyết mạch kinh tế của vùng sông nước
Miền Tây chằng chịt kênh rạch, đường bộ trước đây chưa phát triển. Chợ nổi như Cái Răng, Phong Điền, Cái Bè trở thành đầu mối trung chuyển nông sản lớn nhất. Người dân chở lúa, trái cây, cá tôm từ vườn ra ghe, bán sỉ cho thương lái. “Treo gì bán nấy” trên cây bẹo giúp mua bán nhanh, không cần rao. Với nhiều hộ, cả gia đình sống luôn trên ghe, lấy chợ làm kế sinh nhai từ đời này sang đời khác.
Nơi lưu giữ bản sắc văn hóa đặc trưng
Chợ nổi là “bảo tàng sống” của văn hóa miệt vườn. Ở đây có đủ thứ: tiếng rao, tiếng máy nổ ghe, hủ tiếu gõ, cà phê kho trên sông. Lối sống phóng khoáng, nghĩa tình “mua bán thiệt thà, không thách giá” thể hiện rõ tính cách người Nam Bộ. Lễ hội cúng đình, đua ghe ngo cũng thường gắn với chợ nổi. Mất chợ nổi là mất một phần căn cước của người miền Tây.
Cầu nối cộng đồng, không gian sinh hoạt xã hội
Sáng sớm ra chợ nổi không chỉ để mua đồ, mà để gặp nhau. Người ta trao đổi tin tức mùa màng, cưới hỏi, ma chay trên sông. Ghe hàng xóm neo cạnh nhau chia mớ cá, trái bưởi. Với người già, ra chợ nổi là thói quen để đỡ buồn. Chợ nổi xóa nhòa khoảng cách giàu nghèo: đại gia đi du thuyền và dì Ba bán thơm đều ăn cùng tô bún riêu 15k trên sông.
Động lực phát triển du lịch, tạo sinh kế mới
20 năm nay, chợ nổi thành “đặc sản du lịch” của miền Tây. Khách Tây, khách Ta đều muốn 4h sáng lên ghe xem bình minh trên chợ Cái Răng. Du lịch giúp người dân chuyển từ nông dân sang làm dịch vụ: chở khách, làm homestay, bán đồ lưu niệm. Dù thu nhập từ du lịch chưa thay thế hoàn toàn nông nghiệp, nhưng nó giúp nhiều hộ trẻ bám trụ với sông nước, thay vì bỏ quê lên Bình Dương làm công nhân.
Thách thức hiện tại: Chợ nổi đang teo tóp dần. Đường sá tốt lên, siêu thị, thương lái mua tận vườn nên ghe thương hồ ít đi. Ô nhiễm kênh rạch, mai một tập quán cũng đe dọa chợ nổi. Cái Răng từ 500-600 ghe nay còn hơn 200.
Suy nghĩ cá nhân: Giữ chợ nổi không phải để “làm cảnh” cho du khách. Phải giữ vì đó là cách người miền Tây thích ứng với tự nhiên suốt 300 năm. Nhà nước cần quy hoạch luồng lạch riêng cho chợ, hỗ trợ vốn cho ghe thương hồ, xử lý ô nhiễm, và đưa chợ nổi vào giáo dục để con nít miền Tây biết tự hào. Mất chợ nổi, miền Tây sẽ chỉ còn là vựa lúa, không còn là “miền Tây” nữa.