Giàng Thanh Thúy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Giàng Thanh Thúy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Bài làm:

Bài thơ “Ca sợi chỉ” của Hồ Chí Minh là một tác phẩm ngắn gọn nhưng chứa đựng ý nghĩa sâu sắc về sức mạnh của sự đoàn kết. Bài thơ được viết theo thể thơ giản dị, lời lẽ mộc mạc, dễ hiểu. Hình ảnh sợi chỉ trong bài thơ ban đầu hiện lên thật nhỏ bé, yếu ớt: “Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời”. Qua đó, tác giả gợi lên sự mong manh của một cá thể khi tồn tại riêng lẻ. Tuy nhiên, khi nhiều sợi chỉ được kết lại với nhau, chúng có thể trở nên bền chắc và tạo thành những tấm vải rộng lớn. Hình ảnh ấy mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc: mỗi con người tuy nhỏ bé nhưng khi biết gắn bó, đoàn kết với nhau thì sẽ tạo nên sức mạnh to lớn. Qua bài thơ, Hồ Chí Minh không chỉ ca ngợi giá trị của tinh thần đoàn kết mà còn gửi gắm một bài học nhân sinh ý nghĩa. Trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, nếu mỗi cá nhân biết chung sức, đồng lòng thì sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Với hình ảnh giản dị nhưng giàu tính biểu tượng, “Ca sợi chỉ” đã để lại trong lòng người đọc bài học sâu sắc về sức mạnh của sự gắn kết và tinh thần tập thể.

Câu 2:

Bài làm:

Sự đoàn kết từ lâu đã trở thành một giá trị quý báu của con người và của cả dân tộc. Trong cuộc sống, con người không thể tồn tại và phát triển một cách đơn lẻ, mà luôn cần sự gắn bó, hợp tác với những người xung quanh. Vì vậy, đoàn kết giữ vai trò vô cùng quan trọng, tạo nên sức mạnh giúp cá nhân và cộng đồng vượt qua khó khăn, đạt được những mục tiêu lớn lao.

Đoàn kết có thể hiểu là sự gắn bó, chung sức, đồng lòng giữa các cá nhân trong một tập thể nhằm hướng tới một mục tiêu chung. Khi con người biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, biết hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau thì sức mạnh của tập thể sẽ được nhân lên gấp bội. Một người riêng lẻ có thể yếu ớt, nhưng khi nhiều người cùng hợp sức, họ có thể tạo nên những thành quả to lớn. Chính vì thế, đoàn kết luôn được xem là nguồn sức mạnh to lớn của con người.

Trong thực tế, vai trò của sự đoàn kết thể hiện rất rõ ràng. Trước hết, đoàn kết giúp con người vượt qua khó khăn và thử thách. Khi gặp trở ngại, nếu mỗi người cùng chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau thì mọi vấn đề sẽ được giải quyết dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, đoàn kết còn tạo nên sức mạnh để xây dựng và phát triển xã hội. Lịch sử dân tộc Việt Nam là minh chứng rõ ràng cho điều này. Nhờ tinh thần đoàn kết của toàn dân mà đất nước đã vượt qua nhiều cuộc chiến tranh gian khổ, giành được độc lập và tự do. Không chỉ trong chiến tranh, trong thời bình, sự đoàn kết cũng góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế, xây dựng cộng đồng văn minh, tiến bộ.

Ngày nay, vai trò của sự đoàn kết càng trở nên quan trọng trong bối cảnh xã hội không ngừng biến đổi. Khi con người biết hợp tác, chia sẻ kiến thức và cùng nhau sáng tạo, những thành tựu lớn lao sẽ được tạo ra. Trong học tập, làm việc hay các hoạt động xã hội, tinh thần đoàn kết giúp mỗi cá nhân phát huy khả năng của mình đồng thời góp phần vào thành công chung của tập thể.

Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một số người sống ích kỉ, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà quên đi lợi ích chung của cộng đồng. Những hành động như vậy dễ gây ra sự chia rẽ, làm suy yếu sức mạnh tập thể. Vì vậy, mỗi người cần nhận thức rõ giá trị của sự đoàn kết, biết tôn trọng, lắng nghe và hợp tác với người khác. Chỉ khi biết gắn bó và đồng lòng, con người mới có thể tạo nên những thành quả bền vững.

Tóm lại, sự đoàn kết đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Nó không chỉ giúp con người vượt qua khó khăn mà còn tạo nên sức mạnh to lớn để xây dựng tương lai tốt đẹp. Vì thế, mỗi chúng ta cần ý thức nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết trong học tập, công việc và cuộc sống, góp phần xây dựng một cộng đồng ngày càng vững mạnh và phát triển.

Ta có phương trình điện phân nhôm oxit:

\(2 A l_{2} O_{3} \rightarrow 4 A l + 3 O_{2}\)

Theo phương trình:
\(2 A l_{2} O_{3}\) (204 g) → \(4 A l\) (108 g)

Khối lượng \(A l_{2} O_{3}\) cần để tạo ra 1 g Al là:

\(\frac{204}{108} = 1 , 8889\)

Khối lượng \(A l_{2} O_{3}\) cần để tạo ra 4 tấn Al (hiệu suất 100%):

\(4\times\frac{204}{108}=7,56tấn\)

Do hiệu suất phản ứng 95%, nên khối lượng \(A l_{2} O_{3}\) cần dùng là:

\(\frac{7 , 56}{0 , 95}\approx7,96tấn\)

Quặng bauxite chứa 48% \(A l_{2} O_{3}\), nên khối lượng quặng cần dùng là:

\(\frac{7 , 96}{0 , 48}\approx16,58\overset{}{}tấn\)


-Ta có sơ đồ chuyển hóa:
NaCl → X → NaHCO₃ → Y → NaNO₃.

Từ NaCl có thể điều chế NaOH bằng phương pháp điện phân dung dịch NaCl, nên X là NaOH. NaOH tác dụng với CO₂ tạo NaHCO₃. Khi nhiệt phân NaHCO₃ sẽ tạo Na₂CO₃, nên Y là Na₂CO₃. Sau đó Na₂CO₃ tác dụng với HNO₃ tạo NaNO₃.

Phương trình hóa học:

\(2NaCl+2H_2O\overset{điệnph\hat{a}n}{\rightarrow}2NaOH+H_2\uparrow+Cl_2\uparrow\)

\(N a O H + C O_{2} \rightarrow N a H C O_{3}\)

\(2 N a H C O_{3} \overset{t^{\circ}}{\rightarrow} N a_{2} C O_{3} + C O_{2} + H_{2} O\)

\(N a_{2} C O_{3} + 2 H N O_{3} \rightarrow 2 N a N O_{3} + C O_{2} + H_{2} O\)

Vậy X là NaOH, Y là Na₂CO₃.


Cho hỗn hợp bột kim loại vào dung dịch HCl loãng để hòa tan nhôm, vì nhôm phản ứng với HCl tạo muối tan và khí hiđro, còn bạc và đồng không phản ứng nên vẫn ở dạng rắn. Lọc lấy phần rắn gồm Ag và Cu.

Phương trình hóa học:
\(2 A l + 6 H C l \rightarrow 2 A l C l_{3} + 3 H_{2} \uparrow\)

Sau đó cho phần rắn còn lại tác dụng với dung dịch HNO₃ để hòa tan đồng, vì đồng phản ứng với HNO₃ tạo muối đồng nitrat tan trong dung dịch, còn bạc không tan nên còn lại ở dạng rắn. Lọc lấy chất rắn thu được bạc tinh khiết.

Phương trình hóa học:
\(3 C u + 8 H N O_{3} \rightarrow 3 C u \left(\right. N O_{3} \left.\right)_{2} + 2 N O \uparrow + 4 H_{2} O\).

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Biểu cảm.

Câu 2:

Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ: Cái bông.

Câu 3:

*Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là nhân hóa, sợi chỉ cũng có ý thức, có bạn bè: 

Nhờ tôi có nhiều đồng bang,

Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.

- Tác dụng:

+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

+ Thể hiện rằng khi hợp lại, những sợi chỉ có thể có sức mạnh phi thường.

=> Tình đoàn kết.

*Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là so sánh: 

Dệt nên tấm vải mỹ miều,

Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.

- Tác dụng:

+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

+ Nhấn mạnh vẻ đẹp và sự vững bền của tình đoàn kết.

Câu 4:

- Đặc tính của sợi chỉ: Mỏng manh nhưng dẻo dai, có thể hợp lại với các sợi chỉ khác để tạo nên cái đẹp và sự bền vững.

- Sức mạnh chủ yếu của sợi chỉ nằm ở việc có thể kết hợp với các sợi chỉ khác để tạo nên một mảnh vải đẹp, đó là sức mạnh của sự đoàn kết.

Câu 5:

- Bài học: Sức mạnh của tình đoàn kết tạo ra những thắng lợi vẻ vang.

- Ý nghĩa: Phải biết yêu đồng bào, yêu dân tộc, biết nhường nhịn và cùng nỗ lực để đạt đến thành công.

Liên kết kim loại được hình thành bởi lực hút tĩnh điện giữa các cation kim loại (ion dương) nằm ở nút mạng tinh thể và các electron hóa trị tự do (di chuyển tự do) trong toàn bộ mạng lưới tinh thể. 

Quá trình điện phân dung dịch NaCl (có màng ngăn) để sản xuất NaOH xảy ra theo phương trình hóa học:

\(2 N a C l + 2 H_{2} O \rightarrow 2 N a O H + H_{2} + C l_{2}\)

Ban đầu dung dịch nước muối bão hòa có nồng độ 300 g/L, sau điện phân thu được “nước muối nghèo” có nồng độ 220 g/L. Vậy trong 1 lít dung dịch, lượng NaCl đã bị điện phân là:

\(300 - 220 = 80 \&\text{nbsp};\text{g}\)

Số mol NaCl đã phản ứng:

\(n_{N a C l} = \frac{80}{58 , 5} \approx 1 , 37 \&\text{nbsp};\text{mol}\)

Theo phương trình phản ứng, tỉ lệ mol NaCl : NaOH là 1 : 1 nên:

\(n_{N a O H} = 1 , 37 \&\text{nbsp};\text{mol}\)

Khối lượng NaOH thu được theo lí thuyết là:

\(m_{N a O H} = 1 , 37 \times 40 \approx 54 , 8 \&\text{nbsp};\text{g}\)

Do hiệu suất của quá trình chỉ đạt 80%, nên khối lượng NaOH thực tế thu được là:

\(54 , 8 \times 80 \% \approx 43 , 8 \&\text{nbsp};\text{g}\)

Vậy với mỗi lít nước muối bão hòa ban đầu, có thể sản xuất được khoảng 43,8 gam NaOH.

-Vỏ tàu biển làm bằng thép khi tiếp xúc lâu ngày với nước biển sẽ bị ăn mòn vì nước biển chứa nhiều muối (NaCl) nên là môi trường chất điện li mạnh. Trong môi trường này hình thành các cặp điện cực khác nhau trên bề mặt kim loại, làm sắt bị oxi hóa thành ion Fe²⁺ và dần tạo thành gỉ sắt.

-Các cách bảo vệ:

+Cách thứ nhất là sơn phủ một lớp sơn chống gỉ lên bề mặt vỏ tàu. Lớp sơn có tác dụng cách li thép khỏi nước và oxi trong không khí, từ đó ngăn không cho phản ứng oxi hóa xảy ra, làm chậm hoặc ngừng quá trình ăn mòn.

+Cách thứ hai là mạ kẽm lên bề mặt thép. Kẽm là kim loại hoạt động mạnh hơn sắt nên sẽ bị oxi hóa trước. Khi lớp kẽm bị ăn mòn, nó bảo vệ phần sắt bên trong không bị tác động.

+Cách thứ ba là gắn các khối kim loại như kẽm hoặc magie vào thân tàu (gọi là phương pháp bảo vệ bằng kim loại hi sinh). Do Zn hoặc Mg hoạt động mạnh hơn Fe nên chúng sẽ bị ăn mòn trước, còn sắt được bảo vệ. Khi các khối kim loại này bị mòn hết thì thay mới để tiếp tục bảo vệ tàu.

-Fe + AlCl3 → không phản ứng

-Fe  + CuSO4 → FeSO4 + Cu (Fe là chất khử, CuSO là chất oxi hoá)

-Fe + 2AgNO3 → Fe(NO3)2 + 2Ag (Fe là chất khử, AgNO3 là chất oxi hoá)

-Fe + Pb(NO3)2 → Fe(NO3)2 + Pb

-Fe+Fe2​(SO4​)3​→3FeSO4​

-

Gang và thép đều là hợp kim của sắt(Fe) và cacbon(C), nhưng khác nhau về hàm lượng cacbon.

-Gang có hàm lượng cacbon cao hơn, thường từ 2% đến 4%( hoặc 2% đến 5%) theo khối lượng. Ngoài ra,gang còn chứa một lượng nhỏ các nguyên tố khác như silic(Si), mangan(Mn), lưu huỳnh(S), và photpho(P).

-Thép là hợp kim của sắt và cacbon, trong đó hàm lượng cacbon chiếm 0,01% ( hoặc 0,02%) đến dưới 2% theo khối lượng . Thép cũng có thể chứa một số nguyên tố khác như Si, Mn, Cr,Ni...