Ngô Bảo Thi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Ngô Bảo Thi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.Văn bản bàn về giá trị nội dung (bức tranh mùa gặt và tâm hồn người nông dân) cùng những nét đặc sắc nghệ thuật trong bài thơ "Lúa chín" của nhà thơ Nguyễn Duy.

Câu 2. Câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3): "Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm: “Mảnh sân trăng lúa chất đầy/ Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình”."

Câu 3.

  • a. Thành phần tình thái: "hình như".
  • b. Thành phần gọi - đáp: "người ơi" (nằm trong câu thơ được trích dẫn).

Câu 4. Cách trích dẫn bằng chứng và tác dụng:

  • Cách trích dẫn: Trích dẫn trực tiếp. Tác giả đã trích dẫn các từ ngữ cụ thể ("phả", "dẫn gió", "liếm ngang chân trời") và cả những dòng thơ nguyên văn từ bài thơ của Nguyễn Duy.
  • Tác dụng:
    • Tạo tính khách quan, xác thực và tăng sức thuyết phục cho các lí lẽ.
    • Giúp người đọc dễ dàng đối chiếu giữa lời bình giảng và văn bản gốc để thấy được cái hay, cái tinh tế mà nhà phê bình đang phân tích.

Câu 5. Vai trò của lí lẽ và bằng chứng trong đoạn (4):

  • Vai trò: Các lí lẽ (về sự "cả nghĩ", lo xa của người nông dân) và bằng chứng (các câu thơ về hạt rơi, hạt rụng, thân rơm rách, nắng non...) phối hợp chặt chẽ để làm sáng tỏ luận điểm: Người nông dân trong thơ Nguyễn Duy không chỉ biết náo nức với mùa vàng mà còn mang tâm hồn sâu sắc, biết trân trọng giá trị lao động và có tấm lòng yêu thương, gắn bó mật thiết với "đời lúa".
  • Nó giúp chuyển từ việc cảm nhận vẻ đẹp ngoại cảnh (không gian) sang khám phá vẻ đẹp nội tâm (con người).

Câu 6.

  • Lựa chọn: Em thích nhất cách tác giả sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc khi bình thơ.
  • Vì sao: Thay vì những lời lẽ khô khan, tác giả dùng các từ ngữ rất gợi như "sáng ngợp", "đảo lộn tương quan", "anh nhà nghèo xoa tay sung sướng"... Cách viết này không chỉ phân tích cái hay của bài thơ mà bản thân văn bản nghị luận cũng giống như một tác phẩm nghệ thuật, giúp người đọc dễ dàng rung cảm và thấu hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn người lao động.

Bài thơ "Bộ đội về làng" của Hoàng Trung Thông là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về đề tài quân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Với ngôn ngữ giản dị và cảm xúc chân thành, đoạn trích đã khắc họa thành công bức tranh ấm áp về tình quân dân cá nước — một biểu tượng đẹp đẽ của sức mạnh dân tộc Việt Nam.

Trước hết, chủ đề bao trùm của bài thơ là tình cảm gắn bó thắm thiết, sâu nặng giữa bộ đội và nhân dân. Tác giả không chọn cách miêu tả những trận đánh ác liệt hay những chiến công lừng lẫy, mà chọn khoảnh khắc các anh trở về làng sau những ngày "rừng sâu" gian khổ. Sự xuất hiện của các anh bộ đội đã làm thay đổi hoàn toàn không khí của xóm nghèo. Điệp ngữ "Các anh về" vang lên như một nốt nhạc vui, khởi đầu cho sự hồi sinh của niềm vui và tiếng cười. Không gian tĩnh lặng của "xóm nhỏ" bỗng chốc trở nên "rộn ràng", "tưng bừng". Hình ảnh "Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau""Mẹ già bịn rịn áo nâu" đã diễn tả trọn vẹn sự đón tiếp nồng hậu, thân thương. Đối với người dân, bộ đội không phải là người lạ mà chính là những người con, người anh đi xa trở về nhà. Từ "bịn rịn" thật đắt giá, nó vừa gợi vẻ tảo tần của người mẹ Việt Nam, vừa cho thấy niềm xúc động dâng trào khi gặp lại những người con yêu quý của đất nước.

Bên cạnh tình cảm gia đình hóa, bài thơ còn làm nổi bật vẻ đẹp của sự giản dị và tấm lòng rộng mở. Tác giả trung thực nhìn nhận cái nghèo của quê hương: "Làng tôi nghèo / Mái lá nhà tre". Thế nhưng, cái nghèo về vật chất lại làm nổi bật sự giàu có về tâm hồn. Dù chỉ là "Nhà lá đơn sơ", "Nồi cơm nấu dở", hay "Bát nước chè xanh", nhưng tất cả đều gói trọn tình yêu thương chân thành nhất. Những chi tiết đời thường này chính là biểu tượng của tinh thần "nhường cơm sẻ áo", là sự đồng cam cộng khổ của nhân dân dành cho người lính. Cuộc gặp gỡ bên bát nước chè xanh, cùng ngồi "kể chuyện tâm tình" đã xóa tan mọi khoảng cách, đưa quân và dân hòa nhập làm một khối thống nhất. Chính sức mạnh từ hậu phương giản dị này đã tiếp thêm ý chí để người lính tiếp tục vững tay súng nơi chiến trường.

Về nghệ thuật, Hoàng Trung Thông đã sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt, lúc nhanh mạnh như bước chân hành quân, lúc chậm rãi tâm tình. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân, tạo nên sự gần gũi và chân thực. Việc sử dụng các từ láy như "rộn ràng", "tưng bừng", "hớn hở", "bịn rịn", "xôn xao" đã tạo nên một không gian đầy ắp âm thanh và cảm xúc. Đặc biệt, sự kết hợp giữa các hình ảnh biểu trưng (áo nâu, mái lá, chè xanh) đã khắc họa đậm nét tâm hồn Việt Nam: giản dị nhưng kiên cường và giàu lòng nhân ái.

Tóm lại, qua đoạn trích "Bộ đội về làng", Hoàng Trung Thông không chỉ ngợi ca vẻ đẹp của người lính Cách mạng mà còn khẳng định chân lý: niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân chính là cội nguồn của mọi thắng lợi. Bài thơ mãi là một bài ca đẹp về tình nghĩa quân dân, lay động trái tim người đọc bởi sự chân thành và tình yêu quê hương đất nước

Câu 1. Thông tin chính mà tác giả muốn truyền tải qua văn bản này là :Cung cấp những kiến thức cơ bản và toàn diện về bão, bao gồm: khái niệm, đặc điểm của mắt bão, nguyên nhân hình thành (chủ quan và khách quan) cũng như những tác hại, hậu quả nghiêm trọng của bão đối với đời sống con người.

Câu 2. Theo tác giả, sự khác nhau giữa bão và mắt bão là:

  • Bão: Là một trạng thái nhiễu động khí quyển cực đoan, có sức phá hoại lớn với gió rít mạnh và mưa nặng hạt.
  • Mắt bão: Là vùng nằm ở chính giữa trung tâm của cơn bão, trái ngược với sự hung dữ bên ngoài, đây lại là nơi có thời tiết bình yên, ít gió và trời quang mây tạnh.

Câu 3.

  • a. Thành phần biệt lập: Thành phần chú thích: (mắt bão lỗ kim).
  • b. Kiểu câu: Xét theo mục đích nói, đây là câu trần thuật (dùng để kể, xác nhận một thực tế về hậu quả của bão).

Câu 4. Cách triển khai thông tin và hiệu quả:

  • Cách triển khai: Tác giả triển khai thông tin theo mối quan hệ nguyên nhân - kết quả và phân loại đối tượng (nguyên nhân chủ quan từ con người và nguyên nhân khách quan từ tự nhiên).
  • Hiệu quả: Giúp người đọc dễ dàng theo dõi, nắm bắt vấn đề một cách logic, khoa học; đồng thời nhấn mạnh được vai trò, trách nhiệm của con người đối với hiện tượng biến đổi khí hậu.

Câu 5. Tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản: Văn bản sử dụng hình ảnh minh họa về cấu tạo của bão (mắt bão và thành mắt bão).

  • Tác dụng: Giúp người đọc dễ dàng hình dung cụ thể, trực quan về hình dạng và cấu trúc của một cơn bão mà ngôn ngữ khó diễn tả hết; làm tăng tính sinh động và sức thuyết phục cho các thông tin khoa học trong bài.

Câu 6.

Trước những hậu quả tàn khốc mà bão lũ gây ra, thế hệ trẻ chúng ta cần có những hành động thiết thực để bảo vệ môi trường và hạn chế thiên tai. Trước hết, mỗi người cần nâng cao ý thức bằng cách tích cực trồng cây gây rừng và bảo vệ diện tích rừng hiện có để tạo lá chắn xanh ngăn bão. Chúng ta cũng nên thực hiện lối sống xanh, giảm thiểu rác thải nhựa và tiết kiệm năng lượng nhằm giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính - một trong những nguyên nhân khiến bão trở nên dữ dội hơn. Bên cạnh đó, việc trang bị kỹ năng sinh tồn và kiến thức về phòng chống thiên tai là vô cùng cần thiết để bảo vệ bản thân và gia đình. Cuối cùng, hãy là những tuyên truyền viên tích cực để lan tỏa ý thức bảo vệ mẹ thiên nhiên đến cộng đồng. Chỉ khi chúng ta hành động trách nhiệm, những tổn thất từ thiên tai mới có thể được giảm nhẹ.

Ý thơ "Ta hoá phù sa mỗi bến chờ" thể hiện sự cống hiến, hy sinh âm thầm nhưng bền bỉ của con người Việt Nam dành cho quê hương, tương tự như phù sa vun đắp cho đất. Hình ảnh này biểu tượng cho tình yêu thương, nuôi dưỡng tình cảm (bến chờ) và đạo lý "uống nước nhớ nguồn," thể hiện tấm lòng gắn bó, sẵn sàng hoá thân vào đất mẹ.

Bài thơ Khi mùa mưa đến thể hiện cảm hứng của sự tha thiết, thương nhớ và gắn bó sâu nặng với quê hương của nhà thơ. Mùa mưa hiện lên không chỉ là hiện tượng thời tiết mà còn đọng lại ngững kí ức tuổi thơ , làm “lòng trẻ lại”, những cảm xúc yên tĩnh,lặng lẽ. Trong mưa có “hạt vui với hạt buồn”, pha trộng giữa quá khứ và thực tại bây giờ . Đặc biệt, hình ảnh “ta hoá phù sa mỗi bến chờ” cho thấy khát vọng sống nhân hậu, được dâng hiến và bồi đắp cho quê hương như phù sa âm thầm làm màu mỡ bãi bờ. Qua đó, ta cảm nhận được một tâm hồn giàu yêu thương, trân trọng thiên nhiên và luôn hướng về những giá trị tốt đẹp của cuộc sống.

Trên mảnh đất quê hương Việt Nam có rất nhiều con hẻm,góc phố mang một dấu ấn của những anh hùng đã hi sinh.Nơi diễn ra các cuộc chiến khốc liệt,hung bạo có sự góp phần của các lính anh hùng.Những người anh hùng vác trên vai mình một chiếc balo hành trang ra quân,vác trên vai những khẩu súng,dù trong những cuộc đời ấy vẫn còn mang theo mình những ước mơ nhưng vì quê hương đất nước nên phải theo đoàn ra quân.Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi được Lê Minh Khuê viết vào năm 1971, khi cuộc chiến đấu của quân dân ta đang ở giai đoạn cam go, ác liệt nhất.

Văn bản kể về 3 cô gái làm nhiệm vụ lấp các hố bom,đếm các số bom chưa nổ hoặc đã nổ,nếu cần thiết thì có thể phá,người ta gọi họ là tổ trinh sát mặt đường ,họ làm việc tại một cao điểm thường xuyên bị địch bắn phá bằng đủ các loại bom trên tuyến đường Trường Sơn.1 ngày các cô gái ấy sẽ lấp khoảng 5 hố bom,hôm ít thì sẽ 3 hố.3 cô gái ấy tên là Nho,Thao,Phương Định ,3 cô gái mang theo hi vọng sau chiến tranh là sẽ thực hiện ước mơ của mình.

Khi đang bàn chuyện hòa bình thì trên bầu trời xuất hiện những chiếc máy bay trinh sát ,tiếng vang của những chiếc máy bay vô cùng chói tai,đầy căng thẳng và khó chịu.Thao kéo tay Nho ra ngoài thực hiện nhiệm vụ,chỉ còn Phương Định trong hang với niềm lo lắng.Khi Phương Định ra ngoài ,xuất hiện những tiểu đoàn công binh đến hộ trợ đoàn cao xạ phía bên kia đồi,Phương Định vui mừng nhưng bị chị Thao kéo tay xuống một mô đất nhỏ,thấy Nho đang bị thương nằm ở đó.Phương Định tới kéo cô lên đùi rồi cùng chị Thao đưa vào hang băng bó lại vết thương.

Sau một hồi băng bó vết thương thì bất chợt có một cơn mưa đá kéo đến.Phương Định lao ra ngoài như một đứa trẻ ,nhặt một vài viên đá vào cho Nho,Nho cũng ngồi dậy réo Phương Định nhặt thêm vài viên nữa.Nhưng cơn mưa đá đó đã rời đi để lại Phương Định một mình ngơ ngác,có lẽ cơn mưa đá đó cũng làm cho cô nhớ về thành phố tuổi thơ,nhớ người mẹ đang ở nhà.Lúc sau 3 cô gái thấy những chiếc xe đi giăng hàng theo lớp cải trang trên người,cả 3 nghĩ ''chắc tối nay các anh ở Hà Nội sẽ vào!''.Nho đứng cạnh Phương Định cũng thì thầm.Họ cảm thấy hiểu nhau và hạnh phúc.

Có thể nói, ở ba cô gái này, ta cảm nhận những nét tính cách đối lập: họ vừa là người chiến sĩ dũng cảm, gan dạ, sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc, vừa là ba cô gái hồn nhiên, đầy nữ tính và có lòng yêu quê hương đất nước lắng sâu da diết. Đó không phải chỉ là vẻ đẹp tâm hồn của riêng họ, mà là nét đẹp tâm hồn chung của những con người Việt Nam trẻ tuổi thời đại chống Mỹ cứu nước.

Lê Minh Khuê đã chọn cho mình một cách viết thật bình dị, với ngôn từ mang đậm hơi thở của chiến tranh. Ngôi kể của truyện là Phương Định - "tôi", thế nên lời kể thật tự nhiên và trẻ trung. Có lẽ bản thân nhà văn từng là một cô gái thanh niên xung phong, nên bà miêu tả tâm lý nhân vật rất thật, rất tinh tế. Từ đó, bà đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng hồn nhiên và lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn đầy khói lửa. Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi có thể được coi là một khúc ca ca ngợi vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam