Nguyễn Thị Khánh Linh
Giới thiệu về bản thân
Đoạn trích “Rừng miền Đông, một đêm trăng” đã tái hiện sinh động cuộc sống và con người trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên, tình đồng đội và tinh thần lạc quan của người lính. Bằng giọng văn chân thực, giàu cảm xúc, tác giả đã đem đến cho người đọc một bức tranh vừa khắc nghiệt vừa ấm áp nghĩa tình.
Trước hết, đoạn trích khắc họa rõ nét bức tranh thiên nhiên rừng miền Đông với những đặc điểm hoang sơ, dữ dội. Đó là khu rừng già với “nhiều cây to, tán cao”, tạo nên một không gian rộng lớn, âm u. Đặc biệt, khi vào mùa mưa, rừng trở nên nguy hiểm hơn với “đất đỏ dẻo quánh, đường trơn trượt”, cùng với loài vắt rình rập, sẵn sàng “bám vào, hút máu”. Những chi tiết này không chỉ cho thấy sự khắc nghiệt của thiên nhiên mà còn góp phần làm nổi bật hoàn cảnh gian nan mà người lính phải đối mặt. Tuy nhiên, thiên nhiên không chỉ dữ dội mà còn mang vẻ đẹp riêng, nhất là trong không gian đêm trăng, gợi cảm giác yên bình, thơ mộng, tạo nên sự đối lập thú vị với hiện thực chiến tranh.
Nổi bật hơn cả trong đoạn trích là hình ảnh con người – những chiến sĩ cách mạng với tinh thần kiên cường, lạc quan và giàu tình cảm. Nhân vật “tôi” hiện lên với sự nhanh nhẹn, khẩn trương trong hành trình, mang theo bên mình những vật dụng đơn sơ nhưng thiết yếu. Chi tiết chiếc võng, quả lựu đạn cho thấy cuộc sống luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Dẫu vậy, điều đáng quý là trong hoàn cảnh khó khăn, người lính vẫn giữ được sự bình tĩnh và niềm tin.
Đặc biệt, đoạn văn miêu tả bữa cơm của đơn vị là điểm nhấn giàu ý nghĩa. Bữa ăn tuy đạm bạc với cơm, rau, cháo loãng nhưng lại thấm đượm tình đồng chí. Mọi người “chia đều”, “nhường cho nhau”, thể hiện sự quan tâm và tinh thần sẻ chia sâu sắc. Hình ảnh “mỗi người chỉ một set chén”, “ăn xong bữa rồi mà vẫn còn cảm thấy no” không chỉ nói về cái no vật chất mà còn là cái no của tình người. Chính tình đồng đội đã giúp họ vượt qua thiếu thốn, gian khổ.
Bên cạnh đó, đoạn trích còn làm nổi bật tinh thần lạc quan của người lính. Dù cuộc sống thiếu thốn, họ vẫn có thể vui vẻ, thích nghi và tìm thấy niềm vui trong những điều giản dị. Việc tận dụng “trấu rẫy xen kẽ giữa các giống mì”, hay việc nấu nướng trong điều kiện khó khăn cho thấy sự sáng tạo và ý chí vượt lên hoàn cảnh. Chính tinh thần ấy là nguồn động lực giúp họ tiếp tục chiến đấu và tin tưởng vào ngày mai.
Đoạn trích không chỉ phản ánh chân thực cuộc sống gian khổ nơi chiến trường mà còn ca ngợi vẻ đẹp của con người Việt Nam trong kháng chiến: kiên cường, giàu tình nghĩa và luôn lạc quan. Qua đó, tác giả đã gửi gắm thông điệp sâu sắc về sức mạnh của con người trước hoàn cảnh, cũng như giá trị thiêng liêng của tình đồng đội. Đây chính là điểm đặc sắc làm nên sức hấp dẫn và ý nghĩa của đoạn trích.
câu 1 : Phương thức biểu đạt là thuyeets minh
* Ảnh hưởng của chế độ thực dân với các thuộc địa Đông Nam Á
- Ảnh hưởng tích cực: Sau hơn bốn thế kỉ thống trị, thực dân phương Tây đã tạo ra một số thay đổi ở khu vực Đông Nam Á như:
+ Gắn kết khu vực với thị trường thế giới;
+ Du nhập nền sản xuất công nghiệp, xây dựng một số cơ sở hạ tầng,…
+ Thúc đẩy phát triển một số yếu tố về văn hóa như chữ viết, tôn giáo, giáo dục....
- Ảnh hưởng tiêu cực: chế độ thực dân đã để lại hậu quả nặng nề đối với các quốc gia Đông Nam Á.
+ Về chính trị - xã hội: chính sách “chia để trị" của thực dân phương Tây là một trong những nguyên nhân dẫn tới xung đột sắc tộc, tôn giáo, vùng miền gay gắt ở các quốc gia Đông Nam Á, đồng thời gây ra nhiều tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa các quốc gia trong khu vực.
+ Về kinh tế: chế độ thực dân để lại một hệ thống cơ sở hạ tầng nghèo nàn, lạc hậu. Phần lớn các nước trong khu vực bị biến thành nơi cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ hàng hóa của phương Tây.
+ Về văn hóa: thực dân phương Tây áp đặt nền văn hóa nô dịch, thi hành chính sách ngu dân và hạn chế hoạt động giáo dục đối với nhân dân các nước thuộc địa.
* Liên hệ Việt Nam: Ở Việt Nam, hơn 80 năm cai trị của thực dân Pháp đã để lại những hậu quả nặng nề trên mọi lĩnh vực. Ví dụ như:
- Về chính trị:
+ Từ một quốc gia thống nhất, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam bị chia thành 3 xứ với 3 chế độ khác nhau: Bắc Kì là xứ bảo hộ; Trung Kỳ là xứ nửa bảo hộ; Nam Kỳ là xứ thuộc địa. Tên nước Việt Nam bị xóa trên bản đồ chính trị thế giới.
+ Thực dân Pháp cũng lập ra nhiều xứ tự trị, làm phức tạp các mối quan hệ vùng miền, tôn giáo, tộc người.
- Về kinh tế:
+ Sự của du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tuy đem lại một số chuyển biến tích cực, tuy nhiên, đó chỉ là sự chuyển biến mang tính cục bộ ở một số ngành nghề, một số địa phương.
+ Về cơ bản, kinh tế Việt Nam vẫn nghèo nàn, lạc hậu, phát triển thiếu cân đối và lệ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp;
- Về xã hội: hầu hết các giai cấp, tầng lớp nhân dân ở Việt Nam bị áp bức, bóc lột nặng nề, lâm vào cảnh nghèo khổ, bần cùng. Mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược bao trùm xã hội, làm bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh yêu nước.
- Về văn hóa: đại bộ phận dân cư vẫn trong tình trạng nghèo đói, lạc hậu, trình độ dân trí thấp (hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ); nhiều giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam bị xói mòn; trong xã hội tồn tại phổ biến nhiều hủ tục, tệ nạn xã hội, như: cờ bạc, mại dâm, hút thuốc phiện,…
* Quá trình xâm lược và cai trị của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á hải đảo
- Từ sau các cuộc phát kiến địa lí, các nước tư bản phương Tây tăng cường tìm kiếm thị trường và thuộc địa; trong khi đó, các quốc gia phong kiến ở Đông Nam Á đang suy yếu, khủng hoảng. Nhân cơ hội này, các nước tư bản phương Tây tiến hành xâm lược và cai trị các nước ở Đông Nam Á.
+ Ở Inđônêxia, từ thế kỉ XV - XVI, các thế lực thực dân Bồ Đào Nha và Hà Lan cạnh tranh ảnh hưởng. Đến thế kỉ XIX, Hà Lan hoàn thành việc xâm chiếm và thiết lập ách thống trị thực dân trên đất nước này.
+ Ở Philíppin: Từ thế kỉ XVI, Philíppin bị thực dân Tây Ban Nha thống trị. Sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh với Mỹ (1898), Tây Ban Nha đã nhượng quyền quản lí thuộc địa Philíppin cho Mỹ. Từ năm 1899, Philíppin trở thành thuộc địa của Mỹ.
+ Ở Mã Lai, năm 1826, thực dân Anh đẩy mạnh xâm chiếm các tiểu quốc như Kêđa, Pênang,... và thành lập Mã Lai thuộc Anh vào năm 1895.
- Các nước thực dân phương Tây đã thực thi chính sách chính trị hà khắc, đàn áp phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, vơ vét bóc lột cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hầu hết các nước Đông Nam Á hải đảo đều rơi vào tình trạng lạc hậu, phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế của các nước phương Tây.