Nguyễn Văn Trung Kiên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Văn Trung Kiên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
a) Tính  Ta thực hiện cộng hai đa thức bằng cách nhóm các hạng tử cùng bậc:
Vậy 
b) Chứng tỏ đa thức   vô nghiệm Để chứng tỏ đa thức   vô nghiệm, ta cần chứng minh   với mọi giá trị của  .
  • Ta có:   với mọi  .
  • Suy ra:   với mọi  .
  • Do đó:  , hay   với mọi  .
Vì   luôn lớn hơn hoặc bằng   nên   không thể bằng  .
Vậy đa thức   vô nghiệm.
Trong hành trình chinh phục tri thức bao la của nhân loại, nhà văn Maxim Gorky từng khẳng định: "Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống". Tuy nhiên, kiến thức sẽ chỉ là những con chữ khô khan nếu người học không có phương pháp tiếp cận đúng đắn. Một trong những yếu tố then chốt quyết định sự thành công của mỗi cá nhân, đặc biệt là đối với học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, chính là ý thức tự học. Vậy, vì sao học sinh cần phải có ý thức tự học? Trước hết, chúng ta cần hiểu tự học là gì? Tự học không đơn thuần là việc tự đọc sách ở nhà, mà đó là ý thức chủ động, tự giác tìm tòi, suy nghiên và lĩnh hội tri thức mà không cần sự nhắc nhở hay ép buộc từ thầy cô, cha mẹ. Ý thức tự học thể hiện qua việc chúng ta tự lập kế hoạch học tập, tự tìm kiếm tài liệu và nỗ lực vượt qua những bài tập khó bằng chính tư duy của mình. Lý do quan trọng nhất khiến học sinh cần có ý thức tự học chính là khả năng làm chủ tri thức. Kho tàng kiến thức của nhân loại là vô tận, trong khi thời gian trên lớp lại vô cùng hữu hạn. Thầy cô chỉ là người dẫn đường, cung cấp những chìa khóa cơ bản. Chỉ khi có ý thức tự học, học sinh mới có thể đào sâu, mở rộng vấn đề, từ đó biến kiến thức của nhân loại thành vốn hiểu biết của riêng mình. Tự học giúp chúng ta nhớ lâu hơn, hiểu bản chất vấn đề thay vì chỉ học vẹt để đối phó với thi cử. Thứ hai, tự học rèn luyện cho học sinh tính độc lập và sáng tạo. Trong quá trình tự mày mò, nghiên cứu, học sinh sẽ hình thành thói quen tư duy phản biện, không ỷ lại vào người khác. Khi đối mặt với một vấn đề mới, người có thói quen tự học sẽ tự tin tìm cách giải quyết thay vì chờ đợi sự giúp đỡ. Đây là phẩm chất vô cùng quý giá giúp các em dễ dàng thích nghi với môi trường làm việc năng động và khắc nghiệt trong tương lai. Thứ ba, tự học giúp chúng ta bồi dưỡng niềm đam mê và khám phá bản thân. Khi tự mình tìm hiểu về một lĩnh vực yêu thích, học sinh sẽ cảm thấy hứng thú và yêu thích việc học hơn. Điều này giúp giảm bớt áp lực thi cử và biến việc học thành một niềm vui, một nhu cầu tự thân. Từ những giây phút tự học, nhiều bạn trẻ đã phát hiện ra năng khiếu và định hướng được nghề nghiệp tương lai cho chính mình. Thực tế lịch sử đã chứng minh, những vĩ nhân trên thế giới như Thomas Edison, M. Gorky hay Chủ tịch Hồ Chí Minh đều là những tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học. Nhờ tự học, họ đã vượt qua nghịch cảnh để cống hiến cho nhân loại những giá trị vĩ đại. Ngược lại, những học sinh thiếu ý thức tự học, luôn trông chờ, ỷ lại thường rơi vào trạng thái thụ động, hổng kiến thức và dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn. Tóm lại, ý thức tự học không chỉ là một phương pháp học tập hiệu quả mà còn là một lối sống tích cực. Là học sinh, chúng ta cần xây dựng cho mình một kế hoạch học tập khoa học, rèn luyện tính kiên trì và không ngừng đặt ra những câu hỏi "tại sao" trước mỗi vấn đề. Hãy nhớ rằng: "Học tập là một việc suốt đời", và tự học chính là con thuyền vững chãi nhất đưa chúng ta cập bến thành công trên đại dương tri thức.

Câu 1.
Văn bản được diễn đạt bởi sự kết hợp của các yếu tố: tự sự, miêu tả và biểu cảm.

Câu 2.
Chủ đề của đoạn trích là: món xôi làm từ lá khúc và ý nghĩa văn hóa, phong tục gắn với đời sống quê hương.

Câu 3.
a. Tính mạch lạc về nội dung:
Văn bản trình bày theo trình tự các bước làm xôi lá khúc một cách rõ ràng, logic từ hái lá → rửa → giã → lọc, giúp người đọc dễ theo dõi.

b. Phép liên kết:
Phép nối (liên kết bằng quan hệ từ và trạng ngữ thời gian): “rồi”, “sau đó” dùng để chỉ trình tự các hành động.

Câu 4.
Một số từ ngữ, hình ảnh thể hiện tình cảm, cảm xúc: có thể là những từ gợi sự trân trọng, tha thiết, gắn bó với quê hương, như “quê tôi”, “hồn cốt”, “phong tục”…
→ Qua đó, em cảm nhận được cái “tôi” của tác giả là một người yêu quê hương sâu sắc, tự hào về nét đẹp văn hóa truyền thống và có sự gắn bó, nâng niu những giá trị dân gian.

Câu 5.
Chất trữ tình được thể hiện qua việc tác giả không chỉ miêu tả cách làm món ăn mà còn gửi gắm tình cảm yêu mến, tự hào về phong tục quê hương, làm cho hình ảnh món xôi lá khúc trở nên giàu cảm xúc và ý nghĩa.

Câu 6.
Đoạn văn cho thấy ý nghĩa của việc giữ gìn phong tục truyền thống trong đời sống văn hóa. Món xôi lá khúc không chỉ là một món ăn mà còn là biểu tượng của “hồn cốt” quê hương. Nó thể hiện tấm lòng thành kính của con người đối với thần linh và tổ tiên. Dù mâm lễ có sang trọng đến đâu nhưng thiếu đi món ăn truyền thống ấy thì vẫn chưa trọn vẹn. Qua đó, ta hiểu rằng những giá trị dân gian cần được trân trọng và gìn giữ. Đồng thời, nó cũng nhắc nhở mỗi người phải biết tự hào về bản sắc văn hóa của quê hương mình.

- Ẩm thực Việt Nam đa dạng, phong phú, mỗi món ăn đều có phong vị riêng.

- Cần biết thưởng thức, cảm nhận vị ngon của các món ăn một cách tinh tế, từ đó yêu văn hóa ẩm thực Việt Nam, có thể quảng bá văn hóa ẩm thực vùng miền nói riêng và ẩm thực Việt Nam nói chung đến mọi người.

Tạo sự khách quan và sinh động

Thủ pháp đòn bẩy (nghệ thuật tương phản)

Thể hiện sự tinh tế trong ẩm thực:

Gợi sự tò mò và tranh luận:

a) xét tam giác ABM VÀ tam giác ADM có

AM chung 

AB=AD(gt)

MB=MD(gt)

=) tam giác ABM = tam giác ADM (c-c-c)

b)ta có AB=AD(gt)

=)tam giác ABC cân tại A

Lại có AM là trung tuyến

=) AM là đường cao

=) AM vuông góc BD

c) Ta có tam giác ABM = tam giác ADM (cmt)

=) góc A1 =góc A2 (2 góc tương ứng)

xét tam giác ABK và tam giác ADK có 

góc A1= GÓC A2 (CMT)

AK chung

AB=AD(cmt)

=) tam giác ABK=tam giác ADK(c-g-c)

d) ta có góc A1= góc A4 (đối đỉnh )

ta có A2+A3+A4=180 ĐỘ ( BKC LÀ góc bẹt )

MÀ A1 =A4 (cmt)

=)A1+A2+A3=180 ĐỘ

=) FKD là góc bẹt

=)F K D thẳng hàng

a) Chiều rộng, chiều dài, chiều cao của bể lần lượt là 3x; 2x; x3x;2x;x.

Bể có thể tích 3x.2x.x=6x33x.2x.x=6x3 (dm33).

Bể chứa được 6x36x3 lít nước. Do bể đang có 100100 lít nước nên để bể đầy nước cần thêm vào bể A=6x3−100A=6x3−100 (lít) nước.

b) Trường hợp bể có chiều cao 55 dm thì x=5x=5, lượng nước cần thêm vào bể là giá trị của đa thức AA tại x=5x=5, tức là bằng 6.53−100=6506.53−100=650 (lít).

Để đầy bể nước, cần mở vòi trong 650 : 25=26650:25=26  phút.

a) Khi cô Hạnh đi trên đường đô thị thì cô đi được:

65 : 13,9 . 100 \(\approx\) 468 (km)

Khi cô Hạnh đi trên đường hỗn hợp thì cô đi được:

65 : 9,9 . 100 \(\approx\) 657 (km)

Khi cô Hạnh đi trên đường cao tốc thì cô đi được:

65 : 7,5 . 100 \(\approx\) 867 (km)

b) Để đi quãng đường 400 km trên đường đô thị, chiếc bình xăng ô tô của Hạnh cần có tối thiểu:

400 : 100 . 13,9 = 55,6 (lít)

c) Để đi quãng đường 300 km trên đường hỗn hợp và 300 km trên đường cao tốc, trong bình xăng chiếc xe ô tô của cô Hạnh cần có tối thiểu:

300: 100. 9,9 + 300 : 100 . 7,5 = 52,2 (lít)

a) Thể tích hình lập phương \(A B C D . A^{'} B^{'} C^{'} D^{'}\)

Cạnh \(a = 10\) cm

\(V_{\text{l}ậ\text{p}\&\text{nbsp};\text{ph}ưo\text{ng}} = a^{3} = 10^{3} = 1000 \&\text{nbsp};\text{cm}^{3}\)


b) Thể tích toàn bộ khối gỗ

Thể tích phần còn lại (hình hộp chữ nhật):

\(V_{\text{h}ộ\text{p}} = 3 \times 5 \times 8 = 120 \&\text{nbsp};\text{cm}^{3}\)

Tổng thể tích khối gỗ:

\(V_{\text{t}ổ\text{ng}} = 1000 + 120 = 1120 \&\text{nbsp};\text{cm}^{3}\)