Trần Quốc Hải Vũ
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 Có ai trên đời này lại không muốn tự quyết định cuộc đời mình có ai muốn nhất nhất nghe theo sự chỉ huy của người khác muốn thế chỉ có cách ta phải “sống ở thế chủ động”. Chủ động có thể được hiểu là tự mình lập kế hoạch, thực hiện, và chịu trách nhiệm với mọi vấn đề trong cuộc sống mà không chịu sự chi phối bởi hoàn cảnh bên ngoài. Có thể ví cuộc sống mỗi chúng ta như một chặng đường, thì chủ động chính là chúng ta biết được hướng đi, tốc độ, điểm dừng, đích đến, chính vì thế mà người chủ động thường dễ thành công hơn. Chỉ có sống trong thế chủ động, Bác mới hướng mình sang phương Tây, để tìm hiểu cuộc sống nhân dân bên đó, để tìm ra con đường cứu nước cứu dân. Chỉ có sống và làm chủ bản thân, Bill Gates hay Mark mới bỏ ngang trường đại học danh giá nhất nước Mỹ để thực hiện ước mơ của mình. Và cũng chỉ có thế chủ động, bất cứ ai trong chúng ta mới có thể sẵn sàng đối diện với sóng gió. Người xưa đã từng than thở gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu thế hệ thanh niên của chúng ta ngày hôm nay không thể bị động như thế, không thể đóng vai hành khách trên chuyến xe mà người khác cầm lái. Có thể chúng ta chưa làm được điều gì to lớn, nhưng ít nhất sáng mai ăn gì, học như thế nào, thi trường gì, chúng ta hãy chủ động quyết định. Người chủ động phải là người luôn cầu tiến, ham học hỏi, rèn luyện và chuẩn bị hành trang cần thiết cho chuyến đi của mình. Làm gì có người leo núi nào lại không chuẩn bị thể lực, đồ dùng, làm gì có người giương buồm ra khơi nào mà không biết trước hướng đi. Điều đó có nghĩa, chủ động nhưng không liều lĩnh, chủ động cần tỉnh táo, tham khảo ý kiến mọi người, hạn chế mức thấp nhất sai lầm, thất bại, sẵn sàng đối diện với khó khăn.
Câu 2
Trước hết, sáu câu thơ đầu vẽ nên bức tranh ngày hè đầy màu sắc và âm thanh. Không gian mở ra từ cảnh “hóng mát thuở ngày trường” – một tâm thế ung dung, thư thái. Màu xanh của cây hòe “đùn đùn tán rợp trương” gợi sự sinh sôi mạnh mẽ; sắc đỏ của hoa lựu “phun thức đỏ” nổi bật, giàu sức gợi; hương sen trong ao “tịn mùi hương” lan tỏa dịu nhẹ. Thiên nhiên không tĩnh lặng mà sống động bởi những âm thanh đời thường: tiếng “lao xao” của chợ cá, tiếng ve “dắng dỏi” lúc chiều buông. Qua đó, ta cảm nhận được một bức tranh làng quê thanh bình, trù phú, gần gũi với đời sống nhân dân. Hai câu thơ cuối nâng tầm cảm xúc của toàn bài. Ước muốn “Ngu cầm đàn một tiếng” không chỉ là cảm hứng nghệ thuật mà là khát vọng chính trị – nhân văn: mong cho “dân giàu đủ khắp đòi phương”. Dù đã lui về ở ẩn, Nguyễn Trãi vẫn một lòng lo cho dân, cho nước. Thiên nhiên vì thế không chỉ đẹp mà còn thấm đẫm tình yêu con người, lý tưởng nhân nghĩa. Bằng ngôn ngữ giàu sức gợi, hình ảnh sinh động và cảm xúc chân thành, đoạn thơ cho thấy tâm hồn thanh cao, nhân ái của Nguyễn Trãi, đồng thời khẳng định vẻ đẹp bền vững của thơ ca trung đại Việt Nam
Câu 1
Thể thơ thất ngôn bát cú đường luật
Câu 2
Một mai một cuốc một cần câu
Câu 3
Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu "Một mai, một cuốc, một cần câu". Tác dụng: Nhấn mạnh các công cụ lao động đơn giản, bình dị. Gợi cuộc sống ung dung, tự tại, hòa mình với thiên nhiên của tác giả. Thể hiện sự thanh cao, không ham phú quý, danh vọng.
Câu 4
Tác giả tự nhận mình là "dại" khi tìm nơi vắng vẻ, tránh xa chốn lao xao nơi danh lợi, thị phi. Người đời cho là "khôn" thì lại đến chốn lao xao. Quan niệm này thể hiện sự khinh thường danh lợi, đề cao lối sống ẩn dật, giữ cốt cách thanh cao, khác biệt với số đông chạy theo vật chất
Câu 5
Từ văn bản, ta thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có nhân cách thanh cao, bản lĩnh vững vàng. Ông chọn lối sống ẩn dật, hòa mình với thiên nhiên để giữ trọn khí tiết, tránh xa chốn quan trường đầy rẫy thị phi, danh lợi. Quan niệm "dại" của ông thực chất là sự "khôn" của bậc hiền triết, coi phú quý chỉ là giấc mộng phù du. Qua đó, ta thấy được một nhà thơ kiên định với lý tưởng sống đạm bạc, thanh bạch, vượt lên trên những cám dỗ tầm thường của xã hội đương thời.
Câu 1
Thể thơ của văn bản trên là thể thơ 7 chữ
Câu 2
Một mai, một cuốc, một cần câu": Đây là những vật dụng lao động, sinh hoạt hàng ngày đơn giản của người nông dân, thể hiện cuộc sống đạm bạc, gần gũi thiên nhiên, không màng danh lợi. "Nơi vắng vẻ": Tác giả chọn sống ở nơi thanh tịnh, xa lánh chốn thị phi, lao xao của cuộc đời.
Câu 3
Nhấn mạnh cuộc sống đạm bạc, giản dị, hòa hợp với thiên nhiên của tác giả. Thể hiện sự thanh cao, không ham muốn vật chất, danh vọng. Gợi hình ảnh một lão nông tri điền an nhiên, tự tại.
Câu 5
Tác giả tự nhận mình "dại" khi tìm nơi vắng vẻ, xa lánh chốn phồn hoa đô thị. Người đời được coi là "khôn" khi đến nơi lao xao, bon chen vì danh lợi. Sự đối lập này thể hiện quan điểm sống khác biệt của Nguyễn Bỉnh Khiêm: cái "dại" của ông thực chất là khôn ngoan, chọn lối sống thanh bạch, giữ gìn nhân cách; còn cái "khôn" của người đời lại là sự mê muội, chạy theo những giá trị phù phiếm.
Câu 5
Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với vẻ đẹp nhân cách thanh cao, kiên định và đầy triết lý. Ông là tấm gương sáng về lối sống giản dị, hòa mình với thiên nhiên, xa rời vòng xoáy danh lợi, quyền thế. Quan niệm "dại – khôn" độc đáo của ông thể hiện bản lĩnh vững vàng, sự khôn ngoan của một bậc hiền triết biết giữ mình trong thời buổi nhiễu nhương. Qua đó, ta thấy được một tâm hồn an nhiên, tự tại, luôn giữ vững khí tiết thanh liêm, đáng kính trọng.