Lương Minh Trí
Giới thiệu về bản thân
Bài 1:
Câu 1:
Thời gian trong truyện là thời gian phiếm chỉ, không xác định cụ thể ngày tháng hay thời điểm nào. Truyện chỉ kể “một hôm đi đường” nên mang tính khái quát, phổ biến.
Câu 2:
Sự kiện chính trong truyện là: hai vợ chồng người thầy bói cãi nhau về đám ma vì người chồng mù không thấy cờ phướn, còn người vợ điếc không nghe thấy trống kèn.
Câu 3:
Điểm chung của hai nhân vật chính là: cả hai đều có khiếm khuyết về giác quan và đều chủ quan, chỉ tin vào điều bản thân cảm nhận được nên dẫn đến hiểu sai sự việc.
Câu 4
Đề tài của truyện: Nhận thức và cách nhìn nhận sự việc trong cuộc sống.
Căn cứ xác định:
Truyện kể về hai vợ chồng do hạn chế của bản thân nên mỗi người chỉ nhận biết được một phần của sự việc, từ đó xảy ra tranh cãi. Qua câu chuyện, tác giả dân gian muốn phê phán sự phiến diện, chủ quan và khuyên con người cần nhìn nhận sự việc toàn diện.
Câu 5:
Em đồng ý với ý kiến: “Muốn hiểu đúng sự việc, cần biết lắng nghe và tôn trọng góc nhìn của người khác.” Trong cuộc sống, mỗi người chỉ có thể nhìn thấy hoặc hiểu một phần của vấn đề. Nếu chỉ khăng khăng bảo vệ ý kiến của mình mà không chịu lắng nghe người khác thì rất dễ hiểu sai sự việc. Biết lắng nghe sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ và khách quan hơn. Ví dụ, khi làm việc nhóm, nếu các thành viên cùng trao đổi và tôn trọng ý kiến của nhau thì công việc sẽ đạt kết quả tốt hơn. Vì vậy, lắng nghe và tôn trọng người khác là điều rất cần thiết.
Bài 2:
Câu 1:
Trong truyện ngụ ngôn “Hai vợ chồng người thầy bói”, hai nhân vật chính hiện lên vừa đáng thương vừa đáng phê phán. Người chồng bị mù nên chỉ nghe thấy tiếng trống kèn, còn người vợ bị điếc nên chỉ nhìn thấy cờ phướn. Vì ai cũng cho rằng mình đúng nên dẫn đến cãi vã gay gắt giữa đường. Qua đó, truyện phê phán thói chủ quan, phiến diện của con người khi nhìn nhận sự việc. Mỗi người chỉ biết dựa vào cảm nhận của bản thân mà không chịu lắng nghe hay tôn trọng ý kiến của người khác. Đồng thời, câu chuyện còn nhắc nhở chúng ta cần có cái nhìn toàn diện, khách quan và biết lắng nghe để hiểu đúng bản chất của sự việc. Đây là bài học sâu sắc, vẫn còn ý nghĩa trong cuộc sống hôm nay.
Câu 2:
Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, mạng xã hội đã trở thành một phần quen thuộc trong cuộc sống con người. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà nó mang lại, nhiều người cho rằng: “Mạng xã hội khiến con người cô đơn hơn.” Đây là một ý kiến hoàn toàn đúng đắn.
Trước hết, mạng xã hội khiến con người dần giảm sự kết nối trực tiếp với nhau. Nhiều người dành hàng giờ để lướt điện thoại, trò chuyện qua màn hình nhưng lại ít quan tâm đến những người xung quanh. Trong các bữa ăn hay buổi gặp mặt, không khó để bắt gặp hình ảnh mọi người ngồi cạnh nhau nhưng ai cũng chăm chú vào điện thoại của mình. Sự giao tiếp thật dần bị thay thế bởi những cuộc trò chuyện ngắn ngủi trên mạng.
Không chỉ vậy, mạng xã hội còn khiến con người dễ rơi vào cảm giác cô đơn, áp lực và tự ti. Khi nhìn thấy cuộc sống hào nhoáng của người khác qua những bức ảnh hay video được đăng tải, nhiều người cảm thấy bản thân thua kém, buồn chán và mất tự tin. Những “lượt thích” hay “lượt theo dõi” đôi khi trở thành thước đo giá trị bản thân, khiến con người sống phụ thuộc vào sự công nhận của người khác.
Ngoài ra, việc quá phụ thuộc vào mạng xã hội còn làm giảm khả năng giao tiếp ngoài đời thực. Nhiều bạn trẻ ngại trò chuyện trực tiếp, khó bày tỏ cảm xúc và dần thu mình trong thế giới riêng. Điều đó khiến khoảng cách giữa người với người ngày càng lớn hơn.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận mạng xã hội cũng giúp con người kết nối và chia sẻ thông tin nhanh chóng. Điều quan trọng là mỗi người cần biết sử dụng mạng xã hội hợp lí, cân bằng giữa thế giới ảo và đời sống thực tế.
Mạng xã hội sẽ chỉ thực sự có ích khi con người làm chủ được nó. Vì vậy, mỗi chúng ta cần dành nhiều thời gian hơn cho gia đình, bạn bè và những cuộc trò chuyện chân thành để không bị rơi vào cảm giác cô đơn giữa thế giới hiện đại.
Kiến và Ve Sầu Ngày xưa, Kiến và Ve Sầu là đôi bạn rất thân. Chúng cùng ở với nhau trên một cành cây khô. Thời ấy, thức ăn trên mặt đất còn thừa thãi nên ngày ngày chúng ăn xong lại rong chơi, tối lại cùng nhau ngủ trên cành cây. Một đêm, trời bỗng dưng nổi cơn mưa bão, cây cối ngả nghiêng. Nước trút xuống như thác. Cành cây khô bị gãy, văng đi rất xa, văng cả đôi bạn thân xuống đất. Chúng phải cố sống bám lấy rễ cây để khỏi bị nước mưa cuốn đi. Sáng hôm sau, trời lại quang đãng. Kiến và ve đều ướt lướt thướt, mình mẩy đau như dần. Kiến bỗng nảy ra một ý nghĩ: “Phải làm tổ để tránh mưa gió”. Kiến bàn bạc với Ve Sầu, Ve Sầu mỉm cười: – Chúng ta từ trước tới giờ vẫn sống trên cành cây. Gió bão năm thì mười họa mới có một lần, hơi đâu mà làm tổ cho mệt xác. Nhưng Kiến vẫn lo gió bão. Nó tìm một gốc cây khá chắc để làm nhà, ngày ngày nó đi tìm mùn lá, đem lên xây đắp một kiểu nhà mới. Dưới ánh nắng hè gay gắt, công việc làm rất vất vả, nhưng Kiến không nản lòng. Còn Ve Sầu đã không làm với bạn thì chớ, lại còn chế nhạo bạn. Mặc cho bạn chế giễu, Kiến cứ hì hục ngày này sang ngày khác và một tháng sau thì ngôi nhà xinh xắn đã hoàn thành. Nó nghĩ thương Ve Sầu, ngày nắng đêm sương, nên tha thiết mời Ve Sầu về cùng ở. Lúc đầu, vì không bỏ sức lao động ra, Ve Sầu cũng thấy ngượng ngùng thế nào ấy. Nhưng thấy Kiến khẩn khoản, mà ngôi nhà thì xinh xắn quá, nên nó cũng đồng ý. Ở cùng Kiến, Ve Sầu chẳng chịu làm gì. Đến bữa thì đi kiếm ăn, ăn xong lại nằm hát nghêu ngao, mặc cho Kiến một mình hì hục quét dọn, xếp đặt nhà cửa cho ngăn nắp. Kiến thường lo lắng đến mùa đông tháng giá, thức ăn khó kiếm, nên bàn với Ve Sầu: “Chúng ta đã có nhà ở rồi, nhưng chúng ta còn phải kiếm thức ăn để dành, khi mưa rét khỏi phải nhịn đói”. Ve Sầu nói: “Thức ăn khối ra đấy, tích trữ làm gì cho mệt xác”. Kiến bực mình, để mặc Ve Sầu ở nhà ca hát, ngày ngày xuống đất kiếm mồi. Chẳng bao lâu, nhà Kiến đầy ăm ắp thức ăn dùng trong cả mùa đông chưa chắc đã hết. Nhưng trong khi Kiến đi tìm mồi, Ve Sầu ở nhà một mình thấy buồn, đi múa hát với đàn bướm, tối lại về nhà ngủ. Một hôm, trời tối đã lâu, Kiến nóng lòng chờ bạn mà không thấy bạn về. Sáng sớm hôm sau, Kiến đi tìm Ve Sầu, nghe thấy Ve Sầu đang nghêu ngao trên cành lá, Kiến bò tới: – Anh đi đâu mà cả đêm hôm qua không về nhà? Về đi thôi. Về mà xem, nhà rất nhiều thức ăn. Ta không lo gì mùa đông tháng giá nữa. Ve Sầu đã không về thì thôi, lại còn mắng bạn: – Anh ngu lắm. Thức ăn đầy rẫy thế này tội gì mà hì hục cho mệt xác. Anh xem tôi có chết đâu. Thôi từ nay anh mặc tôi. Ai lo phận nấy. Kiến buồn bã ra về. Ít lâu sau, lá rừng dần dần ngả màu vàng, chỉ hơi có gió nhẹ là thi nhau rụng tới tấp. Trời trở rét. Mưa tầm tã suốt ngày, gió bấc thổi từng cơn. Rét thấu xương. Ve Sầu không có chỗ trú, ướt như chuột lột, run như cầy sấy. Ve Sầu ngượng quá, không dám lại nhà Kiến nên lần mò đến nhà Ong xin ăn. Nó vừa lò dò đến cửa thì Ong tưởng ve vào ăn cướp vội xông ra đốt. Ve Sầu đau quá, vừa chạy, vừa kêu khóc ầm ĩ. Bị Ong đốt nên mắt Ve Sầu lồi ra, mũi sưng vù lên và vì quá đói bụng nên bụng ve tuy to nhưng rỗng tuếch. 1. Chỉ ra tình huống truyện của văn bản “Kiến và Ve Sầu”. Nêu vai trò của tình huống ấy. 2. Truyện “Kiến và Ve Sầu” đã để lại cho em bài học gì? 3. Viết bài văn ngắn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử. 3. Mình gợi ý trả lời ngắn gọn – đúng kiểu bài kiểm tra đọc hiểu nhé: 1. Chỉ ra tình huống truyện của văn bản “Kiến và Ve Sầu”. Nêu vai trò của tình huống ấy. Tình huống truyện: Sau trận mưa bão làm gãy cành cây, Kiến quyết định làm nhà và tích trữ thức ăn để phòng khi mưa rét, còn Ve Sầu thì lười biếng, chỉ ca hát và không chuẩn bị gì cho mùa đông. Vai trò của tình huống: Làm nổi bật sự đối lập giữa hai nhân vật: Kiến chăm chỉ, lo xa; Ve Sầu lười biếng, chủ quan. Là cơ sở để câu chuyện phát triển và dẫn đến kết cục khác nhau của hai nhân vật. Qua đó giúp tác giả gửi gắm bài học đạo đức cho người đọc. 2. Truyện “Kiến và Ve Sầu” đã để lại cho em bài học gì? Truyện giúp em hiểu rằng mỗi người cần chăm chỉ lao động, biết lo xa và chuẩn bị cho tương lai. Nếu sống lười biếng, chỉ biết hưởng thụ như Ve Sầu thì khi gặp khó khăn sẽ phải chịu hậu quả. Vì vậy chúng ta cần siêng năng học tập và làm việc, không nên ỷ lại hay lười biếng. 3. Viết bài văn ngắn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử. Bài văn mẫu (ngắn gọn): Một trong những sự kiện lịch sử mà em nhớ nhất là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Đây là trận đánh lớn của quân và dân ta chống lại thực dân Pháp. Trong chiến dịch này, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta đã bao vây và tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm chiến đấu gian khổ, bộ đội ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thiếu thốn để giành thắng lợi vang dội. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ chiến thắng của quân ta đã tung bay trên nóc hầm của tướng Đờ Cát. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm chấn động thế giới, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Sự kiện này thể hiện tinh thần dũng cảm, kiên cường và lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam. Qua câu chuyện lịch sử đó, em càng thêm tự hào về truyền thống đấu tranh của dân tộc và nhắc nhở bản thân phải cố gắng học tập để góp phần xây dựng đất nước. Nếu bạn muốn, mình cũng có thể: Viết lại câu 3 hay hơn để đạt điểm cao (8–9 điểm). Hoặc viết bài kể về Bác Hồ, Võ Thị Sáu, Trần Quốc Toản… cho sinh động hơn. CON LỪA VÀ BÁC NÔNG DÂN Một ngày nọ, con lừa của một ông chủ trang trại sẩy chân rơi xuống một cái giếng. Lừa kêu la tội nghiệp hàng giờ liền. Người chủ trang trại cố nghĩ xem nên làm gì… Cuối cùng ông quyết định: con lừa đã già, dù sao thì cái giếng cũng cần được lấp lại và không ích lợi gì trong việc cứu con lừa lên cả. Thế là ông nhờ vài người hàng xóm sang giúp mình. Họ xúc đất và đổ vào giếng. Ngay từ đầu, lừa đã hiểu chuyện gì đang xảy ra và nó kêu la thảm thiết. Nhưng sau đó lừa trở nên im lặng. Sau một vài xẻng đất, ông chủ trang trại nhìn xuống giếng và vô cùng sửng sốt. Mỗi khi bị một xẻng đất đổ lên lưng, lừa lắc mình cho đất rơi xuống và bước chân lên trên. Cứ như vậy, đất đổ xuống, lừa lại bước lên cao hơn. Chỉ một lúc sau mọi người nhìn thấy chú lừa xuất hiện trên miệng giếng và lóc cóc chạy ra ngoài. 1. Hãy chỉ ra sự khác biệt trong hành động và suy nghĩ của bác nông dân với con lừa. 2. Bài học mà em rút ra được từ truyện là gì? 3. Viết bài văn nghị luận về vấn đề "Cuộc sống không thể thiếu vắng tình bạn". Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, rõ ý cho từng câu hỏi: 1. Hãy chỉ ra sự khác biệt trong hành động và suy nghĩ của bác nông dân với con lừa. Bác nông dân: Nghĩ rằng con lừa đã già, không còn ích lợi nên quyết định lấp giếng, chấp nhận để con lừa bị chôn vùi dưới lớp đất. Con lừa: Ban đầu kêu la đau đớn, nhưng sau đó bình tĩnh và tìm cách thoát thân. Mỗi khi đất đổ xuống lưng, nó lắc đất rơi xuống rồi bước lên trên, nhờ đó dần dần thoát khỏi cái giếng. ➡️ Sự khác biệt: Bác nông dân bỏ cuộc và nghĩ theo hướng tiêu cực, còn con lừa không đầu hàng hoàn cảnh, kiên trì tìm cách vượt qua khó khăn. 2. Bài học mà em rút ra được từ truyện là gì? Câu chuyện dạy chúng ta rằng trong cuộc sống, khi gặp khó khăn hay thử thách, chúng ta không nên nản chí hay bỏ cuộc. Nếu biết bình tĩnh, kiên trì và tìm cách vượt qua, chúng ta có thể biến khó khăn thành cơ hội để vươn lên. Mỗi người cần có ý chí và nghị lực để vượt qua nghịch cảnh. 3. Viết bài văn nghị luận về vấn đề “Cuộc sống không thể thiếu vắng tình bạn”. Bài văn mẫu: Trong cuộc sống của mỗi con người, ngoài tình cảm gia đình thì tình bạn cũng giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Có thể nói rằng cuộc sống sẽ trở nên buồn tẻ và cô đơn nếu thiếu đi tình bạn. Trước hết, tình bạn là mối quan hệ gắn bó giữa những người có sự đồng cảm, tin tưởng và chia sẻ với nhau. Một người bạn tốt luôn sẵn sàng lắng nghe, giúp đỡ và động viên ta khi gặp khó khăn. Nhờ có bạn bè, chúng ta cảm thấy cuộc sống vui vẻ hơn, có thêm động lực để học tập và làm việc tốt hơn. Không chỉ vậy, tình bạn còn giúp con người hoàn thiện bản thân. Những người bạn chân thành thường nhắc nhở nhau sửa chữa khuyết điểm và cùng nhau tiến bộ. Trong học tập, bạn bè có thể giúp nhau giải bài khó, chia sẻ kinh nghiệm và cùng nhau phấn đấu đạt kết quả tốt. Nhiều tình bạn đẹp đã trở thành kỷ niệm đáng nhớ trong cuộc đời mỗi người. Tuy nhiên, để có được tình bạn đẹp, mỗi người cần biết sống chân thành, tôn trọng và quan tâm đến bạn bè. Tình bạn không thể tồn tại nếu chỉ có sự ích kỷ hay lợi dụng lẫn nhau. Tóm lại, tình bạn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Vì vậy, mỗi chúng ta hãy biết trân trọng và giữ gìn những tình bạn tốt đẹp để cuộc sống trở nên ý nghĩa và hạnh phúc hơn.
Câu chuyện dạy chúng ta rằng trong cuộc sống, khi gặp khó khăn hay thử thách, chúng ta không nên nản chí hay bỏ cuộc. Nếu biết bình tĩnh, kiên trì và tìm cách vượt qua, chúng ta có thể biến khó khăn thành cơ hội để vươn lên. Mỗi người cần có ý chí và nghị lực để vượt qua nghịch cảnh.
Bác nông dân: Nghĩ rằng con lừa đã già, không còn ích lợi nên quyết định lấp giếng, chấp nhận để con lừa bị chôn vùi dưới lớp đất. Con lừa: Ban đầu kêu la đau đớn, nhưng sau đó bình tĩnh và tìm cách thoát thân. Mỗi khi đất đổ xuống lưng, nó lắc đất rơi xuống rồi bước lên trên, nhờ đó dần dần thoát khỏi cái giếng. Sự khác biệt: Bác nông dân bỏ cuộc và nghĩ theo hướng tiêu cực, còn con lừa không đầu hàng hoàn cảnh, kiên trì tìm cách vượt qua khó khăn.
Kiến và Ve Sầu Ngày xưa, Kiến và Ve Sầu là đôi bạn rất thân. Chúng cùng ở với nhau trên một cành cây khô. Thời ấy, thức ăn trên mặt đất còn thừa thãi nên ngày ngày chúng ăn xong lại rong chơi, tối lại cùng nhau ngủ trên cành cây. Một đêm, trời bỗng dưng nổi cơn mưa bão, cây cối ngả nghiêng. Nước trút xuống như thác. Cành cây khô bị gãy, văng đi rất xa, văng cả đôi bạn thân xuống đất. Chúng phải cố sống bám lấy rễ cây để khỏi bị nước mưa cuốn đi. Sáng hôm sau, trời lại quang đãng. Kiến và ve đều ướt lướt thướt, mình mẩy đau như dần. Kiến bỗng nảy ra một ý nghĩ: “Phải làm tổ để tránh mưa gió”. Kiến bàn bạc với Ve Sầu, Ve Sầu mỉm cười: – Chúng ta từ trước tới giờ vẫn sống trên cành cây. Gió bão năm thì mười họa mới có một lần, hơi đâu mà làm tổ cho mệt xác. Nhưng Kiến vẫn lo gió bão. Nó tìm một gốc cây khá chắc để làm nhà, ngày ngày nó đi tìm mùn lá, đem lên xây đắp một kiểu nhà mới. Dưới ánh nắng hè gay gắt, công việc làm rất vất vả, nhưng Kiến không nản lòng. Còn Ve Sầu đã không làm với bạn thì chớ, lại còn chế nhạo bạn. Mặc cho bạn chế giễu, Kiến cứ hì hục ngày này sang ngày khác và một tháng sau thì ngôi nhà xinh xắn đã hoàn thành. Nó nghĩ thương Ve Sầu, ngày nắng đêm sương, nên tha thiết mời Ve Sầu về cùng ở. Lúc đầu, vì không bỏ sức lao động ra, Ve Sầu cũng thấy ngượng ngùng thế nào ấy. Nhưng thấy Kiến khẩn khoản, mà ngôi nhà thì xinh xắn quá, nên nó cũng đồng ý. Ở cùng Kiến, Ve Sầu chẳng chịu làm gì. Đến bữa thì đi kiếm ăn, ăn xong lại nằm hát nghêu ngao, mặc cho Kiến một mình hì hục quét dọn, xếp đặt nhà cửa cho ngăn nắp. Kiến thường lo lắng đến mùa đông tháng giá, thức ăn khó kiếm, nên bàn với Ve Sầu: “Chúng ta đã có nhà ở rồi, nhưng chúng ta còn phải kiếm thức ăn để dành, khi mưa rét khỏi phải nhịn đói”. Ve Sầu nói: “Thức ăn khối ra đấy, tích trữ làm gì cho mệt xác”. Kiến bực mình, để mặc Ve Sầu ở nhà ca hát, ngày ngày xuống đất kiếm mồi. Chẳng bao lâu, nhà Kiến đầy ăm ắp thức ăn dùng trong cả mùa đông chưa chắc đã hết. Nhưng trong khi Kiến đi tìm mồi, Ve Sầu ở nhà một mình thấy buồn, đi múa hát với đàn bướm, tối lại về nhà ngủ. Một hôm, trời tối đã lâu, Kiến nóng lòng chờ bạn mà không thấy bạn về. Sáng sớm hôm sau, Kiến đi tìm Ve Sầu, nghe thấy Ve Sầu đang nghêu ngao trên cành lá, Kiến bò tới: – Anh đi đâu mà cả đêm hôm qua không về nhà? Về đi thôi. Về mà xem, nhà rất nhiều thức ăn. Ta không lo gì mùa đông tháng giá nữa. Ve Sầu đã không về thì thôi, lại còn mắng bạn: – Anh ngu lắm. Thức ăn đầy rẫy thế này tội gì mà hì hục cho mệt xác. Anh xem tôi có chết đâu. Thôi từ nay anh mặc tôi. Ai lo phận nấy. Kiến buồn bã ra về. Ít lâu sau, lá rừng dần dần ngả màu vàng, chỉ hơi có gió nhẹ là thi nhau rụng tới tấp. Trời trở rét. Mưa tầm tã suốt ngày, gió bấc thổi từng cơn. Rét thấu xương. Ve Sầu không có chỗ trú, ướt như chuột lột, run như cầy sấy. Ve Sầu ngượng quá, không dám lại nhà Kiến nên lần mò đến nhà Ong xin ăn. Nó vừa lò dò đến cửa thì Ong tưởng ve vào ăn cướp vội xông ra đốt. Ve Sầu đau quá, vừa chạy, vừa kêu khóc ầm ĩ. Bị Ong đốt nên mắt Ve Sầu lồi ra, mũi sưng vù lên và vì quá đói bụng nên bụng ve tuy to nhưng rỗng tuếch. 1. Chỉ ra tình huống truyện của văn bản “Kiến và Ve Sầu”. Nêu vai trò của tình huống ấy. 2. Truyện “Kiến và Ve Sầu” đã để lại cho em bài học gì? 3. Viết bài văn ngắn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử. 3. Mình gợi ý trả lời ngắn gọn – đúng kiểu bài kiểm tra đọc hiểu nhé: 1. Chỉ ra tình huống truyện của văn bản “Kiến và Ve Sầu”. Nêu vai trò của tình huống ấy. Tình huống truyện: Sau trận mưa bão làm gãy cành cây, Kiến quyết định làm nhà và tích trữ thức ăn để phòng khi mưa rét, còn Ve Sầu thì lười biếng, chỉ ca hát và không chuẩn bị gì cho mùa đông. Vai trò của tình huống: Làm nổi bật sự đối lập giữa hai nhân vật: Kiến chăm chỉ, lo xa; Ve Sầu lười biếng, chủ quan. Là cơ sở để câu chuyện phát triển và dẫn đến kết cục khác nhau của hai nhân vật. Qua đó giúp tác giả gửi gắm bài học đạo đức cho người đọc. 2. Truyện “Kiến và Ve Sầu” đã để lại cho em bài học gì? Truyện giúp em hiểu rằng mỗi người cần chăm chỉ lao động, biết lo xa và chuẩn bị cho tương lai. Nếu sống lười biếng, chỉ biết hưởng thụ như Ve Sầu thì khi gặp khó khăn sẽ phải chịu hậu quả. Vì vậy chúng ta cần siêng năng học tập và làm việc, không nên ỷ lại hay lười biếng. 3. Viết bài văn ngắn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử. Bài văn mẫu (ngắn gọn): Một trong những sự kiện lịch sử mà em nhớ nhất là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Đây là trận đánh lớn của quân và dân ta chống lại thực dân Pháp. Trong chiến dịch này, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta đã bao vây và tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm chiến đấu gian khổ, bộ đội ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thiếu thốn để giành thắng lợi vang dội. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ chiến thắng của quân ta đã tung bay trên nóc hầm của tướng Đờ Cát. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm chấn động thế giới, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Sự kiện này thể hiện tinh thần dũng cảm, kiên cường và lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam. Qua câu chuyện lịch sử đó, em càng thêm tự hào về truyền thống đấu tranh của dân tộc và nhắc nhở bản thân phải cố gắng học tập để góp phần xây dựng đất nước.
Kiến và Ve Sầu Ngày xưa, Kiến và Ve Sầu là đôi bạn rất thân. Chúng cùng ở với nhau trên một cành cây khô. Thời ấy, thức ăn trên mặt đất còn thừa thãi nên ngày ngày chúng ăn xong lại rong chơi, tối lại cùng nhau ngủ trên cành cây. Một đêm, trời bỗng dưng nổi cơn mưa bão, cây cối ngả nghiêng. Nước trút xuống như thác. Cành cây khô bị gãy, văng đi rất xa, văng cả đôi bạn thân xuống đất. Chúng phải cố sống bám lấy rễ cây để khỏi bị nước mưa cuốn đi. Sáng hôm sau, trời lại quang đãng. Kiến và ve đều ướt lướt thướt, mình mẩy đau như dần. Kiến bỗng nảy ra một ý nghĩ: “Phải làm tổ để tránh mưa gió”. Kiến bàn bạc với Ve Sầu, Ve Sầu mỉm cười: – Chúng ta từ trước tới giờ vẫn sống trên cành cây. Gió bão năm thì mười họa mới có một lần, hơi đâu mà làm tổ cho mệt xác. Nhưng Kiến vẫn lo gió bão. Nó tìm một gốc cây khá chắc để làm nhà, ngày ngày nó đi tìm mùn lá, đem lên xây đắp một kiểu nhà mới. Dưới ánh nắng hè gay gắt, công việc làm rất vất vả, nhưng Kiến không nản lòng. Còn Ve Sầu đã không làm với bạn thì chớ, lại còn chế nhạo bạn. Mặc cho bạn chế giễu, Kiến cứ hì hục ngày này sang ngày khác và một tháng sau thì ngôi nhà xinh xắn đã hoàn thành. Nó nghĩ thương Ve Sầu, ngày nắng đêm sương, nên tha thiết mời Ve Sầu về cùng ở. Lúc đầu, vì không bỏ sức lao động ra, Ve Sầu cũng thấy ngượng ngùng thế nào ấy. Nhưng thấy Kiến khẩn khoản, mà ngôi nhà thì xinh xắn quá, nên nó cũng đồng ý. Ở cùng Kiến, Ve Sầu chẳng chịu làm gì. Đến bữa thì đi kiếm ăn, ăn xong lại nằm hát nghêu ngao, mặc cho Kiến một mình hì hục quét dọn, xếp đặt nhà cửa cho ngăn nắp. Kiến thường lo lắng đến mùa đông tháng giá, thức ăn khó kiếm, nên bàn với Ve Sầu: “Chúng ta đã có nhà ở rồi, nhưng chúng ta còn phải kiếm thức ăn để dành, khi mưa rét khỏi phải nhịn đói”. Ve Sầu nói: “Thức ăn khối ra đấy, tích trữ làm gì cho mệt xác”. Kiến bực mình, để mặc Ve Sầu ở nhà ca hát, ngày ngày xuống đất kiếm mồi. Chẳng bao lâu, nhà Kiến đầy ăm ắp thức ăn dùng trong cả mùa đông chưa chắc đã hết. Nhưng trong khi Kiến đi tìm mồi, Ve Sầu ở nhà một mình thấy buồn, đi múa hát với đàn bướm, tối lại về nhà ngủ. Một hôm, trời tối đã lâu, Kiến nóng lòng chờ bạn mà không thấy bạn về. Sáng sớm hôm sau, Kiến đi tìm Ve Sầu, nghe thấy Ve Sầu đang nghêu ngao trên cành lá, Kiến bò tới: – Anh đi đâu mà cả đêm hôm qua không về nhà? Về đi thôi. Về mà xem, nhà rất nhiều thức ăn. Ta không lo gì mùa đông tháng giá nữa. Ve Sầu đã không về thì thôi, lại còn mắng bạn: – Anh ngu lắm. Thức ăn đầy rẫy thế này tội gì mà hì hục cho mệt xác. Anh xem tôi có chết đâu. Thôi từ nay anh mặc tôi. Ai lo phận nấy. Kiến buồn bã ra về. Ít lâu sau, lá rừng dần dần ngả màu vàng, chỉ hơi có gió nhẹ là thi nhau rụng tới tấp. Trời trở rét. Mưa tầm tã suốt ngày, gió bấc thổi từng cơn. Rét thấu xương. Ve Sầu không có chỗ trú, ướt như chuột lột, run như cầy sấy. Ve Sầu ngượng quá, không dám lại nhà Kiến nên lần mò đến nhà Ong xin ăn. Nó vừa lò dò đến cửa thì Ong tưởng ve vào ăn cướp vội xông ra đốt. Ve Sầu đau quá, vừa chạy, vừa kêu khóc ầm ĩ. Bị Ong đốt nên mắt Ve Sầu lồi ra, mũi sưng vù lên và vì quá đói bụng nên bụng ve tuy to nhưng rỗng tuếch. 1. Chỉ ra tình huống truyện của văn bản “Kiến và Ve Sầu”. Nêu vai trò của tình huống ấy. 2. Truyện “Kiến và Ve Sầu” đã để lại cho em bài học gì? 3. Viết bài văn ngắn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử. 3. Mình gợi ý trả lời ngắn gọn – đúng kiểu bài kiểm tra đọc hiểu nhé: 1. Chỉ ra tình huống truyện của văn bản “Kiến và Ve Sầu”. Nêu vai trò của tình huống ấy. Tình huống truyện: Sau trận mưa bão làm gãy cành cây, Kiến quyết định làm nhà và tích trữ thức ăn để phòng khi mưa rét, còn Ve Sầu thì lười biếng, chỉ ca hát và không chuẩn bị gì cho mùa đông. Vai trò của tình huống: Làm nổi bật sự đối lập giữa hai nhân vật: Kiến chăm chỉ, lo xa; Ve Sầu lười biếng, chủ quan. Là cơ sở để câu chuyện phát triển và dẫn đến kết cục khác nhau của hai nhân vật. Qua đó giúp tác giả gửi gắm bài học đạo đức cho người đọc. 2. Truyện “Kiến và Ve Sầu” đã để lại cho em bài học gì? Truyện giúp em hiểu rằng mỗi người cần chăm chỉ lao động, biết lo xa và chuẩn bị cho tương lai. Nếu sống lười biếng, chỉ biết hưởng thụ như Ve Sầu thì khi gặp khó khăn sẽ phải chịu hậu quả. Vì vậy chúng ta cần siêng năng học tập và làm việc, không nên ỷ lại hay lười biếng. 3. Viết bài văn ngắn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử. Bài văn mẫu (ngắn gọn): Một trong những sự kiện lịch sử mà em nhớ nhất là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Đây là trận đánh lớn của quân và dân ta chống lại thực dân Pháp. Trong chiến dịch này, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta đã bao vây và tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm chiến đấu gian khổ, bộ đội ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thiếu thốn để giành thắng lợi vang dội. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ chiến thắng của quân ta đã tung bay trên nóc hầm của tướng Đờ Cát. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm chấn động thế giới, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Sự kiện này thể hiện tinh thần dũng cảm, kiên cường và lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam. Qua câu chuyện lịch sử đó, em càng thêm tự hào về truyền thống đấu tranh của dân tộc và nhắc nhở bản thân phải cố gắng học tập để góp phần xây dựng đất nước.
Kiến và Ve Sầu Ngày xưa, Kiến và Ve Sầu là đôi bạn rất thân. Chúng cùng ở với nhau trên một cành cây khô. Thời ấy, thức ăn trên mặt đất còn thừa thãi nên ngày ngày chúng ăn xong lại rong chơi, tối lại cùng nhau ngủ trên cành cây. Một đêm, trời bỗng dưng nổi cơn mưa bão, cây cối ngả nghiêng. Nước trút xuống như thác. Cành cây khô bị gãy, văng đi rất xa, văng cả đôi bạn thân xuống đất. Chúng phải cố sống bám lấy rễ cây để khỏi bị nước mưa cuốn đi. Sáng hôm sau, trời lại quang đãng. Kiến và ve đều ướt lướt thướt, mình mẩy đau như dần. Kiến bỗng nảy ra một ý nghĩ: “Phải làm tổ để tránh mưa gió”. Kiến bàn bạc với Ve Sầu, Ve Sầu mỉm cười: – Chúng ta từ trước tới giờ vẫn sống trên cành cây. Gió bão năm thì mười họa mới có một lần, hơi đâu mà làm tổ cho mệt xác. Nhưng Kiến vẫn lo gió bão. Nó tìm một gốc cây khá chắc để làm nhà, ngày ngày nó đi tìm mùn lá, đem lên xây đắp một kiểu nhà mới. Dưới ánh nắng hè gay gắt, công việc làm rất vất vả, nhưng Kiến không nản lòng. Còn Ve Sầu đã không làm với bạn thì chớ, lại còn chế nhạo bạn. Mặc cho bạn chế giễu, Kiến cứ hì hục ngày này sang ngày khác và một tháng sau thì ngôi nhà xinh xắn đã hoàn thành. Nó nghĩ thương Ve Sầu, ngày nắng đêm sương, nên tha thiết mời Ve Sầu về cùng ở. Lúc đầu, vì không bỏ sức lao động ra, Ve Sầu cũng thấy ngượng ngùng thế nào ấy. Nhưng thấy Kiến khẩn khoản, mà ngôi nhà thì xinh xắn quá, nên nó cũng đồng ý. Ở cùng Kiến, Ve Sầu chẳng chịu làm gì. Đến bữa thì đi kiếm ăn, ăn xong lại nằm hát nghêu ngao, mặc cho Kiến một mình hì hục quét dọn, xếp đặt nhà cửa cho ngăn nắp. Kiến thường lo lắng đến mùa đông tháng giá, thức ăn khó kiếm, nên bàn với Ve Sầu: “Chúng ta đã có nhà ở rồi, nhưng chúng ta còn phải kiếm thức ăn để dành, khi mưa rét khỏi phải nhịn đói”. Ve Sầu nói: “Thức ăn khối ra đấy, tích trữ làm gì cho mệt xác”. Kiến bực mình, để mặc Ve Sầu ở nhà ca hát, ngày ngày xuống đất kiếm mồi. Chẳng bao lâu, nhà Kiến đầy ăm ắp thức ăn dùng trong cả mùa đông chưa chắc đã hết. Nhưng trong khi Kiến đi tìm mồi, Ve Sầu ở nhà một mình thấy buồn, đi múa hát với đàn bướm, tối lại về nhà ngủ. Một hôm, trời tối đã lâu, Kiến nóng lòng chờ bạn mà không thấy bạn về. Sáng sớm hôm sau, Kiến đi tìm Ve Sầu, nghe thấy Ve Sầu đang nghêu ngao trên cành lá, Kiến bò tới: – Anh đi đâu mà cả đêm hôm qua không về nhà? Về đi thôi. Về mà xem, nhà rất nhiều thức ăn. Ta không lo gì mùa đông tháng giá nữa. Ve Sầu đã không về thì thôi, lại còn mắng bạn: – Anh ngu lắm. Thức ăn đầy rẫy thế này tội gì mà hì hục cho mệt xác. Anh xem tôi có chết đâu. Thôi từ nay anh mặc tôi. Ai lo phận nấy. Kiến buồn bã ra về. Ít lâu sau, lá rừng dần dần ngả màu vàng, chỉ hơi có gió nhẹ là thi nhau rụng tới tấp. Trời trở rét. Mưa tầm tã suốt ngày, gió bấc thổi từng cơn. Rét thấu xương. Ve Sầu không có chỗ trú, ướt như chuột lột, run như cầy sấy. Ve Sầu ngượng quá, không dám lại nhà Kiến nên lần mò đến nhà Ong xin ăn. Nó vừa lò dò đến cửa thì Ong tưởng ve vào ăn cướp vội xông ra đốt. Ve Sầu đau quá, vừa chạy, vừa kêu khóc ầm ĩ. Bị Ong đốt nên mắt Ve Sầu lồi ra, mũi sưng vù lên và vì quá đói bụng nên bụng ve tuy to nhưng rỗng tuếch. 1. Chỉ ra tình huống truyện của văn bản “Kiến và Ve Sầu”. Nêu vai trò của tình huống ấy. 2. Truyện “Kiến và Ve Sầu” đã để lại cho em bài học gì? 3. Viết bài văn ngắn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử. 3. Mình gợi ý trả lời ngắn gọn – đúng kiểu bài kiểm tra đọc hiểu nhé: 1. Chỉ ra tình huống truyện của văn bản “Kiến và Ve Sầu”. Nêu vai trò của tình huống ấy. Tình huống truyện: Sau trận mưa bão làm gãy cành cây, Kiến quyết định làm nhà và tích trữ thức ăn để phòng khi mưa rét, còn Ve Sầu thì lười biếng, chỉ ca hát và không chuẩn bị gì cho mùa đông. Vai trò của tình huống: Làm nổi bật sự đối lập giữa hai nhân vật: Kiến chăm chỉ, lo xa; Ve Sầu lười biếng, chủ quan. Là cơ sở để câu chuyện phát triển và dẫn đến kết cục khác nhau của hai nhân vật. Qua đó giúp tác giả gửi gắm bài học đạo đức cho người đọc. 2. Truyện “Kiến và Ve Sầu” đã để lại cho em bài học gì? Truyện giúp em hiểu rằng mỗi người cần chăm chỉ lao động, biết lo xa và chuẩn bị cho tương lai. Nếu sống lười biếng, chỉ biết hưởng thụ như Ve Sầu thì khi gặp khó khăn sẽ phải chịu hậu quả. Vì vậy chúng ta cần siêng năng học tập và làm việc, không nên ỷ lại hay lười biếng. 3. Viết bài văn ngắn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử. Bài văn mẫu (ngắn gọn): Một trong những sự kiện lịch sử mà em nhớ nhất là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Đây là trận đánh lớn của quân và dân ta chống lại thực dân Pháp. Trong chiến dịch này, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta đã bao vây và tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm chiến đấu gian khổ, bộ đội ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thiếu thốn để giành thắng lợi vang dội. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ chiến thắng của quân ta đã tung bay trên nóc hầm của tướng Đờ Cát. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm chấn động thế giới, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Sự kiện này thể hiện tinh thần dũng cảm, kiên cường và lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam. Qua câu chuyện lịch sử đó, em càng thêm tự hào về truyền thống đấu tranh của dân tộc và nhắc nhở bản thân phải cố gắng học tập để góp phần xây dựng đất nước.