Nguyễn Gia Linh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
- Kiểu văn bản: nghị luận.
Câu 2
- Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là: Sự nhìn nhận, đánh giá bản thân và người khác một cách khách quan, bao dung.
Câu 3
*Những bằng chứng được tác giả đưa ra là:
- Câu ca dao “Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng/ Đèn ra trước gió được chăng hỡi đèn?/ Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn/ Sao trăng lại phải chịu luồn đám mây?”.
- Câu tục ngữ “nhân vô thập toàn”, “Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn”.
Câu 4
- Mục đích: Thuyết phục người đọc cần có cái nhìn khách quan khi đánh giá người khác, tự nhìn nhận chính mình và có ý thức sửa đổi để phát triển.
- Nội dung: Qua câu chuyện về đèn và trăng, tác giả nhấn mạnh việc con người cần phải học cách nhìn nhận, đánh giá bản thân, người khác một cách khách quan, bao dung; quan trọng hơn là biết tự nhận thức để sửa đổi và phát triển.
Câu 5
Cách lập luận của tác giả trong văn bản rất chặt chẽ, thuyết phục vì:
- Tác giả đặt hai đối tượng “đèn” và “trăng” trong sự đối sánh để làm rõ ưu, nhược điểm của chúng.
- Tác giả sử dụng các bằng chứng quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống người Việt như những câu ca dao, tục ngữ nhằm củng cố quan điểm về sự không hoàn hảo của “đèn”, “trăng”, cũng như sự không toàn vẹn của mỗi con người trong xã hội này, từ đó khơi gợi sự cần thiết của lòng bao dung và sự khách quan khi đánh giá.
=> Từ việc phân tích câu ca dao, tác giả đã khái quát thành bài học sâu sắc về việc con người cần biết tự đánh giá bản thân để sửa đổi, phát triển. Đây là cách lập luận quy nạp, đi từ phân tích chi tiết đến kết luận tổng quát.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
Câu 2:
Nội dung văn bản: Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.
Câu 3:
Biện pháp tu từ trong đoạn (7): Nhân hóa (kết hợp liệt kê)
Phân tích: Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”
+ Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng.
+ Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.
Câu 4:
Trong câu văn: "Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình; tổn thương là rỉ máu." tác giả nói "Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm" vì muốn nhấn mạnh rằng, đôi khi con người cần trải qua những tổn thương, những đau đớn nhỏ bé trong cuộc sống để nhận ra giá trị của sự trân trọng, yêu thương. Khi bị gai đâm, bàn chân sẽ đau, ta sẽ giật mình tỉnh thức, không còn vô tâm, thờ ơ như trước nữa. Đó là cách con người cảm nhận được sự tổn thương, biết đồng cảm với những điều bị tổn thương xung quanh, từ đó thay đổi thái độ sống, biết quan tâm, nâng niu thiên nhiên, con người và những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống. Khi "bị gai đâm" tượng trưng cho những trải nghiệm đau thương cần thiết giúp ta nhận thức sâu sắc hơn, trưởng thành hơn và sống có ý thức, biết trân trọng hơn cuộc sống và mọi thứ quanh ta.
Câu 5:
Bài học ý nghĩa nhất mà tôi rút ra từ văn bản là sự cần thiết của việc sống chậm lại, biết trân trọng và yêu thương mọi thứ xung quanh. Chúng ta thường quá bận rộn với cuộc sống của mình mà quên đi những điều nhỏ bé nhưng ý nghĩa, quên đi sự bao dung của thiên nhiên và những người xung quanh. Văn bản nhắc nhở tôi rằng cần phải sống có ý thức, quan tâm đến những người xung quanh, trân trọng những gì mình đang có và sống một cuộc đời ý nghĩa hơn.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
Câu 2:
Nội dung văn bản: Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.
Câu 3:
Biện pháp tu từ trong đoạn (7): Nhân hóa (kết hợp liệt kê)
Phân tích: Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”
+ Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng.
+ Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.
Câu 4:
Trong câu văn: "Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình; tổn thương là rỉ máu." tác giả nói "Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm" vì muốn nhấn mạnh rằng, đôi khi con người cần trải qua những tổn thương, những đau đớn nhỏ bé trong cuộc sống để nhận ra giá trị của sự trân trọng, yêu thương. Khi bị gai đâm, bàn chân sẽ đau, ta sẽ giật mình tỉnh thức, không còn vô tâm, thờ ơ như trước nữa. Đó là cách con người cảm nhận được sự tổn thương, biết đồng cảm với những điều bị tổn thương xung quanh, từ đó thay đổi thái độ sống, biết quan tâm, nâng niu thiên nhiên, con người và những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống. Khi "bị gai đâm" tượng trưng cho những trải nghiệm đau thương cần thiết giúp ta nhận thức sâu sắc hơn, trưởng thành hơn và sống có ý thức, biết trân trọng hơn cuộc sống và mọi thứ quanh ta.
Câu 5:
Bài học ý nghĩa nhất mà tôi rút ra từ văn bản là sự cần thiết của việc sống chậm lại, biết trân trọng và yêu thương mọi thứ xung quanh. Chúng ta thường quá bận rộn với cuộc sống của mình mà quên đi những điều nhỏ bé nhưng ý nghĩa, quên đi sự bao dung của thiên nhiên và những người xung quanh. Văn bản nhắc nhở tôi rằng cần phải sống có ý thức, quan tâm đến những người xung quanh, trân trọng những gì mình đang có và sống một cuộc đời ý nghĩa hơn.