Lý Minh Anh Dũng
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ Trong cuộc sống hiện nay, lối sống chủ động có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi con người, đặc biệt là giới trẻ. Sống chủ động giúp con người biết tự đặt mục tiêu, tự nỗ lực và chịu trách nhiệm cho những lựa chọn của bản thân thay vì ỷ lại hay trông chờ vào người khác. Khi chủ động, ta không bị hoàn cảnh chi phối mà biết thích nghi, tìm cách vượt qua khó khăn để vươn lên. Lối sống ấy còn giúp con người nắm bắt cơ hội, phát huy khả năng và khẳng định giá trị của mình trong xã hội cạnh tranh. Ngược lại, sống thụ động dễ khiến con người trở nên lười biếng, mất phương hướng và bỏ lỡ nhiều cơ hội tốt đẹp. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tinh thần chủ động từ những việc nhỏ như học tập, sinh hoạt hằng ngày. Có thể khẳng định rằng, lối sống chủ động chính là chìa khóa dẫn đến thành công và cuộc sống ý nghĩa. Câu 2 (4,0 điểm): Cảm nhận về đoạn thơ trong “Bảo kính cảnh giới” – Nguyễn Trãi Đoạn thơ trong Bảo kính cảnh giới đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên và cuộc sống làng quê thanh bình, tươi đẹp. Những hình ảnh như “hòe lục”, “thạch lựu”, “hồng liên” hiện lên với màu sắc rực rỡ, tràn đầy sức sống của mùa hè. Thiên nhiên không tĩnh lặng mà sống động, hài hòa với nhịp sinh hoạt của con người qua âm thanh “lao xao chợ cá làng ngư phủ”, “dắng dỏi cầm ve”. Qua đó, ta cảm nhận được tấm lòng gắn bó sâu sắc của Nguyễn Trãi với cuộc sống bình dị của nhân dân. Đặc biệt, câu thơ cuối “Dân giàu đủ khắp đòi phương” thể hiện lý tưởng nhân nghĩa cao đẹp: khát vọng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho muôn dân. Đoạn thơ không chỉ cho thấy tâm hồn yêu thiên nhiên mà còn làm nổi bật nhân cách lớn lao, trái tim luôn hướng về dân, về nước của Nguyễn Trãi.
1. Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2. Những hình ảnh thể hiện nét sinh hoạt hằng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: “Một mai, một cuốc, một cần câu” → công cụ lao động giản dị, gắn với đời sống thôn dã. “Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống” → thú vui thanh nhàn, mộc mạc giữa thiên nhiên. “Nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao” → coi nhẹ danh lợi, sống ung dung, tự tại. → Qua đó cho thấy lối sống thanh cao, hòa hợp với thiên nhiên, xa lánh bon chen. Câu 3. Biện pháp tu từ: Liệt kê (“một mai, một cuốc, một cần câu”). Tác dụng: Khắc họa rõ ràng, cụ thể cuộc sống lao động giản dị. Nhịp điệu chậm rãi, đều đặn, tạo cảm giác thong thả. Nhấn mạnh niềm vui sống tự nhiên, thanh nhàn của tác giả, đối lập với thú vui phú quý nơi quan trường. Câu 4. Quan niệm dại – khôn của tác giả mang nét đặc biệt: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ”: cái “dại” là chủ động rời bỏ danh lợi để giữ sự thanh thản, trong sạch. “Người khôn, người đến chốn lao xao”: cái “khôn” là chạy theo phú quý, nhưng đầy bon chen, mệt mỏi. → Tác giả đảo ngược cách hiểu thông thường: dại mà hóa khôn, khôn mà thành dại; thể hiện triết lí sống sâu sắc, đề cao giá trị tinh thần và nhân cách.
Giải tiếp Câu 5 (1,0 điểm): Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một con người có nhân cách cao đẹp, thanh cao và bản lĩnh. Ông lựa chọn lối sống đạm bạc, hòa mình với thiên nhiên, xa rời vòng danh lợi ồn ào. Trước phú quý, tác giả giữ thái độ tỉnh táo, coi đó chỉ như giấc chiêm bao thoáng qua. Quan niệm “dại – khôn” cho thấy trí tuệ sâu sắc và sự tự chủ trong cách sống. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm toát lên vẻ đẹp của một bậc hiền triết ung dung, coi trọng giá trị tinh thần hơn vật chất.