Lê Thị Bảo Hân

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Thị Bảo Hân
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Lối sống chủ động là thái độ tích cực, dám nghĩ dám làm, tự chịu trách nhiệm và sẵn sàng đón nhận thử thách thay vì chờ đợi cơ hội hay sự giúp đỡ từ người khác. Trong thời đại ngày nay, lối sống này quan trọng hơn bao giờ hết vì nó giúp chúng ta làm chủ cuộc đời, không bị lạc lõng trước những biến động nhanh chóng của xã hội. Người sống chủ động luôn chuẩn bị sẵn tâm thế và kỹ năng, từ đó giảm thiểu rủi ro, nắm bắt cơ hội để thành công trong công việc và cuộc sống. Không chỉ vậy, họ còn biết đặt mục tiêu rõ ràng, lập kế hoạch cụ thể và kiên trì thực hiện đến cùng. Trái lại, thái độ ỷ lại, thụ động sẽ dẫn đến sự lúng túng, bối rối và hối tiếc khi cơ hội trôi qua. Sống chủ động giúp rèn luyện tư duy nhạy bén, bản lĩnh vượt qua khó khăn, khẳng định giá trị bản thân và lan tỏa năng lượng tích cực đến cộng đồng. Bên cạnh đó, lối sống này còn giúp con người linh hoạt thích nghi với hoàn cảnh và không ngừng hoàn thiện bản thân. Đặc biệt với người trẻ, đây là “chìa khóa” để xây dựng tương lai vững chắc, tránh lối mòn luẩn quẩn của sự lười biếng và thiếu trách nhiệm. Hãy ngừng than vãn, hãy cầm lái con thuyền cuộc đời mình ngay hôm nay.

Câu 2:

Trong văn học trung đại Việt Nam, thiên nhiên không chỉ là đối tượng miêu tả mà còn là nơi thể hiện tâm hồn, nhân cách và lí tưởng sống của con người. Nhiều thi nhân đã tìm về với thiên nhiên như một cách để lánh xa chốn quan trường đầy bon chen, đồng thời bày tỏ tình yêu cuộc sống và nỗi lòng đối với nhân dân. Nguyễn Trãi – một bậc anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa lớn – cũng gửi gắm tâm tư của mình qua những vần thơ giản dị mà sâu sắc. Đoạn thơ trích trong Bảo kính cảnh giới không chỉ vẽ nên bức tranh mùa hè rực rỡ, giàu sức sống mà còn thể hiện tâm hồn thanh cao, tình yêu thiên nhiên tha thiết và đặc biệt là ước nguyện về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đây chính là vẻ đẹp nhân cách đáng trân trọng của nhà thơ.


Câu thơ đầu tiên, ta đọc lên thoáng qua sao có vẻ an nhàn, êm đềm, thanh thoát đến thế:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”.


Câu thơ hiện lên hình ảnh của Nguyễn Trãi đang ngồi nhàn nhã dưới bóng cây, tận hưởng cuộc sống giản dị, chan hòa với thiên nhiên. Tuy nhiên, cách dùng từ “rỗi” hay “rồi” đều gợi cảm giác mọi việc đã qua, đã xong xuôi, còn “ngày trường” lại nhấn mạnh khoảng thời gian dài, khiến nhịp sống như chậm lại và kéo theo cảm giác trống vắng. Vì thế, câu thơ không chỉ đơn thuần là tả cảnh hóng mát mà còn ẩn chứa một tâm trạng sâu kín. Đằng sau vẻ ung dung, thanh thản là nỗi niềm suy tư, là tâm sự của một con người từng hết lòng vì dân vì nước nhưng nay phải lui về ở ẩn. Câu thơ vì vậy vừa mang vẻ đẹp của sự nhàn tản, vừa gợi lên nỗi buồn lặng lẽ và những trăn trở chưa nguôi về thời cuộc, làm nổi bật chiều sâu tâm hồn của tác giả.


Sau câu thơ mở đầu, năm câu thơ tiếp theo khung cảnh mùa hè mở ra vô cùng sinh động, đẹp đẽ, ngập tràn sức sống:

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”.


Mùa hè được Nguyễn Trãi khắc họa qua hàng loạt sự vật quen thuộc như hòe, thạch lựu, sen – những loài cây đặc trưng của mùa hè. Đặc biệt, việc kết hợp các sự vật với những động từ mạnh như “đùn đùn”, “phun”, “tiễn” đã làm nổi bật sức sống mãnh liệt, sự vận động không ngừng của thiên nhiên, tất cả đều đang căng tràn nhựa sống và vươn lên. Bức tranh mùa hè còn rực rỡ với sự hòa quyện của các gam màu nóng như xanh, đỏ, hồng, tạo nên một không gian tươi sáng, đầy sức sống. Không chỉ có màu sắc, bức tranh còn tràn ngập hương thơm dịu nhẹ của hoa sen, hoa lựu, lan tỏa trong không gian, khiến lòng người cũng trở nên thư thái, dễ chịu. Bên cạnh đó, âm thanh “lao xao chợ cá” và tiếng ve “dắng dỏi” đã làm cho bức tranh thêm phần sống động, gợi lên một cuộc sống bình dị mà nhộn nhịp của con người. Đặc biệt, những âm thanh ấy như vọng từ xa, vừa làm nổi bật sự yên tĩnh của không gian, vừa cho thấy một tâm hồn tinh tế, rộng mở, luôn biết lắng nghe và cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống xung quanh. Qua đó, ta càng thấy rõ tình yêu thiên nhiên tha thiết và tấm lòng gắn bó với cuộc sống của nhân dân của nhà thơ.


           “ Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

              Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

Hai câu thơ kết, tác giả sử dụng điển tích Ngu Cầm- kể về hai vị vua nổi tiếng là vua Nghiêu và vua Thu ấn - những ông vua nhân từ đem lại cuộc sống hưng thịnh, thái bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Mỗi ngày, vua thường đem đàn khúc Nam Phong ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị. Thực chất, Nguyễn Trãi muốn có cây đàn Vua Thuấn để gảy khúc Nam Phong, cầu mưa thuận gió hòa để dân chúng khắp mọi nơi có cuộc sống ấm no, thanh bình. Là ước mơ cao cả, là lý tưởng sống và mục đích phấn đấu suốt đời của con người luôn “ưu dân ái quốc”. Điều đó đá thể hiện tình cảm yêu thương nhân dân, lòng nhân đạo của tác giả.


Nghệ thuật trong bài thơ "Cảnh ngày hè" (Bảo kính cảnh giới - bài 43) của Nguyễn Trãi đặc sắc ở sự kết hợp hài hòa giữa chất họa, chất nhạc và tâm hồn thi sĩ tinh tế qua thể thơ thất ngôn xen lục ngôn. Bức tranh ngày hè được khắc họa sinh động, đa sắc màu (xanh cây hòe, đỏ thạch lựu, hồng sen) cùng các động từ mạnh ("đùn đùn", "phun", "tiễn") làm nổi bật sức sống tràn trề, căng đầy. Sự sáng tạo còn thể hiện qua cách đảo ngữ ("lao xao chợ cá", "dắng dỏi cầm ve"), kết hợp từ láy gợi thanh, gợi hình, biến tiếng ve inh ỏi thành "tiếng đàn" vui tươi. Bút pháp tả cảnh ngụ tình, ngôn ngữ thơ Nôm bình dị, gần gũi đã thể hiện sâu sắc tình yêu thiên nhiên và tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết, suốt đời mong "dân giàu đủ" của Nguyễn Trãi.

Và cuối cùng, đoạn thơ không chỉ khép lại bằng một bức tranh thiên nhiên mùa hè rực rỡ mà còn đọng lại trong lòng người đọc những suy ngẫm sâu sắc về con người và cuộc đời. Qua đó, ta càng thêm trân trọng tâm hồn thanh cao, giản dị mà giàu lòng yêu nước, thương dân của Nguyễn Trãi. Dù lui về ở ẩn, ông vẫn luôn hướng trái tim mình về cuộc sống của nhân dân, mong ước một xã hội thái bình, ấm no. Chính vẻ đẹp ấy đã làm nên giá trị bền vững cho thơ ông, khiến tác phẩm không chỉ là tiếng nói của một thời đại mà còn là bài học nhân sinh sâu sắc cho muôn đời. Từ đó, mỗi chúng ta càng ý thức hơn về trách nhiệm sống có ích, biết yêu thương và đóng góp cho cộng đồng, để cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Câu 1:

Bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2 :

Những hình ảnh thể hiện nét sinh hoạt đạm bạc, thanh cao của tác giả:

“Một mai, một cuốc, một cần câu”

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá”

“Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” Từ đó, ta thấy được cuộc sống giản dị, gần gũi thiên nhiên, không cầu kỳ vật chất.

Câu 3 :

Biện pháp tu từ liệt kê: “một mai, một cuốc, một cần câu”.

Tác dụng:

Gợi ra đầy đủ những dụng cụ lao động quen thuộc của người dân quê.

Thể hiện cuộc sống giản dị, tự cung tự cấp.

Làm nổi bật phong thái ung dung, tự tại, hòa mình với thiên nhiên của tác giả.

Câu 4:

 Quan niệm “dại – khôn” của tác giả rất đặc biệt và mang tính nghịch lí. Tác giả tự nhận mình “dại” vì chọn sống ở nơi vắng vẻ, tránh xa chốn bon chen, còn “người khôn” lại tìm đến nơi lao xao danh lợi. Thực chất, đó là cách nói ngược để khẳng định rằng lối sống tránh xa danh lợi, giữ tâm hồn thanh thản mới là sự khôn ngoan thực sự. Qua đó thể hiện thái độ coi nhẹ phú quý và đề cao cuộc sống thanh nhàn, trong sạch.

Câu5: 

Qua bài thơ Nhàn, em cảm nhận được vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một con người thanh cao, giản dị và đầy trí tuệ. Ông chọn lối sống ẩn dật, hòa mình với thiên nhiên, tránh xa danh lợi và sự bon chen của cuộc đời. Dù sống đạm bạc, ông vẫn luôn ung dung, tự tại và tìm thấy niềm vui trong những điều bình dị. Quan niệm sống của ông thể hiện sự sâu sắc, coi trọng giá trị tinh thần hơn vật chất. Điều đó khiến em thêm trân trọng một lối sống thanh nhàn, biết đủ và giữ gìn phẩm giá.

Công của lực kéo vật: \(A = F . s = 1200.5 = 6000\) J

Công có ích là: \(A_{c i} = A . H = 6000.80 \% = 4800\) J

Mặt khác: \(A_{c i} = P . h = m . g . h\)

\(\Rightarrow h = \frac{A_{c i}}{m g} = \frac{4800}{300.10} = 1 , 6\) m

Công của lực kéo vật: \(A = F . s = 1200.5 = 6000\) J

Công có ích là: \(A_{c i} = A . H = 6000.80 \% = 4800\) J

Mặt khác: \(A_{c i} = P . h = m . g . h\)

\(\Rightarrow h = \frac{A_{c i}}{m g} = \frac{4800}{300.10} = 1 , 6\) m

a. Khi thùng trượt được 15 m trong 15 s và người kéo dây theo phương ngang

Công của lực kéo là: \(A = F . s = 100.15 = 1500\) J

Công suất của lực kéo: \(P = \frac{A}{t} = \frac{1500}{15} = 100\) W

b. Khi thùng trượt được 10 m trong 10 s và người kéo dây theo phương hợp với phương nằm ngang một góc 45o

Công của lực kéo là: \(A = F . s . cos ⁡ \alpha = 100.10. cos ⁡ 4 5^{o} = 707 , 1\) J

Công suất của lực kéo: \(P = \frac{A}{t} = \frac{707 , 1}{10} = 70 , 7\) W


Hợp lực của lực căng dây \(T\) và trọng lực \(P\) đóng vai trò lực hướng tâm.

Ta có: \(\left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{h t} = \overset{\rightarrow}{P} + \overset{\rightarrow}{T}\)

Chọn hệ quy chiếu gắn với mặt đất, chiều dương hướng xuống.

Ở điểm cao nhất của quỹ đạo: \(F_{h t} = P + T\)

\(\Rightarrow T = m \omega^{2} r - m g = 0 , 3. 8^{2} . 0 , 5 - 0 , 3.10 = 6 , 6 N\)

Ở điểm thấp nhất của quỹ đạo: \(F_{h t} = T - P\)

\(\Rightarrow T = m \omega^{2} r + m g = 0 , 3. 8^{2} . 0 , 5 + 0 , 3.10 = 12 , 6 N\)

Hợp lực của lực căng dây \(T\) và trọng lực \(P\) đóng vai trò lực hướng tâm.

Ta có: \(\left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{h t} = \overset{\rightarrow}{P} + \overset{\rightarrow}{T}\)

Chọn hệ quy chiếu gắn với mặt đất, chiều dương hướng xuống.

Ở điểm cao nhất của quỹ đạo: \(F_{h t} = P + T\)

\(\Rightarrow T = m \omega^{2} r - m g = 0 , 3. 8^{2} . 0 , 5 - 0 , 3.10 = 6 , 6 N\)

Ở điểm thấp nhất của quỹ đạo: \(F_{h t} = T - P\)

\(\Rightarrow T = m \omega^{2} r + m g = 0 , 3. 8^{2} . 0 , 5 + 0 , 3.10 = 12 , 6 N\)

Hợp lực của lực căng dây \(T\) và trọng lực \(P\) đóng vai trò lực hướng tâm.

Ta có: \(\left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{h t} = \overset{\rightarrow}{P} + \overset{\rightarrow}{T}\)

Chọn hệ quy chiếu gắn với mặt đất, chiều dương hướng xuống.

Ở điểm cao nhất của quỹ đạo: \(F_{h t} = P + T\)

\(\Rightarrow T = m \omega^{2} r - m g = 0 , 3. 8^{2} . 0 , 5 - 0 , 3.10 = 6 , 6 N\)

Ở điểm thấp nhất của quỹ đạo: \(F_{h t} = T - P\)

\(\Rightarrow T = m \omega^{2} r + m g = 0 , 3. 8^{2} . 0 , 5 + 0 , 3.10 = 12 , 6 N\)