ĐINH LÊ DUY

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của ĐINH LÊ DUY
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Văn minh Đại Việt từ thế kỷ 10 đến 19 có nền giáo dục Nho học rất phát triển. Đây là những thành tựu tiêu biểu nhất: + Xây dựng hệ thống trường học quy củ - Quốc Tử Giám: Năm 1076, nhà Lý lập Quốc Tử Giám ở Thăng Long. Đây là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, ban đầu dạy cho con vua, con quan, sau mở rộng cho học trò giỏi trong cả nước. - Trường công ở địa phương: Từ thời Lê sơ, mỗi phủ, huyện đều có trường công. Làng xã có trường tư do thầy đồ dạy. Tạo thành mạng lưới giáo dục từ trung ương đến cơ sở. +Chế độ khoa cử nghiêm ngặt, tồn tại gần 850 năm - Thi Hương, thi Hội, thi Đình: Bắt đầu từ 1075 thời Lý, hoàn thiện dưới thời Lê. 3 năm một khoa. Người đỗ cao nhất là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. - Lệ "trích tiên hiền": Năm 1442 thời Lê Thánh Tông bắt đầu cho khắc tên tiến sĩ lên bia đá ở Văn Miếu. Hiện còn 82 bia tiến sĩ, ghi danh 1304 vị đỗ đại khoa từ 1442-1779. Đây là di sản tư liệu thế giới được UNESCO công nhận. - *Không phân biệt xuất thân*: Lê Quý Đôn con nhà nông, Mạc Đĩnh Chi nhà nghèo vẫn đỗ đạt cao nhờ học giỏi. Khoa cử tạo đường tiến thân bằng học vấn cho người tài. + Nội dung giáo dục và tư tưởng - Đề cao Nho học: Lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm nội dung chính. Đào tạo quan lại trung quân ái quốc, có đạo đức, biết trị nước an dân. - Xuất hiện chữ Nôm: Từ thời Trần, Hồ, chữ Nôm được dùng để sáng tác, giảng dạy. Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông đều có thơ Nôm. Đến thời Tây Sơn, Quang Trung còn định đưa chữ Nôm vào thi cử và hành chính. - Nhiều nhà giáo, học giả lớn: Chu Văn An - "vạn thế sư biểu" thời Trần. Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác thời Lê - Nguyễn. Họ vừa dạy học vừa viết sách, để lại kho tàng tri thức đồ sộ. +Chính sách khuyến học của nhà nước - '' Tôn sư trọng đạo" thành quốc sách: Vua Lê Thánh Tông ban 24 điều lệ khuyến khích học hành. Dựng bia tiến sĩ, ban áo mũ, vinh quy bái tổ cho người đỗ đạt. - Luật Hồng Đức: Quy định rõ về trường học, thầy giáo, việc thi cử. Gian lận thi cử bị phạt rất nặng. - Lập "Tứ thư ngũ kinh" làm sách giáo khoa: Thống nhất nội dung dạy và học trên cả nước.

Câu 2:

Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là một ngôi trường, mà là "trái tim" của nền văn minh Đại Việt. Tác động của nó thể hiện trên 4 phương diện lớn: + Là trung tâm đào tạo nhân tài, củng cố bộ máy nhà nước - Đào tạo quan lại: Quốc Tử Giám dạy Tứ thư, Ngũ kinh, sử sách, luật pháp. Học trò giỏi ra làm quan giúp vua trị nước. Nhờ đó Đại Việt xây được bộ máy quan liêu Nho giáo ổn định từ thời Lý đến Nguyễn. - Tuyển chọn bằng thực tài: Khoa cử gắn với Quốc Tử Giám tạo con đường tiến thân cho người học giỏi, không phân biệt giàu nghèo. Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền xuất thân bình dân vẫn thành Trạng nguyên, làm quan lớn. + Định hình hệ tư tưởng và đạo đức xã hội - Truyền bá Nho giáo: Văn Miếu thờ Khổng Tử, đặt đạo Tam cương, Ngũ thường làm chuẩn mực. Từ vua đến dân đều lấy "trung, hiếu, lễ, nghĩa" làm gốc. Tạo nên xã hội có kỷ cương, tôn ti trật tự. - Đề cao tinh thần "tôn sư trọng đạo": Chu Văn An dám can vua, dâng "Thất trảm sớ" rồi về dạy học. Ông được thờ ở Văn Miếu, trở thành biểu tượng người thầy mẫu mực. Tư tưởng này ăn sâu vào văn hóa Việt đến nay. + Tạo nền tảng cho văn hiến dân tộc - Bảo tồn và phát triển tri thức: Nhiều thế hệ học trò, thầy giáo ở Quốc Tử Giám đã viết sách, soạn sử, làm thơ. Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm... đều từng học/ dạy ở đây. Kho tàng Đại Việt sử ký, Hồng Đức quốc âm thi tập... ra đời từ chính đội ngũ này. - Lưu danh muôn đời bằng 82 bia tiến sĩ: Từ 1442, Lê Thánh Tông cho dựng bia đá khắc tên người đỗ đại khoa. Đây vừa là cách khuyến học, vừa là "bảo tàng danh nhân" giúp hậu thế biết công lao tiền nhân. UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới 2010. + Khẳng định vị thế văn minh độc lập - Biểu tượng của nước có văn hiến: Dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám năm 1070-1076 cho thấy Đại Việt đã có nền giáo dục ngang tầm Trung Hoa, không còn là "man di". Sứ thần các nước sang đều phải thừa nhận nước ta là "văn hiến chi bang". - Trung tâm văn hóa Thăng Long: Suốt 700 năm, đây là nơi diễn ra các nghi lễ trọng đại: lễ tế Khổng Tử, lễ xướng danh tiến sĩ, lễ vua ban yến. Làm Thăng Long không chỉ là kinh đô chính trị mà còn là kinh đô văn hóa.