Huấn Thành Hưng
Giới thiệu về bản thân
*Câu 1.* Văn bản tập trung bàn về vai trò, ý nghĩa của lòng kiên trì và cách để rèn luyện, giữ vững lòng kiên trì trong cuộc sống. *Câu 2.* Câu văn nêu luận điểm ở đoạn (2): _Kiên trì là cầu nối để thực hiện lí tưởng, là bến phà và là nấc thang dẫn đến thành công._ *Câu 3.* a. Phép liên kết trong đoạn văn: Phép nối - dùng từ nối "Tuy nhiên" để liên kết 2 câu, thể hiện quan hệ tương phản. b. Phép liên kết trong đoạn văn: Phép lặp - lặp từ "kiên trì", "nỗ lực", "mục tiêu" để liên kết câu trước với câu sau. *Câu 4.* Tác dụng của cách mở đầu văn bản: - Đi thẳng vào vấn đề, khẳng định ngay tầm quan trọng của lòng kiên trì. - Nêu khái quát vai trò của kiên trì: đạt thành công, vượt khó khăn → tạo định hướng cho toàn bài. - Tạo tính thuyết phục, thu hút người đọc tiếp tục theo dõi lập luận. *Câu 5.* Nhận xét về bằng chứng trong đoạn (2): - Bằng chứng tiêu biểu, có thật: câu chuyện Thomas Edison thử nghiệm hơn 1000 lần mới phát minh ra bóng đèn. - Có sức thuyết phục cao vì Edison là nhà phát minh lỗi lạc, nổi tiếng toàn thế giới. - Làm sáng rõ luận điểm "kiên trì dẫn đến thành công", giúp người đọc tin vào giá trị của kiên trì. *Câu 6.* Đoạn văn 5-7 câu: Em hoàn toàn đồng ý rằng giữ vững lòng kiên trì sẽ giúp ta vượt qua trở ngại để đạt mục tiêu. Hồi lớp 6, em rất sợ môn Toán hình vì không tưởng tượng được không gian. Điểm kiểm tra đầu tiên em chỉ được 4. Thay vì bỏ cuộc, em kiên trì mỗi ngày làm thêm 3 bài, xem video giảng lại, hỏi thầy cô những chỗ không hiểu. Có những hôm bài khó, em ngồi 2 tiếng mới xong nhưng vẫn không nản. Sau 2 tháng, em đã hiểu cách vẽ hình phụ, nhìn ra hướng giải nhanh hơn. Cuối học kì, em đạt 9 điểm môn Toán và còn được chọn vào đội tuyển. Nhờ kiên trì, em đã biến môn học mình sợ nhất thành môn học yêu thích.
*Nghị luận phản đối quan điểm: “Với học sinh, kĩ năng sống không quan trọng như tri thức”* Trong hành trình trưởng thành, tri thức và kĩ năng sống giống như hai chân để mỗi học sinh vững bước vào đời. Vậy mà vẫn có ý kiến cho rằng: “Với học sinh, kĩ năng sống không quan trọng như tri thức”. Tôi hoàn toàn phản đối quan điểm này, bởi nếu tri thức là ngọn đèn soi đường thì kĩ năng sống chính là đôi tay cầm đèn, giúp ta đi qua bóng tối một cách an toàn. Thứ nhất, tri thức chỉ thực sự phát huy giá trị khi được đặt trong tay người biết vận dụng. Một học sinh thuộc lòng công thức Hóa học nhưng lúng túng khi xử lý bình thí nghiệm bị đổ, hoặc giỏi Văn nhưng không dám đứng thuyết trình trước lớp, thì tri thức ấy vẫn nằm im trên giấy. Kĩ năng sống như tư duy phản biện, giao tiếp, quản lý thời gian, xử lý tình huống mới giúp biến kiến thức thành hành động. Thế giới hiện đại không trả lương cho người “biết nhiều”, mà cho người “làm được việc”. Thứ hai, trường học không phải pháo đài tách biệt với đời sống. Áp lực thi cử, mâu thuẫn bạn bè, cám dỗ mạng xã hội, bạo lực học đường… là những “bài kiểm tra” không có trong sách giáo khoa. Nếu thiếu kĩ năng kiểm soát cảm xúc, giải quyết xung đột, tự bảo vệ bản thân, học sinh dù đạt điểm 10 vẫn có thể gục ngã trước cú sốc đầu đời. Thực tế nhiều vụ việc đau lòng xuất phát từ việc các em giỏi tri thức nhưng “mù” kĩ năng sống, dẫn đến hành vi bồng bột, thiếu suy xét. Thứ ba, mục tiêu cuối cùng của giáo dục là đào tạo con người toàn diện, chứ không phải “cỗ máy giải đề”. UNESCO đã xác định bốn trụ cột giáo dục thế kỷ 21: Học để biết, Học để làm, Học để chung sống, Học để tự khẳng định mình. Trong đó, chỉ “Học để biết” gắn trực tiếp với tri thức, ba trụ cột còn lại đều đòi hỏi kĩ năng sống. Nếu coi nhẹ kĩ năng sống, chúng ta vô tình đào tạo những “tiến sĩ giấy” – giàu chữ nghĩa nhưng nghèo năng lực thích nghi. Có người biện minh rằng học sinh chỉ cần lo học, lớn lên tự khắc có kĩ năng. Đây là suy nghĩ nguy hiểm. Kĩ năng sống giống như bơi lội: không thể đợi đến lúc rơi xuống nước mới học. Tuổi học trò là “giai đoạn vàng” để rèn thói quen, hình thành nhân cách. Một đứa trẻ biết lắng nghe, biết hợp tác, biết đứng dậy sau điểm kém sẽ trở thành người lớn bản lĩnh. Ngược lại, thiếu nền tảng kĩ năng từ sớm, sau này dù có nhồi nhét khóa học đắt tiền cũng khó thay đổi. Dĩ nhiên, phản đối việc xem nhẹ kĩ năng sống không đồng nghĩa hạ thấp tri thức. Tri thức là nền móng, kĩ năng sống là khung nhà. Không có móng, nhà đổ; không có khung, móng chỉ là khối bê tông vô dụng. Điều cần thiết là sự cân bằng. Nhà trường nên tích hợp kĩ năng sống vào từng tiết học: dạy Toán qua quản lý chi tiêu, dạy Văn qua tranh biện, dạy Sinh qua sơ cứu. Gia đình cần trao quyền cho con tự quyết việc nhỏ, thay vì làm thay mọi thứ. Tóm lại, đặt kĩ năng sống dưới tri thức là cách nhìn phiến diện, đi ngược yêu cầu của xã hội hiện đại. Với học sinh, tri thức giúp các em “biết”, còn kĩ năng sống giúp các em “sống được” và “sống tốt” với điều mình biết. Chúng ta không thể chọn một trong hai, bởi giáo dục đúng nghĩa là chuẩn bị cho học sinh cả một cái đầu đầy kiến thức và một đôi tay đủ vững vàng để đi hết những con đường chưa có trên bản đồ.
*Thánh Gióng* Đời Hùng Vương thứ sáu Giặc Ân sang nước ta Dân làng lo sợ quá Cầu người tài cứu nhà Có cậu bé ba tuổi Chẳng biết nói biết cười Nghe sứ rao tìm tướng Bỗng cất tiếng gọi mời "Về mời sứ giả đến Ta đánh giặc cho xem" Mẹ mừng chạy báo gấp Sứ vào gặp cậu em Cậu xin cơm ăn khỏe Xin ngựa sắt áo giáp Ăn mấy nong cơm trắng Vươn vai hóa tráng nam Ngựa hí vang một tiếng Phun lửa cháy quân thù Gióng cầm roi sắt vụn Đánh tan giặc khắp khu Giặc thua chạy tán loạn Roi gãy nhổ tre ngà Quét sạch bóng quân dữ Nước nhà lại thái hòa Đánh xong Gióng cởi giáp Lên núi Sóc một mình Cả người cùng ngựa sắt Bay thẳng tới trời xanh Dân lập đền thờ cúng Nhớ ơn đức Thánh Gióng Gương yêu nước sáng ngời Muôn đời con cháu trọng Bạn muốn mình kể chuyện nào khác không? "Tấm Cám", "Sự tích Hồ Gươm", hay chuyện cổ tích khác cũng được.