Ngô Nông Hồng Quyên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Ngô Nông Hồng Quyên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Trong bối cảnh cuộc sống hiện đại ngày càng phát triển, con người đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng, trong đó ô nhiễm môi trường là một trong những thách thức lớn nhất. Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề cấp thiết nhất của nhân loại hiện nay, bởi môi trường chính là nền tảng cho sự sống và phát triển bền vững. Thực tế cho thấy, hậu quả của việc tàn phá môi trường đang ngày càng rõ rệt. Chẳng hạn, tại Việt Nam, hiện tượng ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh thường xuyên ở mức báo động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người. Bên cạnh đó, nạn phá rừng ở khu vực Tây Nguyên đã làm gia tăng tình trạng lũ lụt, sạt lở đất, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Trên thế giới, những thảm họa như cháy rừng ở Australia hay băng tan ở hai cực cũng là lời cảnh báo mạnh mẽ về biến đổi khí hậu. Vì vậy, việc bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của các tổ chức hay chính phủ mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân. Những hành động nhỏ như tiết kiệm điện, hạn chế sử dụng túi ni-lông, trồng cây xanh hay phân loại rác thải đều góp phần tạo nên sự thay đổi lớn. Bảo vệ môi trường cũng chính là bảo vệ tương lai của chính chúng ta và các thế hệ mai sau.

Câu 2:

Trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, thoát tục và thái độ quay lưng với danh lợi. Qua hai bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình ảnh người ẩn sĩ hiện lên vừa có nét tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng, góp phần làm phong phú thêm vẻ đẹp tâm hồn của các bậc trí thức xưa.

Trước hết, ở Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa hình tượng người ẩn sĩ với lối sống giản dị, hòa mình vào thiên nhiên và chủ động lựa chọn cách sống. Ngay từ câu thơ mở đầu “Một mai, một cuốc, một cần câu”, nhà thơ đã dựng lên hình ảnh một con người gắn bó với lao động, với cuộc sống thôn dã. Điệp từ “một” kết hợp với nhịp thơ chậm rãi gợi sự ung dung, thảnh thơi. Đặc biệt, quan niệm sống “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao” thể hiện thái độ dứt khoát: “dại” mà thực chất là khôn, là biết tránh xa danh lợi bon chen. Cuộc sống bốn mùa “thu ăn măng trúc, đông ăn giá…” càng tô đậm sự thanh đạm, thuận theo tự nhiên. Đỉnh cao là triết lí “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” – một cái nhìn thấu suốt về lẽ đời. Như vậy, người ẩn sĩ ở đây là người chủ động rũ bỏ công danh, sống an nhiên, tự tại và đạt đến sự tự do tinh thần.

Trong khi đó, bài thơ thu của Nguyễn Khuyến lại khắc họa hình tượng người ẩn sĩ trong sự hòa hợp tinh tế với thiên nhiên và mang đậm nỗi niềm tâm sự. Bức tranh thu hiện lên với không gian cao rộng, tĩnh lặng: “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”, “Nước biếc trông như tầng khói phủ”. Những hình ảnh “cần trúc”, “bóng trăng”, “hoa năm ngoái”, “tiếng ngỗng” đều gợi vẻ đẹp thanh sơ, cổ kính. Giữa không gian ấy, con người dường như thu mình lại, sống lặng lẽ, kín đáo. Tuy nhiên, khác với sự dứt khoát của Nguyễn Bỉnh Khiêm, người ẩn sĩ ở đây mang một nỗi niềm kín đáo: “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”. Cái “thẹn” cho thấy sự tự ý thức về tài năng, đồng thời bộc lộ tâm trạng khiêm nhường và nỗi lòng của một kẻ sĩ trước thời cuộc. Vì vậy, hình tượng ẩn sĩ ở Nguyễn Khuyến không chỉ là sự lánh đời mà còn là sự trăn trở, suy tư.

So sánh hai hình tượng, có thể thấy điểm gặp gỡ là cả hai đều lựa chọn lối sống ẩn dật, hòa mình với thiên nhiên, giữ gìn nhân cách thanh cao, tránh xa vòng danh lợi. Thiên nhiên trong cả hai bài đều là không gian lý tưởng để con người tìm về sự bình yên. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở sắc thái tâm hồn: người ẩn sĩ của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ ung dung, tự tại, triết lí sống rõ ràng và dứt khoát; còn người ẩn sĩ của Nguyễn Khuyến lại giàu cảm xúc, tinh tế, ẩn chứa nỗi niềm và sự tự vấn nội tâm. Nếu Nhàn thiên về bộc lộ quan niệm sống, thì bài thơ thu lại nghiêng về thể hiện tâm trạng.

Nhìn chung, hai bài thơ đã góp phần khắc họa vẻ đẹp của hình tượng người ẩn sĩ trong văn học trung đại: đó là những con người biết sống thuận theo tự nhiên, giữ gìn phẩm giá và tìm kiếm sự thanh thản trong tâm hồn. Qua đó, ta càng thêm trân trọng nhân cách và tâm hồn cao đẹp của các bậc hiền triết xưa.


Câu 1:

Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước.

Câu 2:

Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự:

+Giới thiệu vấn đề

+ Giải thích khái niệm

+Đưa ra dẫn chứng, phân tích cụ thể

+Mở rộng, khái quát thực trạng hiện nay

Câu 3:

Tác giả đã sử dụng những dẫn chứng, bằng chứng để cung cấp thông tin cho người đọc như:

+Bằng chứng khoa học: dẫn lại nghiên cứu và định nghĩa của hai nhà khoa học Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis về hiện tượng “tiếc thương sinh thái”.

+Bằng chứng thực tế từ các cộng đồng: như người Inuit ở Canada và nông dân Australia với những cảm xúc tiêu cực khi môi trường sống thay đổi.

+Bằng chứng từ các sự kiện tiêu biểu: vụ cháy rừng Amazon năm 2019 và phản ứng đau xót của các tộc người bản địa (Tenharim, Guató, Guarani).

+Bằng chứng số liệu khảo sát: kết quả nghiên cứu của Caroline Hickman và cộng sự về cảm xúc của thanh thiếu niên ở 10 quốc gia trước biến đổi khí hậu.

→ Những bằng chứng này vừa mang tính khoa học, vừa mang tính thực tiễn và thời sự, giúp tăng độ tin cậy và sức thuyết phục cho bài viết.

Câu 4:

Qua văn bản em cảm thấy cách tác giả tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu theo hướng mới mẻ và giàu tính nhân văn khi đặt con người, đặc biệt là đời sống tinh thần, vào trung tâm của vấn đề. Thay vì chỉ phân tích các biểu hiện tự nhiên hay hậu quả vật chất, tác giả đi sâu làm rõ những tổn thương tâm lí mà biến đổi khí hậu gây ra, từ đó giúp người đọc nhận thức được mức độ ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài của nó. Cách tiếp cận này vừa mang tính khoa học (dựa trên nghiên cứu, số liệu), vừa giàu cảm xúc (qua các dẫn chứng thực tế), khiến vấn đề trở nên gần gũi, dễ thấu hiểu và có sức lay động mạnh mẽ

Câu 5:

Qua bài viết, có thể thấy biến đổi khí hậu đang để lại những hệ lụy không chỉ ở môi trường sống mà còn in sâu vào đời sống tinh thần của con người, khiến họ phải đối mặt với cảm giác mất mát và bất an trước tương lai. Vì vậy, việc bảo vệ môi trường không còn là trách nhiệm riêng của một quốc gia hay tổ chức nào, mà là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại. Mỗi cá nhân cần nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi sống theo hướng thân thiện với môi trường, bởi bảo vệ thiên nhiên cũng chính là bảo vệ cuộc sống, tâm hồn và tương lai của chính mình.