Trần Thị Tuyết Nhi
Giới thiệu về bản thân
- Hình thức chủ yếu: Vô tính (phân đôi là chính).
- Cơ chế: Trực phân (không hình thành thoi phân bào). Tế bào nhân đôi ADN, màng sinh chất và thành tế bào thắt lại chia tế bào mẹ thành hai tế bào con giống nhau.
- Các hình thức khác:
- Nảy chồi: Tế bào mẹ tạo ra một chồi nhỏ, chồi này lớn dần rồi tách ra (vd: vi khuẩn quang hợp).
- Bào tử vô tính: Sinh sản bằng ngoại bào tử (bào tử hình thành bên ngoài tế bào) hoặc bào tử đốt.
- Lưu ý: Vi sinh vật nhân sơ không có sinh sản hữu tính thực thụ, chúng chỉ có các quá trình trao đổi di truyền (như tiếp hợp).
- Hình thức: Bao gồm cả vô tính và hữu tính.
- Cơ chế: Nguyên phân (vô tính) và Giảm phân (hữu tính). Có sự hình thành thoi phân bào để phân chia nhiễm sắc thể chính xác.
- Sinh sản vô tính:
- Phân đôi: Phổ biến ở động vật nguyên sinh (trùng đế giày, trùng biến hình).
- Nảy chồi: Điển hình ở nấm men.
- Bào tử vô tính: Rất đa dạng như bào tử túi, bào tử đính ở nấm mốc.
- Sinh sản hữu tính: Diễn ra qua việc hình thành giao tử (đực và cái) hoặc sự tiếp hợp giữa các tế bào để tạo hợp tử, sau đó phát triển thành cơ thể mới hoặc bào tử hữu tính.
- Hấp phụ: Virus sử dụng các gai glycoprotein hoặc protein bề mặt để bám đặc hiệu lên các thụ thể trên bề mặt tế bào chủ (như chìa khóa và ổ khóa).
- Xâm nhập:
- Đối với thực khuẩn thể (phage): Tiêm hệ gen vào tế bào, vỏ protein ở ngoài.
- Đối với virus động vật: Đưa cả vỏ capsid và hệ gen vào trong, sau đó "cởi vỏ" để giải phóng hệ gen.
- Tổng hợp: Virus sử dụng bộ máy di truyền, enzyme và nguyên liệu của tế bào chủ để tổng hợp các thành phần của mình (hệ gen và protein vỏ).
- Lắp ráp: Các thành phần vừa được tổng hợp sẽ tự lắp ghép lại để tạo thành các hạt virus hoàn chỉnh (virion).
- Giải phóng: Virus thoát ra ngoài tế bào chủ. Có hai phương thức chính: làm tan tế bào (chu trình tan) hoặc nảy chồi từ từ (chu trình tiềm tan).
- Phá hủy tế bào trực tiếp: Khi virus nhân lên quá mức và giải phóng đồng loạt, chúng làm tan vỡ tế bào chủ, khiến các mô và cơ quan bị tổn thương.
- Làm cạn kiệt nguồn lực: Virus sử dụng quá nhiều nguyên liệu và năng lượng của tế bào để nhân lên, khiến tế bào không còn đủ khả năng duy trì các hoạt động sống bình thường.
- Sản sinh độc tố: Một số virus khi nhân lên có thể tạo ra các sản phẩm trung gian hoặc protein gây độc cho tế bào.
- Phản ứng miễn dịch quá mức: Trong nhiều trường hợp, các triệu chứng bệnh (sốt, viêm, đau nhức) không phải do virus trực tiếp gây ra mà là kết quả của việc hệ miễn dịch phản ứng quá mạnh để tiêu diệt tế bào nhiễm virus, gây tổn thương diện rộng cho các mô lành.
- Đột biến gây ung thư: Một số virus khi xâm nhập có thể chèn hệ gen của mình vào hệ gen tế bào chủ, gây ra các đột biến làm tế bào phân chia mất kiểm soát, dẫn đến ung thư.
- Sản xuất vaccine: Sử dụng virus đã làm yếu hoặc làm chết (virus bất hoạt) để kích thích hệ miễn dịch tạo ra kháng thể phòng bệnh (ví dụ: vaccine sởi, quai bị, bại liệt). Ngoài ra, công nghệ virus vector (như virus Adeno) được dùng để sản xuất vaccine COVID-19.
- Liệu pháp gene: Sử dụng virus làm "xe vận chuyển" để đưa các gene lành thay thế các gene bị đột biến gây bệnh trong cơ thể người.
- Sản xuất các chế phẩm sinh học: Sử dụng thực khuẩn thể (phage) hoặc virus để sản xuất các chất như interferon (kháng virus), insulin (điều trị tiểu đường) với số lượng lớn.
- Sản xuất thuốc trừ sâu sinh học: Một số loại virus chỉ gây bệnh cho côn trùng gây hại mà không gây độc cho con người, vật nuôi và môi trường. Ví dụ: virus đa diện (Baculovirus) được dùng để diệt sâu róm thông, sâu xanh.
- Kỹ thuật di truyền: Virus được dùng làm vector (thể truyền) quan trọng để chuyển gene từ tế bào này sang tế bào khác trong các thí nghiệm nghiên cứu di truyền.
- Tiêu diệt vi khuẩn có hại: Sử dụng thực khuẩn thể (phage) để tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh trong thực phẩm hoặc trong môi trường nước
a,5CaC2O4 + 2KMnO4 + 8H2SO4 → 5CaSO4 + K2SO4 + 2MnSO4 + 8H2O + 10CO2
b,Số mol KMnO4 cần dùng để phản ứng hết với calcium oxalate kết tủa từ 1 mL máu là:
2,05.10-3.4,88.10-4 = 10-6 mol
Số mol CaSO4 = 5/2. Số mol KMnO4 = 2,5x10-6mol
Khối lượng ion calcium (mg) trong 100 mL máu là: 2,5.10-6.40.103. 100 = 10mg/100 mL.
- Δ𝑓𝐻0298 [ 𝐶𝑎𝐶𝑙2 ( 𝑠 ) ] = −795 , 0 kJ/mol
- Δ𝑓𝐻0298 [ 𝐶𝑎2+ ( 𝑎𝑞 ) ] = −542 , 83 kJ/mol ΔrH2980=[ΔfH2980(Ca2+)+2⋅ΔfH2980(Cl−)]−ΔfH2980(CaCl2)Δ𝑟𝐻0298=Δ𝑓𝐻0298(𝐶𝑎2+)+2⋅Δ𝑓𝐻0298(𝐶𝑙−)−Δ𝑓𝐻0298(𝐶𝑎𝐶𝑙2) Thay số (sử dụng giá trị Cl−𝐶𝑙− phổ biến là −167 , 16 kJ/mol):
ΔrH2980=[(-542,83)+2⋅(-167,16)]−(-795,0) ΔrH2980=[-542,83−334,32]+795,0 ΔrH2980=-877,15+795,0
- Xác định số oxi hóa: Fe0+HN+5O3→Fe+3(NO3)3+N+2O+H2O𝐹𝑒0+𝐻𝑁+5𝑂3→𝐹𝑒+3(𝑁𝑂3)3+𝑁+2𝑂+𝐻2𝑂
- Chất khử: Fe𝐹𝑒 (số oxi hóa tăng từ 00 lên +3+3).
- Chất oxi hóa: HNO3𝐻𝑁𝑂3 (số oxi hóa của N𝑁 giảm từ +5+5 xuống +2+2).
- Quá trình:
- Quá trình oxi hóa: Fe0→Fe+3+3e𝐹𝑒0→𝐹𝑒+3+3𝑒 (nhân với 1)
- Quá trình khử: N+5+3e→N+2𝑁+5+3𝑒→𝑁+2 (nhân với 1)
- Phương trình cân bằng: Fe+4HNO3→Fe(NO3)3+NO+2H2O𝐅𝐞+𝟒𝐇𝐍𝐎𝟑→𝐅𝐞(𝐍𝐎𝟑)𝟑+𝐍𝐎+𝟐𝐇𝟐𝐎
- Xác định số oxi hóa: KMn+7O4+Fe+2SO4+H2SO4→Fe+32(SO4)3+Mn+2SO4+K2SO4+H2O𝐾𝑀𝑛+7𝑂4+𝐹𝑒+2𝑆𝑂4+𝐻2𝑆𝑂4→𝐹𝑒+32(𝑆𝑂4)3+𝑀𝑛+2𝑆𝑂4+𝐾2𝑆𝑂4+𝐻2𝑂
- Chất khử: FeSO4𝐹𝑒𝑆𝑂4 ( Fe+2→Fe+3𝐹𝑒+2→𝐹𝑒+3).
- Chất oxi hóa: KMnO4𝐾𝑀𝑛𝑂4 ( Mn+7→Mn+2𝑀𝑛+7→𝑀𝑛+2).
- Quá trình:
- Quá trình oxi hóa: 2Fe+2→2Fe+3+2e2𝐹𝑒+2→2𝐹𝑒+3+2𝑒 (nhân với 5)
- Quá trình khử: Mn+7+5e→Mn+2𝑀𝑛+7+5𝑒→𝑀𝑛+2 (nhân với 2)
- Phương trình cân bằng:
2KMnO4+10FeSO4+8H2SO4→5Fe2(SO4)3+2MnSO4+K2SO4+8H2O
C1:Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, lối sống chủ động chính là "chiếc chìa khóa vàng" mở ra cánh cửa thành công và hạnh phúc cho mỗi người. Sống chủ động không chỉ đơn thuần là việc tự mình thực hiện các công việc hằng ngày, mà đó là một tư thế sống tích cực: biết làm chủ bản thân, làm chủ tình huống và luôn trong tâm thế sẵn sàng đối mặt với mọi thử thách. Tầm quan trọng của lối sống này trước hết thể hiện ở khả năng giúp chúng ta kiểm soát cuộc đời mình. Thay vì bị động chờ đợi vận may hay phụ thuộc vào sự sắp đặt của người khác, người chủ động luôn tự tạo ra cơ hội và biết cách xoay chuyển tình thế khi gặp khó khăn. Đặc biệt, trong một thế giới đầy biến động như hiện nay, sự chủ động giúp con người không bị tụt hậu, dễ dàng thích nghi với cái mới và rèn luyện được bản lĩnh kiên cường. Ngược lại, lối sống thụ động, ỷ lại sẽ chỉ khiến chúng ta trở nên mờ nhạt và đánh mất đi những giá trị vốn có của bản thân. Mỗi bạn trẻ hãy bắt đầu từ những việc nhỏ nhất như tự lập kế hoạch học tập hay chủ động tìm kiếm kiến thức mới, bởi "kẻ chiến thắng không phải là kẻ mạnh nhất, mà là kẻ chủ động nhất".
C2:Trong những ngày từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã viết nhiều bài thơ đặc sắc, trong số đó có bài số 43 trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới. Bài thơ là bức tranh phong cảnh mùa hè độc đáo nhưng thấp thoáng là niềm tâm sự của tác giả.
Câu thơ đầu tiên, ta đọc lên thoáng qua sao có vẻ an nhàn, êm đềm, thanh thoát đến thế.
"Rồi hóng mát thuở ngày trường"
Câu thơ hiện lên hình ảnh của nhà thơ Nguyễn Trãi, ông đang ngồi dưới bóng cây nhàn nhã như hóng mát thật sự. Việc quân, việc nước chắc đã xong xuôi ông mới trở về với cuộc sống đơn sơ, giản dị, mộc mạc mà chan hòa, gần gũi với thiên nhiên. Một số sách dịch là "Rỗi hóng mát thuở ngày trường". Nhưng "rỗi" hay "rồi" cũng đều gây sự chú ý cho người đọc. Rảnh rỗi, sự việc còn đều xong xuôi, đã qua rồi "Ngày trường" lại làm tăng sự chú ý. Cả câu thơ không còn đơn giản là hình ảnh của Nguyễn Trãi ngồi hóng mát mà nó lại toát lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: "Nhàn rỗi ta hóng mát cả một ngày dài". Một xã hội đã bị suy yếu, nguyện vọng, ý chí của tác giả đã bị vùi lấp, không còn gì nữa, ông đành phải rời bỏ, từ quan để về ở ẩn, phải dành "hóng mát" cả ngày trường để vơi đi một tâm sự, một gánh nặng đang đè lên vai mình. Cả câu thơ thấp thoáng một tâm sự thầm kín, không còn là sự nhẹ nhàng thanh thản nữa.Về với thiên nhiên, ông lại có cơ hội gần gũi với thiên nhiên hơn. Ông vui thú, say mê với vẻ đẹp của thiên nhiên.
"Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương".
Cảnh mùa hè qua tâm hồn, tình cảm của ông bừng bừng sức sống. Cây hòa lớn lên nhanh, tán cây tỏa rộng che rợp mặt đất như một tấm trướng rộng căng ra giữa trời với cành lá xanh tươi. Những cây thạch lựu còn phun thức đỏ, ao sen tỏa hương, màu hồng của những cánh hoa điểm tô sắc thắm. Qua lăng kính của Nguyễn Trãi, sức sống vẫn bừng bừng, tràn đầy, cuộc đời là một vườn hoa, một khu vườn thiên nhiên muôn màu muôn vẻ. Cảnh vật như cổ tích có lẽ bởi nó được nhìn bằng con mắt của một thi sĩ đa cảm, giàu lòng ham sống với đời...
Qua cảnh mùa hè, tình cảm của Nguyễn Trãi cũng thể hiện một cách sâu sắc:
"Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương".
"Chợ" là hình ảnh của sự thái bình trong tâm thức của người Việt. Chợ đông vui thì nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ ấm no: chợ tan rã thì dễ gợi hình ảnh đất nước có biến, có loạn, có giặc giã, có chiến tranh, đao binh... lại thêm tiếng ve kêu lúc chiều tà gợi lên cuộc sống nơi thôn dã. Chính những màu sắc nơi thôn dã này làm cho tình cảm ông thêm đậm đà sâu sắc và gợi lại ý tưởng mà ông đang đeo đuổi.
"Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương".
"Dân giàu đủ", cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc là điều mà Nguyễn Trãi từng canh cánh và mong ước. Ở đây, ông đề cập đến Ngu cầm vì thời vua Nghiêu, vua Thuấn nổi tiếng là thái bình thịnh trị. Vua Thuấn có một khúc đàn "Nam Phong" khảy lên để ca ngợi nhân gian giàu đủ, sản xuất ra nhiều thóc lúa ngô khoai. Cho nên, tác giả muốn có một tiếng đàn của vua Thuấn lồng vào đời sống nhân dân để ca ngợi cuộc sống của nhân dân ấm no, vui tươi, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Những mơ ước ấy chứng tỏ Nguyễn Trãi là nhà thơ vĩ đại có một tấm lòng nhân đạo cao cả. Ông luôn nghĩ đến cuộc sống của nhân dân, chăm lo đến cuộc sống của họ.
Đó là ước mơ vĩ đại. Có thể nói, dù triều đình có thể xua đuổi Nguyễn Trãi nhưng ông vẫn sống lạc quan yêu đời, mong sao cho ước vọng lí tưởng của mình được thực hiện để nhân dân có một cuộc sống ấm no.
Bài thơ này đã làm rõ nỗi niềm tâm sự của Nguyễn Trãi trong thời gian ở Côn Sơn với tấm lòng yêu nước thương dân vẫn ngày đêm "cuồn cuộn nước triều Đông". Ông yêu thiên nhiên cây cỏ say đắm. Và có lẽ chính thiên nhiên đã cứu Nguyễn Trãi thoát khỏi những phút giây bi quan của cuộc đời mình. Dù sống với cuộc sống thiên nhiên nhưng Ức Trai vẫn canh cánh "một tấc lòng ưu ái cũ". Nguyễn Trãi vẫn không quên lí tưởng nhân dân, lí tưởng nhân nghĩa, lí tưởng: mong cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng oán than, đau sầu.
Một điều đặc sắc nữa của bài thơ là tác giả đã căng mở tất cả các giác quan để cảm nhận một cách tinh tế và tái hiện một cách xuất thần vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên cuộc sống. Với xúc giác Nguyễn Trãi đã mang đến cho người đọc ấn tượng đầu tiên về bức tranh thiên nhiên ấy là sự mát mẻ, dễ chịu, tạo cho người đọc ấn tượng về phong thái nhàn hạ, thoải mái của thi nhân khi tận hưởng từng cơn gió thuở ngày hè. Bên cạnh đó thị giác lại mang đến những ấn tượng sâu sắc về dáng hình của thiên nhiên với những màu sắc rực rỡ, đó là màu xanh lục của cây hòe rợp bóng, rồi nổi bật trên cái nền xanh thẫm ấy là màu đỏ rực rỡ của những đóa thạch lựu, và màu hồng dịu dàng của loài sen đã nở rộ trong đầm. Và cuối cùng cả ba gam màu ấy lại được tắm mình trong cái màu vàng nhàn nhạt của ánh hoàng hôn sắp tắt để đem đến một bức tranh mùa hè tươi tắn, sức sống căng đầy mạnh mẽ, thể hiện sự yêu đời, yêu sống, nhìn cảnh vật bằng tình yêu thiên nhiên tha thiết của tác giả Nguyễn Trãi. Thêm vào đó, sự cảm nhận tinh tế của khứu giác về mùi của loài hoa sen, một loài hoa vốn nhàn nhạt hương sắc, mà chỉ những con người thực sự có tấm lòng tha thiết với sen mới có thể cảm nhận được cái mùi hương thanh mát, đang lan tỏa một cách nồng nàn, trong không gian khoáng đạt. Mùi hương ấy cũng gián tiếp thể hiện cái vẻ đẹp của hoa sen vào mùa nở rộ, khiến người đọc dễ dàng liên tưởng đến hình ảnh một đầm sen hồng, không quá rực rỡ, nhưng cũng đủ khiến bức tranh thiên nhiên bừng lên những vẻ đẹp rộn rã, yêu đời từ hương sắc của loài hoa thanh cao này. Và cuối cùng bức tranh thiên nhiên cảnh ngày hè càng trở nên sôi động, náo nhiệt thông qua sự cảm nhận một cách tinh tế của nhà văn về âm thanh của con người của sự vật. Đó là tiếng “lao xao” thể hiện sự nhộn nhịp trong đời sống sinh hoạt của con ngày và buổi chợ chiều, là tiếng ve “dắng dỏi” vang vọng khắp không gian, như nhắc nhở người ta về một ngày hè rạo rực. Việc sử dụng biện pháp đảo cấu trúc đưa các từ láy mô tả âm thanh lên vị trí đầu câu lại càng nhấn mạnh sự náo nhiệt của cuộc sống rộn ràng trong buổi chiều tà, gợi cảm giác vui tươi, hứng khởi của cuộc sống, làm lu mờ cái cảm giác vắng vẻ, hiu quạnh mà những buổi chiều trong thi ca thường mang lại. Như vậy việc huy động tất cả những giác quan của tác giả đã tái hiện một cách xuất sắc bức tranh thiên nhiên cuộc sống, cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi không chỉ đẹp mà còn có chiều sâu, thể hiện được tam quan của tác giả về cuộc đời, luôn nhìn sự sống bằng đôi mắt hứng khởi, tha thiết, thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên, cuộc đời tha thiết của tác giả.
Từ những cảm nhận tinh tế về bức tranh thiên nhiên cuộc sống, Nguyễn Trãi đã bộc lộ tấm lòng yêu dân ái quốc của mình qua hai câu thơ kết bài.
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương"
Từ những quan sát về cuộc sống náo nhiệt của nhân dân nơi chợ cá làng Ngư phủ, tác giả đã mường tượng ra hình ảnh cuộc sống vô cùng tươi đẹp, sung túc đầy đủ của nhân dân. Điều đó gợi ra trong tâm hồn của tác giả những niềm vui, niềm hạnh phúc khi chứng kiến cảnh quốc thái dân an, thế nên muốn có Ngu cầm của vua Nghiêu vua Thuấn để đàn ra khúc Nam Phong. Sử dụng điển tích về chiếc đàn của vua Thuấn, Nguyễn Trãi thể hiện ước nguyện thiết tha của mình. Ông không mong cầu vinh hoa cho bản thân mà chỉ khát khao có được khúc nhạc Nam phong để cầu cho "dân giàu đủ". Dù đang sống cảnh nhàn tản, nhưng trái tim ông chưa bao giờ thôi canh cánh nỗi lòng vì dân, vì nước. Đó chính là tư tưởng "lấy dân làm gốc" xuyên suốt cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi sự sáng tạo trong thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, ngôn ngữ tiếng Việt giản dị nhưng giàu sức biểu cảm. Cách ngắt nhịp linh hoạt và việc sử dụng các từ láy tượng thanh, tượng hình đã giúp Việt hóa thơ Đường luật một cách tài tình. Tóm lại, "Cảnh ngày hè" là một bài thơ tuyệt bút, kết hợp hài hòa giữa tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước thương dân. Qua tác phẩm, ta không chỉ khâm phục tài năng nghệ thuật của Nguyễn Trãi mà còn thêm trân trọng một nhân cách lớn – người suốt đời theo đuổi lý tưởng về một đất nước thái bình, nơi nhân dân được ấm no, hạnh phúc.C1: thể thơ thất ngôn bát của đường luật
C2: những hình ảnh thể hiện cuộc sống thanh cao đạm bạc:
Công cụ lao động: Một mai, một cuốc, một cần câu
Thức ăn theo mùa (đạm bạc): Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Sinh hoạt theo mùa (thanh cao): Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Thú vui: Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống
C3: biện pháp tu từ liệt kê : Mai, cuốc, cần câu. tác dụng: giúp câu thơ thlên phong phú đa dạng, các từ ngữ cùng trường nghĩa làm nhấn mạnh trong câu .Gợi lên một cuộc sống lao động thuần hậu, giản dị và đầy đủ, tự tại giữa thiên nhiên. Nó cho thấy sự chuẩn bị sẵn sàng, chu đáo cho cuộc sống ẩn dật của tác giả.Khẳng định quan niệm "Nhàn" là hòa hợp với tự nhiên, giữ gìn nhân cách thanh cao.
C4: Khẳng định quan niệm "Nhàn" là hòa hợp với tự nhiên, giữ gìn nhân cách thanh cao.Tác giả tự nhận mình là "dại" khi chọn lối sống thanh bần, nhưng cái "dại" này thực chất là cái khôn ngoan đại trí. Ngược lại, người đời tự cho là "khôn" khi chen chúc ở chốn lao xao, nhưng thực chất là "dại" vì đang tự đánh mất bản tâm và sự tự do của chính mình.Đây là sự khẳng định bản lĩnh cá nhân, sự cự tuyệt với danh lợi thấp hèn để bảo vệ nhân cách thanh cao.
C5:Qua bài thơ "Nhàn", ta thấy hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm với vẻ đẹp nhân cách vô cùng cao khiết. Ông là một bậc trí giả uyên thâm, biết nhìn thấu sự phù phiếm của vinh hoa phú quý ("phú quý tựa chiêm bao") để chọn cho mình lối sống hòa hợp với thiên nhiên. Nhân cách ấy không chỉ thể hiện ở sự giản dị, đạm bạc trong sinh hoạt mà còn ở bản lĩnh cứng cỏi, dám tách mình ra khỏi dòng đời xô bồ để giữ gìn sự thanh sạch trong tâm hồn. Đó là một thái độ sống chủ động, ung dung, tự tại, mang đậm triết lý phương Đông về sự tĩnh tại và thanh cao giữa thời cuộc nhiễu nhương.
a = float(input())
if a < 0:
print(-a)
else:
print(a)
n = int(input())
S = 0
for i in range(1, n):
if i % 10 == 0:
S += i
print(S)