Lê Ngọc Anh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 : Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm.
Câu 2 : Văn bản thể hiện sự suy ngẫm sâu sắc về việc con người, đôi khi vô tình hay hữu ý, đã gây ra những tổn thương cho vạn vật, thiên nhiên và cả những người xung quanh; từ đó thức tỉnh ý thức về sự sống, lòng bao dung và trách nhiệm nâng niu cuộc sống.
Câu 3 :
Biện pháp tu từ: liệt kê và nhân hóa
tác dụng: Việc liệt kê hàng loạt các sự vật thiên nhiên cùng với phép nhân hóa (gán cho chúng những tính cách, hành động của con người như: "tha thứ", "độ lượng", "nhẫn nhịn", "bao dung") nhằm nhấn mạnh sự rộng lớn, bao dung vô điều kiện của tự nhiên. Dù bị con người làm tổn thương, thiên nhiên vẫn lặng lẽ đón nhận và tha thứ. Điều này tạo nên sự đối lập tương phản gay gắt với sự thô bạo của con người, từ đó làm nổi bật thông điệp về lòng trắc ẩn.
Câu 4
Tác giả nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” bởi vì: Đó là một sự ẩn dụ cho những trải nghiệm đau đớn, vấp ngã hoặc những hậu quả mà chính ta phải chịu đựng trong cuộc sống. Chỉ khi tự mình nếm trải nỗi đau . con người mới thực sự “giật mình”, thức tỉnh và thấu hiểu rằng mọi hành động làm tổn thương kẻ khác hay vạn vật đều để lại hậu quả, đều gây ra nỗi đau. Nỗi đau cá nhân trở thành bài học để ta biết sống tử tế và biết ơn hơn.
câu 5
bài học thông điệp"Sống "nâng niu" không có nghĩa là sống yếu đuối, mà là sống bằng một tâm hồn tinh tế, biết cảm nhận được nỗi đau của vạn vật. Khi ta biết cách làm cho thế giới xung quanh bớt "rỉ máu", chính tâm hồn ta cũng sẽ trở nên bình yên và giàu có hơn."
câu 1
Trong dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, con người dễ dàng rơi vào lối sống thực dụng mà quên đi rằng, chúng ta không tồn tại biệt lập mà luôn cộng hưởng cùng vạn vật. Yêu thương vạn vật từ nhành cây, ngọn cỏ đến những sinh linh bé nhỏ không chỉ là một cử chỉ nhân đạo mà còn là thước đo văn hóa của một tâm hồn tử tế. Khi ta biết nâng niu một bông hoa, ta học được sự trân trọng cái đẹp,khi ta biết bảo vệ một dòng sông, ta học được ý thức trách nhiệm với sự sống chung. Yêu thương vạn vật giúp trái tim con người trở nên mềm mại, tinh tế hơn, biết cảm nhận được nỗi đau của những gì mong manh nhất, từ đó hình thành lòng trắc ẩn sâu sắc. Một người biết yêu thương vạn vật sẽ không bao giờ tàn phá môi trường hay thờ ơ trước những tổn thương của kẻ khác. Ngược lại, sự vô cảm và thô bạo chính là lưỡi dao tự cắt đứt mối liên kết thiêng liêng giữa con người và thế giới. Sống yêu thương không đòi hỏi những điều to tát, mà bắt đầu từ những hành động nhỏ bé: một bước chân nhẹ nhàng hơn trên cỏ, một bàn tay không bẻ cành, hay sự tử tế với những loài vật quanh mình. Khi biết yêu thương vạn vật, chúng ta không chỉ mang lại sự bình yên cho thế giới, mà còn đang tự chữa lành và bồi đắp cho tâm hồn chính mình.
Câu 2
Trong thơ ca kháng chiến chống Pháp, Hoàng Cầm nổi lên như một thi sĩ của vùng Kinh Bắc với hồn thơ thấm đẫm tình yêu quê hương đất nước. Bài thơ "Bên kia sông Đuống" không chỉ là khúc ca về sự mất mát, đau thương mà còn là lời tự sự đầy ám ảnh về sự biến đổi kinh hoàng của quê hương khi giặc tràn về. Đoạn thơ trích dẫn đã vẽ nên một bức tranh đối lập đầy bi tráng giữa vẻ đẹp thanh bình trong quá khứ và thực tại tang thương, điêu tàn.
Mở đầu đoạn thơ, Hoàng Cầm đưa người đọc về với miền quê Kinh Bắc trong ký ức tươi đẹp: "Bên kia sông Đuống/ Quê hương ta lúa nếp thơm nồng/ Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp". Chỉ bằng vài nét vẽ, thi sĩ đã gợi lên một không gian đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. "Lúa nếp thơm nồng" gợi sự no đủ, ấm áp; "tranh Đông Hồ" với nét vẽ "tươi trong" hay "giấy điệp" là biểu tượng của tinh hoa văn hóa truyền thống. Đó là một quê hương trù phú, bình yên và giàu sức sống, nơi cái đẹp được nâng niu và màu sắc dân tộc luôn "sáng bừng".
Thế nhưng, bức tranh ấy bỗng chốc vỡ vụn khi bóng tối của chiến tranh ập đến: "Quê hương ta từ ngày khủng khiếp/ Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn". Hai tiếng "khủng khiếp" như một tiếng nấc nghẹn, một sự bàng hoàng trước tội ác của kẻ thù. "Ngùn ngụt lửa hung tàn" là hình ảnh đầy ám ảnh về sự hủy diệt, gieo rắc chết chóc và nỗi đau.
Sự biến đổi ấy được nhà thơ cụ thể hóa bằng những hình ảnh xót xa: "Ruộng ta khô/ Nhà ta cháy/ Chó ngộ một đàn/ Lưỡi dài lê sắc máu/ Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang". Những câu thơ ngắn, nhịp điệu dồn dập như tiếng tim đập thổn thức, như hơi thở gấp gáp của một vùng quê đang oằn mình trong lửa đạn. Hình ảnh con chó ngộ "lưỡi dài lê sắc máu" là một ẩn dụ rùng rợn về sự hung bạo của lũ cướp nước, biến cảnh quê hương trở nên hoang phế, "kiệt cùng" trong cái chết và nỗi đau.
Đỉnh điểm của sự tan tác chính là hình ảnh biểu tượng văn hóa bị hủy hoại: "Mẹ con đàn lợn âm dương/ Chia lìa trăm ngả/ Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã/ Bây giờ tan tác về đâu?". Bức tranh "Đàn lợn âm dương" hay "Đám cưới chuột" – vốn là những hình ảnh rộn rã, tưng bừng của sự sống và niềm tin của người dân – nay đã trở thành những mảnh vụn của cuộc đời. Việc sử dụng nghệ thuật đối lập giữa cái "rộn rã" của quá khứ và sự "tan tác" của hiện tại đã đẩy nỗi đau lên đến tận cùng. Câu hỏi tu từ "Bây giờ tan tác về đâu?" như một tiếng khóc than vang vọng, gửi gắm niềm xót xa vô hạn của nhà thơ trước cảnh quê hương bị giặc tàn phá đến tận cùng gốc rễ.
Tóm lại, đoạn thơ là một bản cáo trạng đanh thép về tội ác của giặc và là tiếng lòng đầy bi thiết của Hoàng Cầm. Bằng bút pháp giàu hình ảnh, nhịp điệu biến hóa linh hoạt, đoạn thơ đã giúp người đọc cảm nhận rõ rệt sự đối lập giữa một quê hương tươi đẹp, giàu bản sắc với một quê hương bị chiến tranh xé nát. Qua đó, ta thấy được tình yêu quê hương tha thiết và tấm lòng đau đáu, trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của tác giả.