Lại Minh Tâm
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:Trong truyện ngụ ngôn "Con Kiến và con Bồ Câu", nhân vật Kiến được khắc họa là một sinh vật nhỏ bé nhưng mang phẩm chất cao đẹp: biết ơn và nhanh trí. Khi gặp nạn, Kiến trân trọng sự giúp đỡ của Bồ Câu ("rất biết ơn"). Sự biết ơn đó không chỉ dừng lại ở suy nghĩ mà chuyển hóa thành hành động dũng cảm khi Kiến kịp thời đốt người thợ săn để cứu ân nhân. Dù nhỏ bé, Kiến đã chứng minh sự thông minh, quyết đoán và lòng thủy chung trong tình bạn, thể hiện triết lý "có qua có lại" và trân trọng tình nghĩa. Qua nhân vật Kiến, truyện ca ngợi lòng nhân ái, sự tử tế và bài học về việc sống biết ơn, biết đền ơn đáp nghĩa trong cuộc sống.
Câu 2:Việt Nam ta là một đất nước nghìn năm văn hiến với nền văn hóa đa dạng, giàu giá trị lịch sử vẫn và đang được bảo tồn qua nhiều thế hệ. Thông qua các lễ hội ở địa phương giúp chúng em hiểu biết nhiều hơn về quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Một trong những lễ hội thường được tổ chức ở địa phương em là hội Đền Cổ Loa vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch hàng năm.
Lễ hội đền Cổ Loa là một trong những lễ hội từ lâu đời của văn hóa Việt Nam. Hằng năm, khi ăn tết cổ truyền xong thì vào ngày mùng 6 tết người dân Đông Anh quê em lại nô nức tổ chức lễ hội đền Cổ Loa để tưởng công đức của vua An Dương Vương - Người có công thành lập nên nhà nước đầu tiên của nước ta.
Đền Cổ Loa hay còn gọi là thành Cổ Loa là điểm tham quan tại Hà Nội vốn được xây dựng dưới thời vua An Dương Vương với bao truyền thuyết ly kỳ và bi tráng của một thời kỳ lịch sử của dân tộc ta. Nơi đây lưu giữ biết bao giá trị lịch sử từ thời vua An Dương Vương để lại. Theo lời xưa thì ngày mùng 6 tháng giêng là ngày vua An Dương Vương nhập cung, sau đó 3 ngày là ngày mùng 9 thì lên ngôi vua và mở hội khao toàn bộ lực lượng quân binh, thế nên người dân cũng tổ chức lễ hội ăn mừng. Lễ hội đền Cổ Loa cũng xuất hiện từ đây và gìn giữ đến tận bây giờ.
Đền Cổ Loa là một chiến tích lịch sử đã chứng kiến một câu chuyện buồn về sự ngu muội của một nàng công chúa quá tin chồng nên đã đẩy để đất nước rơi vào tay giặc và là bài học về sự mất cảnh giác trong một vài thời khắc đã để lại hậu quả khôn lường. Song trải qua thời gian thì đền Cổ Loa vẫn là một niềm tự hào của dân tộc ta.
Lễ hội đền Cổ Loa nhằm giáo dục cho nhân dân về truyền thống uống nước nhớ nguồn đồng thời bảo tồn những hoạt động văn hóa di sản xưa và là một lễ hội lớn mà các bạn không nên bỏ qua để hiểu biết thêm về lịch sử nước nhà.
Như vậy, thông qua lễ hội đền Cổ Loa hàng năm đã cho chúng ta thấy được vai trò to lớn của lễ hội đối với việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc. Người xưa có câu: Trăm nghe không bằng một thấy. Chính vì vậy được đến tận nơi chiêm ngưỡng tòa thành cũng như tham gia vào các hoạt động của lễ hội sẽ giúp chúng ta dễ dàng khắc ghi những kiến thức lịch sử để từ đó lưu giữ và bảo tồn những truyền thống này tốt hơn.
Câu 1:
Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh minh họa (mặc dù trong ảnh chụp văn bản này không hiển thị rõ hình ảnh đi kèm, nhưng các bài báo online thường sử dụng hình ảnh hoặc sơ đồ). Trong ngữ cảnh văn bản hành chính/báo chí này hoặc các số liệu thống kê cũng có thể coi là phương tiện hỗ trợ.
Câu 2: Mục đích: Nhằm bảo tồn nét đẹp văn hóa độc đáo của cư dân vùng sông nước đã tồn tại lâu đời trên địa bàn huyện và tôn vinh truyền thống lịch sử.
Câu 3:Chi tiết: "Những chiếc thuyền độc mộc đã trở thành phương tiện vận chuyển lương thực, đưa hàng ngàn bộ đội ta cùng vũ khí đạn dược qua sông đánh giặc."
Cảm nhận: Chi tiết này cho thấy thuyền độc mộc không chỉ là một nét văn hóa mà còn là một "vũ khí" thầm lặng, biểu tượng cho lòng yêu nước và sự sáng tạo của người dân Tây Nguyên trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc.
Câu 4:Biện pháp tu từ: Liệt kê ("giữ gìn văn hóa", "tưởng nhớ anh hùng", "chở bộ đội, vật tư").
Tác dụng: Giúp nhấn mạnh và làm rõ những giá trị đa dạng của lễ hội: vừa có ý nghĩa văn hóa, vừa có ý nghĩa lịch sử sâu sắc, đồng thời bày tỏ sự trân trọng, tri ân đối với công lao của các thế hệ đi trước.
Câu 5: Bài học:
Cần có ý thức trân trọng và giữ gìn những nét đẹp văn hóa của dân tộc vì đó là cội nguồn và niềm tự hào.
Việc bảo tồn cần gắn liền với các hoạt động thực tế (như tổ chức lễ hội, hội thi) để văn hóa truyền thống luôn sống động và tiếp cận được với thế hệ trẻ cũng như du khách.
Gắn kết di sản văn hóa với việc giáo dục lòng yêu nước và truyền thống lịch sử cho cộng đồng.
Câu 1: Trong văn bản, hình ảnh hai vợ chồng người thầy bói hiện lên như những biểu tượng của sự tham lam và vô cảm. Thay vì thực hiện thiên chức dự báo hay giúp đỡ con người, họ coi nỗi đau và sự bế tắc của người khác là công cụ để trục lợi. Qua những lời phán mang tính trục lợi và thái độ giả tạo, tác giả dân gian đã phê phán gay gắt những kẻ sống dựa trên sự mê tín của cộng đồng. Sự xuất hiện của họ không chỉ làm tăng thêm bi kịch cho nhân vật chính mà còn phản ánh một mảng tối trong xã hội cũ, nơi đồng tiền có thể bóp méo đạo đức và lòng trắc ẩn.
Câu 2:Trong thời đại công nghệ số, mạng xã hội đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Tuy nhiên, một nghịch lý đang tồn tại: chúng ta càng kết nối nhiều trên không gian ảo, dường như lại càng cảm thấy lạc lõng trong đời thực. Tôi hoàn toàn tán thành với quan điểm: "Mạng xã hội khiến con người cô đơn hơn."
Trước hết, mạng xã hội tạo ra sự kết nối hời hợt. Những nút "Like" hay những dòng bình luận ngắn ngủi không thể thay thế cho ánh mắt, nụ cười và sự thấu cảm trong những cuộc trò chuyện trực tiếp. Con người mải mê xây dựng một hình ảnh hào nhoáng trên trang cá nhân nhưng lại đối mặt với sự trống rỗng khi buông điện thoại xuống. Chúng ta có hàng ngàn "bạn bè" ảo nhưng lại chẳng tìm được một người để tâm sự khi gặp khó khăn.
Thứ hai, mạng xã hội là nơi phô diễn những gì tốt đẹp nhất, đôi khi là giả tạo. Việc liên tục theo dõi cuộc sống dường như hoàn hảo của người khác dễ khiến chúng ta rơi vào trạng thái so sánh và tự ti. Cảm giác mình kém cỏi, thua thiệt so với bạn bè đồng trang lứa dẫn đến sự thu mình và cô lập về mặt cảm xúc.
Hơn nữa, mạng xã hội gây ra tình trạng "cô đơn trong đám đông". Thật không hiếm gặp hình ảnh một nhóm bạn ngồi cùng nhau nhưng mỗi người lại dán mắt vào một màn hình riêng. Sự hiện diện về mặt vật lý không đi kèm với sự kết nối về tâm hồn, khiến những mối quan hệ thực sự dần trở nên lỏng lẻo.
Tuy nhiên, mạng xã hội chỉ là công cụ. Nó khiến chúng ta cô đơn hay không phụ thuộc hoàn toàn vào cách ta kiểm soát nó. Để không trở thành "nạn nhân" của sự cô đơn số, mỗi người cần học cách cân bằng: bớt thời gian lướt web để dành thời gian cho gia đình, bạn bè và chính bản thân mình trong thế giới thực.
Tóm lại, mạng xã hội có thể mở ra cánh cửa đến với thế giới, nhưng chỉ có sự giao tiếp chân thành từ trái tim mới có thể lấp đầy khoảng trống của sự cô đơn.
Cuộc sống là một chặng đường dài đằng đẵng, đòi hỏi con người phải xây dựng kế hoạch và thực hiện công việc một cách có tổ chức để đạt được những mục tiêu, dự định. Thời gian để hiện thực hóa mục tiêu khác nhau, đôi khi nhanh chóng trong một khoảng thời gian xác định, đôi khi lại kéo dài suốt một thời gian đáng kể. Sự chênh lệch này không chỉ phụ thuộc vào sự định hình và cách thức thực hiện của con người mà còn chịu ảnh hưởng từ thói quen trì hoãn công việc.
"Công việc" không chỉ đơn thuần là những mục tiêu, dự định chúng ta cần đạt được mà còn là hành trình mà ta phải đi qua. "Trì hoãn" không chỉ là việc kéo dài, làm gián đoạn tiến độ công việc mà còn là một thói quen có thể tạo nên những hậu quả tiêu cực trong việc thực hiện những mục tiêu đó.
Cuộc sống luôn đầy biến động, và nhiều thay đổi bất ngờ có thể xảy ra ngoài ý muốn của chúng ta. Những sự thay đổi này có thể làm gián đoạn, buộc con người phải trì hoãn công việc để xử lý những vấn đề ngay lập tức. Ví dụ, học sinh có thể phải trì hoãn công việc học do những vấn đề như thời tiết, sức khỏe, hay phương tiện đi lại.
Tuy nhiên, trì hoãn do những biến động này chỉ là tạm thời. Thói quen trì hoãn công việc lại là một chuỗi các hành động lặp lại nhiều lần ở con người. Nó có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực như tâm lý ỷ lại, lười biếng, và sự ngần ngại trước công việc cần giải quyết. Thói quen này khiến con người lùi bước, trì hoãn công việc đến ngày mai, ngày kia, hoặc thậm chí là một khoảng thời gian không xác định nào đó.
Trì hoãn công việc tác động trực tiếp đến tiến độ và kết quả của công việc. Nó khiến công việc không hoàn thành đúng thời hạn, thậm chí làm mất cơ hội và điều kiện tốt để phát triển và khẳng định giá trị bản thân. Thói quen này còn tạo ra tính bê trễ, thiếu kỉ luật, và thiếu trách nhiệm.
Nếu duy trì thói quen xấu này, con người sẽ gặp khó khăn trong việc đạt được mục tiêu, bỏ lỡ những cơ hội quan trọng và không thể phát triển đúng tiềm năng của mình. Thói quen trì hoãn còn gây nên tính bê trễ, mất sự cố gắng, và giảm sút kĩ năng giải quyết vấn đề.
Trì hoãn không chỉ là một thói quen không tốt mà còn là một thách thức cần nhận thức và thay đổi. Đừng tạo điều kiện cho sự lười biếng và suy nghĩ không quyết đoán phát triển. Hãy nhận ra rằng thói quen trì hoãn có thể trở thành một vật cản trong hành trình đến với thành công và tiến bộ.
Câu 1.
Văn bản bàn về những tác động tiêu cực và mặt trái của việc lạm dụng/phụ thuộc vào công nghệ đối với đời sống, tư duy, kỹ năng và sự riêng tư của con người.
Câu 2. Xác định câu văn nêu ý kiến trong đoạn (2):
"Trước khi phụ thuộc vào công nghệ, người lao động chỉ làm việc 8 giờ một ngày trong 5 - 6 ngày một tuần." (Hoặc có thể hiểu ý kiến bao quát là: Công nghệ khiến cho công việc xâm nhập cả vào cuộc sống gia đình).
Câu 3.
a. Phép liên kết trong đoạn văn: Phép thế (từ "đó" thay thế cho cụm từ "8 giờ một ngày trong 5-6 ngày một tuần").
b. Phép liên kết chủ yếu giữa đoạn (1) và đoạn (2): Phép nối (sử dụng các từ ngữ mang tính chất tiếp nối ý tưởng về tác hại của công nghệ).
Câu 4. Nhận xét về ý nghĩa của bằng chứng tác giả sử dụng trong đoạn (4):
Các bằng chứng (về sự thông minh nhân tạo ghi lại cuộc trò chuyện, ngân hàng theo dõi thói quen chi tiêu...) rất cụ thể, xác thực và gần gũi. Chúng giúp tăng tính thuyết phục, làm rõ nhận định về việc công nghệ đang xâm phạm quyền riêng tư và trở thành công cụ theo dõi con người.
Câu 5. Thái độ của người viết được thể hiện như thế nào trong văn bản?
Người viết thể hiện thái độ lo ngại, phê phán và cảnh báo trước thực trạng con người đang quá lệ thuộc vào công nghệ, dần đánh mất bản sắc và những giá trị kết nối thực tế.
Câu 6. Giải pháp tạo sự gắn kết trong thời đại công nghệ (Gợi ý):
Thiết lập "vùng không công nghệ": Dành ra những khoảng thời gian cố định (như bữa cơm, trước khi đi ngủ) để tắt điện thoại và trò chuyện trực tiếp.
Ưu tiên gặp gỡ thực tế: Thay vì nhắn tin, hãy chủ động tổ chức các buổi đi chơi, dã ngoại để tăng tương tác trực tiếp.
Lắng nghe chủ động: Khi ở bên người thân, hãy thực sự lắng nghe thay vì vừa nói chuyện vừa lướt mạng xã hội.
Sử dụng công nghệ thông minh: Dùng công nghệ làm công cụ để kết nối (hẹn lịch gặp, gọi video cho người ở xa) thay vì để nó thay thế hoàn toàn các mối quan hệ đời thực.
Câu 1: Vai trò quan trọng của AI và các công nghệ mới trong việc hỗ trợ, tăng tốc độ cứu hộ cứu nạn và khắc phục hậu quả thiên tai.
Câu 2: Các số liệu thống kê (như cường độ động đất 7.8 độ Richter, số lượng người bị ảnh hưởng...) và hình ảnh minh họa.
Tác dụng: Giúp thông tin trở nên xác thực, cụ thể, tăng sức thuyết phục và giúp người đọc hình dung rõ mức độ nghiêm trọng của thảm họa.
Câu 3: Hình ảnh vệ tinh, hệ thống AI thị giác máy tính (xView2), mạng xã hội (Twitter/X, Facebook, WhatsApp) để thu thập thông tin và định vị nạn nhân.
Câu 4. Tác dụng của 01 phương tiện phi ngôn ngữ ở phần (1):
Phương tiện: Hình ảnh minh họa (về cảnh đổ nát hoặc hoạt động cứu hộ).
Tác dụng: Giúp người đọc dễ dàng hình dung sự khốc liệt của thảm họa và bối cảnh cần cứu hộ, làm cho thông tin trở nên trực quan, sinh động và tăng sức thuyết phục cho các luận điểm về việc cần ứng dụng công nghệ.
Câu 5. Hiệu quả của cách triển khai thông tin trong phần (2):
Cách triển khai: Liệt kê kết hợp với phân tích cụ thể (nêu tên các công nghệ như Mạng xã hội, phần mềm mã nguồn mở, hệ thống AI thị giác máy tính và ứng dụng của chúng).
Hiệu quả: Giúp người đọc nắm bắt thông tin một cách hệ thống, rõ ràng và chi tiết về các giải pháp công nghệ cụ thể đang được áp dụng, từ đó thấy được tính đa dạng và thiết thực của công nghệ trong cứu hộ.
Câu 6. Quan điểm về việc sử dụng AI hiệu quả và hợp lý:
Từ góc nhìn của một người trẻ, chúng ta nên sử dụng AI theo cách:
Chủ động và có chọn lọc: Coi AI là công cụ hỗ trợ để tối ưu hóa công việc và học tập (như tìm kiếm thông tin, phân tích dữ liệu), không nên phụ thuộc hoàn toàn hay để AI suy nghĩ thay mình.
Đề cao đạo đức và trách nhiệm: Sử dụng AI vào những mục đích nhân văn (như cứu hộ, học tập), không dùng để gian lận hay phát tán thông tin sai lệch.
Liên tục cập nhật kiến thức: Hiểu rõ nguyên lý hoạt động của AI để kiểm chứng tính xác thực của thông tin mà nó cung cấp.
Câu 1: Vai trò quan trọng của AI và các công nghệ mới trong việc hỗ trợ, tăng tốc độ cứu hộ cứu nạn và khắc phục hậu quả thiên tai.
Câu 2: Các số liệu thống kê (như cường độ động đất 7.8 độ Richter, số lượng người bị ảnh hưởng...) và hình ảnh minh họa.
Tác dụng: Giúp thông tin trở nên xác thực, cụ thể, tăng sức thuyết phục và giúp người đọc hình dung rõ mức độ nghiêm trọng của thảm họa.
Câu 3: Hình ảnh vệ tinh, hệ thống AI thị giác máy tính (xView2), mạng xã hội (Twitter/X, Facebook, WhatsApp) để thu thập thông tin và định vị nạn nhân.
Câu 4. Tác dụng của 01 phương tiện phi ngôn ngữ ở phần (1):
Phương tiện: Hình ảnh minh họa (về cảnh đổ nát hoặc hoạt động cứu hộ).
Tác dụng: Giúp người đọc dễ dàng hình dung sự khốc liệt của thảm họa và bối cảnh cần cứu hộ, làm cho thông tin trở nên trực quan, sinh động và tăng sức thuyết phục cho các luận điểm về việc cần ứng dụng công nghệ.
Câu 5. Hiệu quả của cách triển khai thông tin trong phần (2):
Cách triển khai: Liệt kê kết hợp với phân tích cụ thể (nêu tên các công nghệ như Mạng xã hội, phần mềm mã nguồn mở, hệ thống AI thị giác máy tính và ứng dụng của chúng).
Hiệu quả: Giúp người đọc nắm bắt thông tin một cách hệ thống, rõ ràng và chi tiết về các giải pháp công nghệ cụ thể đang được áp dụng, từ đó thấy được tính đa dạng và thiết thực của công nghệ trong cứu hộ.
Câu 6. Quan điểm về việc sử dụng AI hiệu quả và hợp lý:
Từ góc nhìn của một người trẻ, chúng ta nên sử dụng AI theo cách:
Chủ động và có chọn lọc: Coi AI là công cụ hỗ trợ để tối ưu hóa công việc và học tập (như tìm kiếm thông tin, phân tích dữ liệu), không nên phụ thuộc hoàn toàn hay để AI suy nghĩ thay mình.
Đề cao đạo đức và trách nhiệm: Sử dụng AI vào những mục đích nhân văn (như cứu hộ, học tập), không dùng để gian lận hay phát tán thông tin sai lệch.
Liên tục cập nhật kiến thức: Hiểu rõ nguyên lý hoạt động của AI để kiểm chứng tính xác thực của thông tin mà nó cung cấp.
Để có thể hòa nhập, thích ứng, sống và làm việc thành công trong cuộc sống hiện đại hôm nay, hành trang của bạn trẻ cần chuẩn bị nhiều thứ: tri thức, vốn văn hóa, ngoại ngữ, … đặc biệt là những kỹ năng sống cần thiết. Thiếu kỹ năng sống, thiếu kinh nghiệm làm việc, dễ bị lạm dụng, sống vô tâm là một thực trạng phổ biến trong giới trẻ ngày nay.
Trước hết, ta cần làm rõ khái niệm kĩ năng sống là gì?. "Kĩ năng sống" là những khả năng tương tác và thích nghi với hoàn cảnh, môi trường sống hay trước một tình huống nào đó được đặt ra trong cuộc sống. Đây là tập hợp tất cả các kĩ năng mà con người tiếp thu được, tích lũy được qua quá trình giáo dục và trải nghiệm trong thực tế khác quan như: kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng đồng cảm hoặc kĩ năng phục hồi tâm lý mà theo như UNICEF gọi đó là khả năng tâm lý – xã hội. Còn "kiến thức" là những tri thức, là vốn hiểu biết của con người được nghiên cứu, tích lũy trong sách vở, truyền từ đời này sang đời khác. Câu nói: việc rèn luyện kĩ năng sống cũng quan trọng như là tích lũy kiến thức khẳng định tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng sống; đồng thời cần cân bằng giữa việc tích lũy kiến thức và kĩ năng sống, học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, rèn luyện kiến thức gắn liền với rèn luyện các kĩ năng.
Kĩ năng sống có một vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống con người. Một con người có được những kĩ năng sống tốt sẽ thích nghi tốt hơn trong mọi hoàn cảnh sống, có thể ứng phó với mọi sự biến đổi bất thường trong cuộc sống, biến khó thành dễ, chuyển bại thành thắng, biến vất vả chông gai thành điều kiện, cơ hội. Chàng trai Nick Vujicic, một con người sinh ra đã thiếu tứ chi, ban đầu anh luôn mặc cảm về bản thân vì cho rằng mình chẳng giống ai, thậm chí là muốn kết thúc sự sống. Nhưng bằng sự động viên của cha mẹ và đặc biệt là sau khi đọc xong một bài báo viết về hình ảnh của một người cũng có hoàn cảnh như anh nên anh đã nỗ lực, vươn lên khẳng định mình trở thành một nhà diễn thuyết truyền cảm hứng sống và kĩ năng sống cho những con người thiếu may mắn như anh. Hay những cầu thủ U23 Việt Nam, nhờ tinh thần đoàn kết, kết hợp với kĩ năng hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, hiểu ý đồng đội trong quá trình thi đấu mà họ đã đem lại chiến thắng, đưa trận đấu vào trận chung kết của khu vực Châu Á 2018. Rèn luyện kĩ năng sống cũng giúp con người, đặc biệt là thế hệ trẻ có thể phát triển nhân cách, thể chất, tình cảm, giao tiếp, ngôn ngữ, tư duy một cách toàn diện, là nền tảng để giúp con người tự tin hơn trong cuộc sống. Về phương diện thể chất: giúp con người có sức khỏe tốt, cân đối, dẻo dai...; về phương diện tình cảm: bồi đắp cho con người tình yêu thương, sự sẻ chia, sự đoàn kết, gắn bó giữa con người với con người...; về phương diện ngôn ngữ và giao tiếp: giúp con người tự tin, giao tiếp hiệu quả, biết thuyết trình trước đám đông, biết lắng nghe, học hỏi mọi thứ xung quanh. Về phương diện tư duy nhận thức: kích thích sự sáng tạo, có những bước đột phá nhạy bén, đúng thời điểm cần thiết, năng động và dễ dàng ứng phó với mọi trở ngại bất thường. Ví dụ như ở Nhật Bản, một đất nước thường xuyên xảy ra động đất, núi lửa, sóng thần nên các trẻ em khi mới lớn lên đã được trang bị rất nhiều những kĩ năng sống để có thể chủ động ứng phó trước thiên tai, tự bảo vệ sự sống của mình trước những hiểm họa bất ngờ ập tới. Vì thế, những đứa trẻ đó thực sự rất tự tin trước những biến động của khí hậu, thời tiết thất thường.
Bên cạnh đó, rèn luyện kĩ năng sống cũng giúp cho con người sống có bản lĩnh, có ước mơ, có lí tưởng sống tích cực, dám nghĩ dám làm, biết chịu trách nhiệm trước hành vi sai trái của bản thân, sống giàu lòng vị tha, tình thương yêu bác ái...
Tuy nhiên, cũng cần thấy được mối quan hệ giữa rèn luyện kĩ năng sống và tích lũy kiến thức là hai mặt của một vấn đề, không thể có mặt này mà thiếu mặt kia. Nếu như kiến thức giúp con người có cơ sở lý luận khoa học, đúng đắn và chính xác trong nhìn nhận, đánh giá thì kĩ năng sống giúp cho con người trở nên kĩ xảo hơn, tinh tế, khéo léo hơn trong việc xử lí mọi tình huống bất kì nào đó được đặt ra. Trên thực tế có không ít người chỉ chăm lo tích lũy kiến thức mà quên đi việc trang bị cho mình những kĩ năng sống cần thiết hoặc ngược lại chỉ chú trọng tới kĩ năng sống mà bỏ bê việc trau dồi tri thức. Hậu quả là khó có thể bắt nhịp được với cuộc sống, luôn cảm thấy thiếu tự tin, không có hứng thú với cuộc sống, công việc của chính mình. Và hiện nay, có rất nhiều các bạn sinh viên, học sinh chỉ chú tâm vào bồi đắp kiến thức trên ghế nhà trường mà quên đi việc rèn luyện kĩ năng sống, tới khi va chạm với công việc, với những trải nghiệm thực tế thì cảm thấy ngại ngùng, lo lắng và thiếu niềm tin vào năng lực của bản thân mình. Hay cũng có những người chỉ biết quan tâm tới sự trải nghiệm thực tế với các kĩ năng sống của riêng mình mà quên đi việc tôi luyện kiến thức, dẫn tới sự vênh lệch về phát triển và hoàn thiện nhân cách của chính mình.
Vì thế, con người cần phải tự quăng mình ra ngoài xã hội. Hãy biết cách biến những lý luận khô khan trên trang sách thành những trải nghiệm thực tế khách quan để thấy được tính thực tiễn của chúng. Mặt khác cũng không nên chỉ chú trọng vào những kĩ năng sống, chỉ phục vụ cho nghề nghiệp chuyên môn của mình mà cần hình thành và rèn luyện các kĩ năng sống phong phú khác cần thiết để có thể đáp ứng được mọi tình huống, mọi vấn đề được đặt ra. Bởi cuộc sống vốn "đa sự, đa đoan" rất phong phú và phức tạp.
Tóm lại, rèn luyện kĩ năng sống và tích lũy kiến thức có một vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng, cần thiết. Đặc biệt với thời đại xã hội phát triển như bây giờ thì lại càng đòi hỏi con người cần trang bị cho mình kiến thức, kĩ năng sống gắn với những năng lực tương thích lại càng lớn hơn. Có như vậy thì mới bắt kịp được với xu thế thời đại, khẳng định vị thế của bản thân đối với mọi người xung quanh.
Câu 1: Văn bản tập trung bàn về vấn đề gì?
Văn bản bàn về vai trò và tầm quan trọng của lòng kiên trì trong việc vượt qua khó khăn để đi đến thành công.
Câu 2: Xác định câu văn nêu luận điểm ở đoạn (2)
Câu văn nêu luận điểm là: "Kiên trì là cầu nối để thực hiện lí tưởng, là bến phà và là nấc thang dẫn đến thành công."
Câu 3:
a.Câu 1: Văn bản tập trung bàn về vấn đề gì?
Văn bản bàn về vai trò và tầm quan trọng của lòng kiên trì trong việc vượt qua khó khăn để đi đến thành công.
Câu 2: Xác định câu văn nêu luận điểm ở đoạn (2)
Câu văn nêu luận điểm là: "Kiên trì là cầu nối để thực hiện lí tưởng, là bến phà và là nấc thang dẫn đến thành công."
Câu 3:
a. Xác định 01 phép liên kết trong đoạn văn:
Phép nối: Sử dụng từ ngữ nối "Tuy nhiên" để liên kết câu thứ nhất với câu thứ hai.
b. Xác định 01 phép liên kết trong đoạn văn:
phép lặp : lặp lại từ "kiên trì" để duy trì chủ thể và tính mạch lạc cho đoạn văn
Câu 4: Tác dụng của cách mở đầu văn bản
Cách mở đầu văn bản bằng việc nêu lên một thực tế tâm lý thường gặp ("cảm thấy muốn từ bỏ") giúp:
Tạo sự gần gũi: Chạm đúng tâm trạng của người đọc, khiến vấn đề trở nên thiết thực.
Dẫn dắt tự nhiên: Làm đòn bẩy để khẳng định tầm quan trọng của lòng kiên trì ở các câu tiếp theo.
Câu 5: Nhận xét về bằng chứng tác giả dùng trong đoạn (2)
Tính thuyết phục: Các bằng chứng mang tính khái quát cao, nhấn mạnh vào các phẩm chất đi kèm như "kiên nhẫn", "nhẫn nại", "chăm chỉ" và "tận tâm".
Sức gợi: Giúp người đọc hình dung rõ ràng rằng kiên trì không chỉ là chờ đợi mà là một quá trình nỗ lực hành động bền bỉ.
Câu 6:
Trong cuộc sống, khó khăn là điều không thể tránh khỏi, nhưng lòng kiên trì chính là "chìa khóa" để mở cánh cửa thành công. Bản thân tôi từng gặp thất bại lớn khi học một môn năng khiếu và đã có lúc muốn buông xuôi. Thế nhưng, chính việc tự nhủ phải cố gắng thêm một chút mỗi ngày đã giúp tôi đạt được kết quả ngoài mong đợi. Đúng như tác giả đã nhận định, nếu giữ vững ý chí, chúng ta hoàn toàn có thể xuyên thủng mọi rào cản. Lòng kiên trì không chỉ giúp ta đạt mục tiêu mà còn rèn luyện cho ta bản lĩnh sắt đá trước sóng gió cuộc đời. Đừng bao giờ bỏ cuộc, vì thành quả ngọt ngào nhất luôn dành cho những người bền bỉ nhất.
Câu 1.
Thời gian trong truyện không xác định cụ thể, mang tính chung chung (chỉ nói “một hôm”), đây là đặc điểm thường gặp của truyện ngụ ngôn.
Câu 2.
Điểm chung của hai nhân vật chính:
Đều là người khiếm khuyết về giác quan (chồng đui, vợ điếc) và đều nhận thức phiến diện, chủ quan, không chịu lắng nghe nhau.
Câu 3.
Sự kiện chính trong truyện:
suy raHai vợ chồng thầy bói gặp một đám ma rồi tranh cãi gay gắt vì mỗi người chỉ nhận biết được một phần (vợ thấy cờ, chồng nghe trống) và cho rằng mình đúng.
Câu 4.
Đề tài của truyện: Phê phán cách nhìn nhận sự việc phiến diện, chủ quan của con người.
Căn cứ: Truyện xoay quanh việc hai vợ chồng, do hạn chế của bản thân, chỉ nhận thức một phần sự việc nhưng lại khẳng định đó là toàn bộ sự thật, từ đó dẫn đến tranh cãi vô lý.
Câu 5.
Em đồng ý với ý kiến trên. Trong cuộc sống, mỗi người có một góc nhìn và hiểu biết khác nhau nên nếu không biết lắng nghe, ta dễ hiểu sai sự việc. Việc tôn trọng ý kiến của người khác giúp ta có cái nhìn toàn diện và chính xác hơn. Chẳng hạn, khi làm việc nhóm, nếu chỉ khăng khăng bảo vệ ý kiến cá nhân mà không tiếp thu góp ý, công việc sẽ khó đạt kết quả tốt. Ngược lại, khi biết lắng nghe và trao đổi, mọi người sẽ tìm ra giải pháp hợp lý hơn. Vì vậy, lắng nghe và tôn trọng người khác là điều rất cần thiết.