Mai Thị Thùy Dương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Mai Thị Thùy Dương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Thạch Lam, với lối viết tinh tế và giàu chất thơ, đã khắc họa sâu sắc những phận đời nhỏ bé và vấn đề xã hội trong truyện ngắn "Trở về". Đoạn trích về cuộc gặp gỡ giữa Tâm và người mẹ già đã làm nổi bật sự tha hóa của con người trước giá trị vật chất và sự xói mòn tình cảm gia đình, đặt ra bi kịch về sự xa cách giữa cội nguồn và tâm hồn thay đổi.

Đoạn trích miêu tả Tâm trở về quê sau sáu năm, chỉ vì "bận công việc" và tiện đường nghỉ mát. Anh ta, dù được mẹ tần tảo nuôi ăn học, giờ đây chỉ liên lạc với mẹ bằng tiền hàng tháng, bỏ qua thư từ và không báo tin lấy vợ. Cuộc gặp gỡ diễn ra trong không khí gượng gạo, lạnh lẽo. Ngôi nhà cũ kỹ, người mẹ già yếu, và Tâm thì thờ ơ, chỉ muốn nhanh chóng rời đi, coi chuyện quê nhà không liên quan đến "đời sống giàu sang" của mình. Lời nói "tôi - bà" thay vì "con - mẹ" cùng hành động đưa tiền một cách "kiêu ngạo" là biểu hiện rõ nét của sự vô cảm, xem nhẹ tình thân.

Chủ đề chính của tác phẩm là sự xói mòn tình cảm gia đình và đạo hiếu do ảnh hưởng của lối sống thành thị, thực dụng. Tiền bạc và địa vị đã làm lu mờ đi những giá trị cốt lõi, khiến con người đánh mất kết nối với cội nguồn. Nhan đề Trở về mang tính mỉa mai: Tâm trở về thể xác nhưng tâm hồn đã xa cách, đánh mất sự gắn kết với gia đình và quê hương.

Nhân vật Tâm là hình ảnh điển hình cho sự tha hóa, chạy theo vật chất, xem nhẹ tình thân. Anh ta thể hiện thái độ lạnh nhạt, gượng gạo, và chỉ dùng tiền để "bù đắp" trách nhiệm. Ngược lại, người mẹ hiện thân cho tình yêu thương bao dung, hy sinh vô điều kiện, dù bị con lãng quên vẫn luôn mong ngóng và lo lắng. Bà là biểu tượng của sự gắn bó với quê hương, tình mẫu tử thiêng liêng. Nhân vật Trinh tuy ít xuất hiện nhưng góp phần làm nổi bật sự vô tâm của Tâm qua sự gắn bó, thủy chung với quê nhà.

Về nghệ thuật, Thạch Lam sử dụng lối miêu tả tinh tế, giọng văn trữ tình, day dứt. Cảnh vật quê nhà xơ xác, không gian "ẩm thấp" gợi sự ngột ngạt, tương phản với sự "giàu sang" của Tâm. Ngôn ngữ đối thoại của Tâm mang tính khách sáo, thiếu tự nhiên. Biểu tượng "tiền bạc" thay thế tình thân, "nhà cũ" và "tiếng guốc chậm" gợi thời gian trôi và sự chờ đợi mòn mỏi. Tình huống "trở về" đầy trớ trêu làm bật lên bi kịch.

Câu chuyện của Tâm là lời cảnh tỉnh về giá trị của tình thân và đạo hiếu trong cuộc sống hiện đại. Nó nhắc nhở chúng ta không nên để vật chất làm lu mờ đi sự quan tâm, yêu thương dành cho gia đình, đặc biệt là cha mẹ.

"Trở về" không chỉ là tác phẩm văn học xuất sắc mà còn là thông điệp sâu sắc về việc giữ gìn tình cảm gia đình, lòng biết ơn với cội nguồn. Câu chuyện Tâm là lời nhắc nhở giữ gìn tâm hồn trong sáng, biết trân trọng tình thân, dù cuộc sống có đổi thay thế nào.


Câu 1. Thể thơ tự do.

Câu 2. 

– Người bộc lộ cảm xúc: nhân vật “tôi” (người lính).

– Cuộc gặp gỡ giữa nhân vật “tôi” và bà cụ (một người mẹ Việt Nam anh hùng).

Câu 3.

– Biện pháp so sánh.

– Tác dụng:

+ Giúp người đọc hình dung sự ấm áp của “ổ rơm” do chính tay bà cụ chuẩn bị cho người lính, tuy đơn sơ nhưng ấm hơn cả chăn đệm. Qua đó, cho thấy được tình cảm yêu thương, che chở của bà mẹ Việt Nam anh hùng dành cho những người lính.

+ Giúp câu thơ gợi hình, gợi cảm, diễn đạt mượt mà hơn.

Câu 4. 

– Học sinh nhận xét về hình ảnh “ổ rơm” trong bài thơ:

+ Hình ảnh chân thực, thân thuộc trong đời sống của những gia đình nghèo khó, lấy rơm lót ấm chỗ nằm khi không có chăn đệm.

+ Hình ảnh khơi gợi trong lòng tác giả tình yêu thương, sự biết ơn sâu sắc.

+ Hình ảnh thể hiện tình cảm yêu thương, sự bảo bọc, chở che của người mẹ Việt Nam anh hùng. Người mẹ luôn lo lắng, chăm sóc cho những chiến sĩ bằng tất cả những gì họ có, không ngại hiểm nguy.

Câu 5 Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình cảm yêu thương, sự biết ơn sâu sắc của nhân vật “tôi” (người lính) dành cho bà mẹ Việt Nam đã giúp đỡ, cưu mang mình trong một lần lỡ đường giữa đồng chiêm.

Câu 6.

Bài thơ “Hơi ấm ổ rơm” của Nguyễn Duy gợi trong em những cảm xúc lắng đọng và sâu xa về tình mẹ, về ký ức tuổi thơ và giá trị của yêu thương. Hình ảnh ổ rơm giản dị, mộc mạc nhưng thấm đẫm hơi ấm tình mẹ, trở thành biểu tượng cho sự chở che, bao bọc, nâng niu của mẹ dành cho con giữa những ngày đông giá rét. Đọc bài thơ, em cảm nhận được sự chân thành, xúc động trong lời thơ và những kỷ niệm thân thương gắn với làng quê, với mái nhà xưa. Hơi ấm từ ổ rơm không chỉ là hơi ấm vật chất, mà còn là hơi ấm của tình mẫu tử thiêng liêng, vĩnh cửu, nâng đỡ con người qua những năm tháng gian khó. Bài thơ khiến em thêm trân trọng những điều bình dị trong cuộc sống và càng yêu thương, biết ơn mẹ nhiều hơn.

em không vẽ được trên đây thầy ơi

  • Cạn: Xương rồng, hươu cao cổ, bồ câu.
  • Nước: Cá đuối, bạch tuộc.
  • Đất: Giun đất, dế trũi.
  • Sinh vật: Sâu đục thân, nấm linh chi, vi khuẩn E. coli
Để ngăn chặn hệ sinh thái bị ô nhiễm nặng hơn, cần thực hiện các biện pháp sau:
  • Nạo vét bùn đáy: Đây là biện pháp quan trọng nhất để loại bỏ trực tiếp nguồn chất khoáng đã tích tụ nhiều năm ở đáy đầm, ngăn chúng tiếp tục hòa tan vào nước.
  • Kiểm soát nguồn chất thải: Hạn chế tối đa việc xả nước thải sinh hoạt, phân bón hoặc thức ăn thừa của vật nuôi vào đầm. Cần tính toán lượng thức ăn cho cá, tôm vừa đủ để tránh dư thừa.
  • Sục khí oxy (Aeration): Tăng cường oxy hòa tan để giúp các loài cá, tôm dễ thở hơn và hỗ trợ vi khuẩn có lợi phân hủy chất hữu cơ một cách hiệu quả, tránh tình trạng tảo chết gây thối nguồn nước.
  • Sử dụng biện pháp sinh học:
    • Trồng thêm các loại thực vật thủy sinh (như sen, súng, bèo...) để chúng hấp thụ bớt chất khoáng, cạnh tranh dinh dưỡng với vi khuẩn lam và tảo.
    • Thả thêm một số loài cá ăn thực vật hoặc ăn lọc (như cá mè trắng) để kiểm soát lượng tảo phát triển quá mức.
Khi khẩu phần ăn thiếu iodine, tuyến giáp không có đủ nguyên liệu để sản xuất hormone, dẫn đến nồng độ hormone trong máu giảm thấp; lúc này, 

tuyến yên sẽ tiết ra nhiều hormone TSH để kích thích tuyến giáp hoạt động mạnh hơn nhằm bù đắp sự thiếu hụt, khiến các tế bào tuyến giáp phải tăng sinh và phình to để cố gắng hấp thụ iodine, từ đó hình thành bệnh bướu cổ

a, 45 x 40 = 1800mL

b,Việc không uống đủ nước và duy trì thói quen nhịn tiểu gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng cho hệ bài tiết:

  • Hình thành sỏi thận/sỏi bàng quang: Khi thiếu nước, nước tiểu bị cô đặc, các chất khoáng và chất thải khó hòa tan sẽ dễ kết tinh, lắng đọng tạo thành sỏi.
  • Nhiễm trùng đường tiết niệu: Nước tiểu lưu lại trong
  • bàng quang quá lâu khi nhịn tiểu là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, gây viêm nhiễm bàng quang và niệu đạo.
  • Suy giảm chức năng lọc của thận: Thận cần đủ nước để lọc bỏ các độc tố ra khỏi máu. Thiếu nước khiến chất độc tích tụ, gây áp lực lớn và làm tổn thương các tế bào thận.
  • Làm giãn bàng quang: Nhịn tiểu thường xuyên làm cơ bàng quang bị giãn ra, mất dần tính đàn hồi, dẫn đến khó kiểm soát việc đi tiểu hoặc tiểu dắt.


Việc để người bệnh nằm, di chuyển nhẹ nhàng và nâng cao đầu giúp ổn định huyết áp, giảm áp lực nội sọ để hạn chế tổn thương não, đồng thời giữ thông thoáng đường thở và ngăn ngừa nguy cơ sặc hoặc xuất huyết nặng thêm

a) \(\Delta A I E \sim \Delta A C I\) (g.g) suy ra \(\frac{A I}{A C} = \frac{A E}{A I}\) hay \(A I^{2} = A E . A C\) (1)

Chứng minh tương tự:

\(\Delta A I K \sim \Delta A K B\) (g.g) suy ra \(\frac{A K}{A B} = \frac{A F}{A K}\) hay \(A K^{2} = A B . A F\) (2)

Mà \(\Delta A B E \sim \Delta A C F\) (g.g) suy ra \(\frac{A B}{A C} = \frac{A E}{A F}\) hay \(A B . A F = A C . A E\) (3)

Từ (1), (2) và (3) ta có \(A I^{2} = A K^{2}\) suy ra \(A I = A K\).

b) Vì \(\hat{A} = 60^{\circ}\) suy ra \(\hat{B_{1}} = 30^{\circ}\)

Trong tam giác \(A B E\) vuông tại \(E\) nên \(A E = \frac{1}{2} A B ,\)

Trong tam giác \(A F C\) vuông tại \(F\) có \(\hat{C_{1}} = 30^{\circ}\) suy ra \(A F = \frac{1}{2} A C\).

Do đó, \(\Delta A E F \sim \Delta A B C\) (c.g.c).

suy ra \(\frac{S_{A E F}}{S_{A B C}} = \left(\left(\right. \frac{A E}{A B} \left.\right)\right)^{2} = \frac{1}{4}\).

Vậy \(S_{A E F} = \frac{1}{4} . 120 = 30\) cm\(^{2}\).

Gọi \(B F\) cắt \(D C\) tại \(K\)\(B E\) cắt \(D C\) tại \(I\), và \(E F\) cắt \(A B\) tại \(G\).

\(\Delta F A B\) có \(D K\) // \(A B\) suy ra \(\frac{D K}{A B} = \frac{F D}{F A}\) (1)

\(\Delta F A G\) có \(D H\) // \(A G\) suy ra \(\frac{D H}{A G} = \frac{F D}{F A}\) (2)

Từ (1) và (2) suy ra \(\frac{D K}{A B} = \frac{D H}{A G}\) hay \(\frac{D K}{D H} = \frac{A B}{A G}\) (*)

Tương tự \(\Delta E I C\) có \(A B\) // \(I C\) suy ra \(\frac{I C}{A B} = \frac{E C}{E A}\) (3)

\(\Delta E H C\) có \(H C\) // \(A B\) suy ra \(\frac{H C}{A G} = \frac{E C}{E A}\) (4)

Từ (3) và (4) ta có \(\frac{I C}{A B} = \frac{H C}{A G}\) hay \(\frac{I C}{H C} = \frac{A B}{A G}\) (**)

Từ (*) và (**) ta có \(\frac{D K}{D H} = \frac{I C}{H C}\).

Mà \(D H = H C\) (gt) suy ra \(D K = I C\)

Mặt khác \(B D = B C\) (gt) nên \(\Delta B D C\) cân

Suy ra \(\hat{B D K} = \hat{B C I}\)

Vậy \(\Delta B D K = \Delta B C I\) (c.g.c)

Suy ra \(\hat{D B K} = \hat{C B I}\).