Nguyễn Chí Thanh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Chí Thanh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Đoạn trích “Văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn Du đã phơi bày bức tranh thê lương về những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh trong xã hội cũ. Về nội dung, nhà thơ xót thương cho ba hạng người: người lính bỏ cửa nhà “dãi dầu nghìn dặm”, chết trận như rác, “phận đành đạn lạc tên rơi”; người kỹ nữ “lỡ làng một kiếp”, tuổi xanh buôn phấn bán hương, về già không nơi nương tựa; kẻ hành khất “nằm cầu gối đất”, sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan. Họ đều chung cảnh sống khổ, thác cũng cô đơn, bị quên lãng: “Sống đã chịu một đời phiền não/ Thác lại nhờ hớp cháo lá đa”. Đó là tiếng khóc cho thân phận con người bị chiến tranh, định kiến và nghèo đói vùi dập, đồng thời là lời tố cáo xã hội bất công để kẻ yếu mãi lầm than.Về nghệ thuật, Nguyễn Du sử dụng thể song thất lục bát uyển chuyển, giàu nhạc tính để tiếng khóc hóa thành khúc ai oán. Điệp ngữ “Cũng có kẻ…” mở đầu mỗi khổ tạo kết cấu liệt kê, nhấn mạnh sự đông đảo của những kiếp người cùng khổ. Ngôn từ bình dị “cơm vắt”, “hớp cháo lá đa”, “gối đất” nhưng ám ảnh, kết hợp hình ảnh tương phản “mạng người như rác” – “lập loè ngọn lửa ma trơi” để cực tả bi kịch. Giọng thơ vừa thương xót vừa uất nghẹn, câu hỏi tu từ “Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?” xoáy sâu nỗi đau nhân thế. Chính nghệ thuật ấy đã nâng lời tế cô hồn thành bản cáo trạng thấm đẫm nhân đạo.

Hình tượng “nàng Vọng Phu” trong thơ Vương Trọng hiện lên đầy xót xa mà vĩ đại. Về nội dung, nàng không chỉ hoá đá thân xác, mà còn hoá đá niềm tin, nỗi cô đơn và thời gian chờ đợi mòn mỏi. Dù biết “người ấy chẳng bao giờ về nữa”, nàng vẫn đứng giữa mưa gió mấy ngàn năm. Đó là biểu tượng cho lòng thuỷ chung bất tử của người phụ nữ Việt Nam thời chiến, nguyện “hoá đá đợi triệu lần nỗi đợi” để muôn đời sau thoát khỏi cảnh chờ mong.Về nghệ thuật, tác giả dùng hình thức đối thoại giả định “Về thôi nàng ơi” để trò chuyện với đá, tạo không gian vừa thực vừa ảo. Điệp ngữ “Chẳng ai hiểu bằng ta…” cùng hình ảnh tăng tiến “hoá đá niềm tin - hoá đá nỗi cô đơn - hoá đá thời gian” đã nâng nỗi đau cụ thể thành biểu tượng vĩnh hằng. Giọng thơ vừa thủ thỉ vừa uất nghẹn, kết hợp tương phản “niềm sum họp đã vào từng cánh cửa” với “nàng còn đứng trong mưa gió” khiến hòn Vọng Phu từ đá vô tri trở thành chứng tích biết đau của lịch sử.

Nhân vật “em” trong bài thơ “Chân quê” của “ Nguyễn Bính” hiện lên với vẻ đẹp vừa mộc mạc vừa có sự đổi thay. Trước hết, “em” vốn là cô gái thôn quê giản dị, gắn với những trang phục truyền thống như yếm lụa sồi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen – những hình ảnh tiêu biểu cho nét đẹp chân quê. Tuy nhiên, sau khi “đi tỉnh về”, “em” đã thay đổi trong cách ăn mặc, mang dáng dấp thị thành với khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm. Sự thay đổi ấy khiến “anh” ngỡ ngàng, tiếc nuối và lo sợ “em” đánh mất vẻ đẹp vốn có. Qua đó, “em” trở thành biểu tượng cho sự va chạm giữa truyền thống và hiện đại. Với nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể lục bát quen thuộc, giọng điệu tâm tình, gần gũi; ngôn ngữ giản dị, đậm chất dân gian; hình ảnh giàu tính gợi tả; đặc biệt là việc liệt kê các trang phục đối lập trước – sau đã làm nổi bật sự thay đổi của “em”. Tất cả góp phần thể hiện rõ tình yêu quê hương tha thiết và sự trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của tác giả.