Ngô Quốc Huy
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận (bình luận).
Câu 2.
Vấn đề được đề cập là việc sử dụng chữ nước ngoài và chữ tiếng Việt, qua đó đặt ra vấn đề giữ gìn sự trong sáng, vị thế và lòng tự trọng của tiếng Việt trong thời kì hội nhập.
Câu 3.
Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đưa ra các lí lẽ và bằng chứng:
- So sánh với Hàn Quốc:
- Biển hiệu, quảng cáo chủ yếu dùng chữ Hàn Quốc, chữ nước ngoài nếu có thì nhỏ hơn.
- Báo chí trong nước hầu như không lạm dụng tiếng nước ngoài.
- Thực trạng ở Việt Nam:
- Nhiều bảng hiệu dùng tiếng Anh lớn hơn tiếng Việt, gây cảm giác xa lạ.
- Một số báo chí có “mốt” tóm tắt bằng tiếng nước ngoài, làm giảm thông tin cho người đọc trong nước.
→ Qua so sánh, tác giả làm nổi bật sự thiếu coi trọng tiếng Việt ở một số nơi.
Câu 4.
- Thông tin khách quan: “Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh… có quan hệ quốc tế rộng rãi.”
- Ý kiến chủ quan: “xem ra để cho ‘oai’” (nhận xét mang tính đánh giá của tác giả).
Câu 5.
Cách lập luận của tác giả chặt chẽ, rõ ràng và thuyết phục. Tác giả sử dụng phép so sánh đối chiếu giữa Hàn Quốc và Việt Nam để làm nổi bật vấn đề; kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng thực tế cụ thể, sinh động. Giọng điệu nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, giàu tính gợi suy nghĩ, kết thúc bằng câu hỏi tu từ giúp người đọc tự nhận thức và rút ra bài học.
Câu1: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) đưa ra những giải pháp hợp lí để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử.
Để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp thiết thực. Trước hết, Nhà nước cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác trùng tu, bảo tồn theo hướng khoa học, tránh sửa chữa tùy tiện làm mất giá trị nguyên gốc. Bên cạnh đó, cần ban hành và thực thi nghiêm các quy định pháp luật về bảo vệ di tích, xử lý kịp thời những hành vi xâm hại như vẽ bậy, phá hoại hay xây dựng trái phép trong khu vực bảo vệ. Công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức cho người dân và du khách cũng rất quan trọng, giúp mọi người hiểu rõ giá trị của di sản để có hành vi ứng xử văn minh khi tham quan. Ngoài ra, nên đẩy mạnh xã hội hóa, huy động sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Việc ứng dụng công nghệ số như số hóa dữ liệu, mô hình 3D cũng góp phần lưu giữ và quảng bá di sản hiệu quả. Cuối cùng, cần gắn bảo tồn với phát triển du lịch bền vững, tránh khai thác quá mức làm ảnh hưởng đến di tích. Chỉ khi có sự chung tay của toàn xã hội, các di tích lịch sử mới được gìn giữ lâu dài cho thế hệ mai sau.
Câu 2 Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.
Đường vào Yên Tử
Hoàng Quang Thuận
Đường vào Yên Tử có khác xưa
Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa
Trập trùng núi biếc cây xanh lá
Đàn bướm tung bay trong nắng trưa.
Cây rừng phủ núi thành từng lớp
Muôn vạn đài sen mây đong đưa
Trông như đám khói người Dao vậy(1)
Thấp thoáng trời cao những mái chùa.
(Thi vân Yên Tử(2), NXB Giáo dục, 2015)
Bài thơ “Đường vào Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, nên thơ, đồng thời gợi lên vẻ đẹp tâm linh của vùng non thiêng Yên Tử. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu thiên nhiên và niềm thành kính khi hành hương về chốn Phật.
Về nội dung, bài thơ trước hết tái hiện con đường vào Yên Tử với những đổi thay theo thời gian: “Đường vào Yên Tử có khác xưa”. Hình ảnh “vẹt đá mòn chân lễ hội mùa” gợi ra dòng người hành hương đông đúc, bền bỉ, góp phần làm nên dấu ấn thời gian trên từng phiến đá. Không gian thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp trập trùng, sống động qua các hình ảnh “núi biếc”, “cây xanh”, “đàn bướm tung bay”, tạo cảm giác vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Đặc biệt, cảnh sắc nơi đây còn mang màu sắc huyền ảo, thanh tịnh với “muôn vạn đài sen mây đong đưa”, gợi liên tưởng đến cõi Phật linh thiêng. Hình ảnh “thấp thoáng trời cao những mái chùa” như điểm nhấn kết lại bức tranh, làm nổi bật sự giao hòa giữa thiên nhiên và đời sống tâm linh.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt cô đọng, giàu nhạc điệu. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi, kết hợp linh hoạt các biện pháp tu từ như so sánh (“trông như đám khói người Dao vậy”), ẩn dụ (“đài sen mây”) giúp cảnh vật trở nên sinh động, giàu chất thơ. Bút pháp chấm phá, gợi tả tinh tế đã tạo nên một bức tranh đa chiều, vừa thực vừa ảo. Nhịp thơ nhẹ nhàng, thanh thoát góp phần thể hiện cảm xúc thư thái, thành kính của người hành hương.
Câu1: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) đưa ra những giải pháp hợp lí để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử.
Để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp thiết thực. Trước hết, Nhà nước cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác trùng tu, bảo tồn theo hướng khoa học, tránh sửa chữa tùy tiện làm mất giá trị nguyên gốc. Bên cạnh đó, cần ban hành và thực thi nghiêm các quy định pháp luật về bảo vệ di tích, xử lý kịp thời những hành vi xâm hại như vẽ bậy, phá hoại hay xây dựng trái phép trong khu vực bảo vệ. Công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức cho người dân và du khách cũng rất quan trọng, giúp mọi người hiểu rõ giá trị của di sản để có hành vi ứng xử văn minh khi tham quan. Ngoài ra, nên đẩy mạnh xã hội hóa, huy động sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Việc ứng dụng công nghệ số như số hóa dữ liệu, mô hình 3D cũng góp phần lưu giữ và quảng bá di sản hiệu quả. Cuối cùng, cần gắn bảo tồn với phát triển du lịch bền vững, tránh khai thác quá mức làm ảnh hưởng đến di tích. Chỉ khi có sự chung tay của toàn xã hội, các di tích lịch sử mới được gìn giữ lâu dài cho thế hệ mai sau.
Câu 2 Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.
Đường vào Yên Tử
Hoàng Quang Thuận
Đường vào Yên Tử có khác xưa
Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa
Trập trùng núi biếc cây xanh lá
Đàn bướm tung bay trong nắng trưa.
Cây rừng phủ núi thành từng lớp
Muôn vạn đài sen mây đong đưa
Trông như đám khói người Dao vậy(1)
Thấp thoáng trời cao những mái chùa.
(Thi vân Yên Tử(2), NXB Giáo dục, 2015)
Bài thơ “Đường vào Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, nên thơ, đồng thời gợi lên vẻ đẹp tâm linh của vùng non thiêng Yên Tử. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu thiên nhiên và niềm thành kính khi hành hương về chốn Phật.
Về nội dung, bài thơ trước hết tái hiện con đường vào Yên Tử với những đổi thay theo thời gian: “Đường vào Yên Tử có khác xưa”. Hình ảnh “vẹt đá mòn chân lễ hội mùa” gợi ra dòng người hành hương đông đúc, bền bỉ, góp phần làm nên dấu ấn thời gian trên từng phiến đá. Không gian thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp trập trùng, sống động qua các hình ảnh “núi biếc”, “cây xanh”, “đàn bướm tung bay”, tạo cảm giác vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Đặc biệt, cảnh sắc nơi đây còn mang màu sắc huyền ảo, thanh tịnh với “muôn vạn đài sen mây đong đưa”, gợi liên tưởng đến cõi Phật linh thiêng. Hình ảnh “thấp thoáng trời cao những mái chùa” như điểm nhấn kết lại bức tranh, làm nổi bật sự giao hòa giữa thiên nhiên và đời sống tâm linh.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt cô đọng, giàu nhạc điệu. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi, kết hợp linh hoạt các biện pháp tu từ như so sánh (“trông như đám khói người Dao vậy”), ẩn dụ (“đài sen mây”) giúp cảnh vật trở nên sinh động, giàu chất thơ. Bút pháp chấm phá, gợi tả tinh tế đã tạo nên một bức tranh đa chiều, vừa thực vừa ảo. Nhịp thơ nhẹ nhàng, thanh thoát góp phần thể hiện cảm xúc thư thái, thành kính của người hành hương.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận (bình luận).
Câu 2.
Vấn đề được đề cập là việc sử dụng chữ nước ngoài và chữ tiếng Việt, qua đó đặt ra vấn đề giữ gìn sự trong sáng, vị thế và lòng tự trọng của tiếng Việt trong thời kì hội nhập.
Câu 3.
Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đưa ra các lí lẽ và bằng chứng:
- So sánh với Hàn Quốc:
- Biển hiệu, quảng cáo chủ yếu dùng chữ Hàn Quốc, chữ nước ngoài nếu có thì nhỏ hơn.
- Báo chí trong nước hầu như không lạm dụng tiếng nước ngoài.
- Thực trạng ở Việt Nam:
- Nhiều bảng hiệu dùng tiếng Anh lớn hơn tiếng Việt, gây cảm giác xa lạ.
- Một số báo chí có “mốt” tóm tắt bằng tiếng nước ngoài, làm giảm thông tin cho người đọc trong nước.
→ Qua so sánh, tác giả làm nổi bật sự thiếu coi trọng tiếng Việt ở một số nơi.
Câu 4.
- Thông tin khách quan: “Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh… có quan hệ quốc tế rộng rãi.”
- Ý kiến chủ quan: “xem ra để cho ‘oai’” (nhận xét mang tính đánh giá của tác giả).
Câu 5.
Cách lập luận của tác giả chặt chẽ, rõ ràng và thuyết phục. Tác giả sử dụng phép so sánh đối chiếu giữa Hàn Quốc và Việt Nam để làm nổi bật vấn đề; kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng thực tế cụ thể, sinh động. Giọng điệu nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, giàu tính gợi suy nghĩ, kết thúc bằng câu hỏi tu từ giúp người đọc tự nhận thức và rút ra bài học.
Câu 1. (2 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nhận của em về bài thơ ở phần Đọc hiểu.
Bài thơ “Việt Nam quê hương ta” của Nguyễn Đình Thi đã để lại trong em nhiều xúc động sâu sắc về tình yêu quê hương, đất nước. Những câu thơ giản dị mà giàu sức gợi đã khắc họa hình ảnh Việt Nam thân thuộc với núi rừng, dòng sông, đồng ruộng và cả những bữa cơm dân dã. Điệp từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần khiến nỗi nhớ quê hương hiện lên da diết, chân thành, như một dòng chảy cảm xúc không ngừng nghỉ trong lòng người ra đi. Qua đó, em cảm nhận được tình cảm gắn bó sâu nặng, thủy chung của con người Việt Nam đối với nơi chôn rau cắt rốn. Đặc biệt, những hình ảnh bình dị như “rau muống”, “quả cà” không chỉ gợi lên cuộc sống mộc mạc mà còn làm nổi bật vẻ đẹp giản đơn, nghĩa tình của quê hương. Bài thơ không chỉ giúp em thêm yêu đất nước mà còn nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng những điều gần gũi, thân thương trong cuộc sống. Đây thực sự là một tác phẩm giàu cảm xúc và ý nghĩa.
Câu 2. (4 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về tinh thần dân tộc của người Việt Nam.
Tinh thần dân tộc là một trong những giá trị cốt lõi làm nên sức mạnh và bản sắc của con người Việt Nam. Đó là tình yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào về truyền thống lịch sử, văn hóa và ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn, xây dựng Tổ quốc. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần dân tộc đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt, giúp dân tộc ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách.
Trước hết, tinh thần dân tộc thể hiện ở lòng yêu nước sâu sắc. Khi đất nước lâm nguy, mọi người dân không phân biệt già trẻ, gái trai đều sẵn sàng đứng lên chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do. Những trang sử hào hùng với các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã minh chứng rõ ràng cho sức mạnh ấy. Không chỉ trong chiến tranh, ở thời bình, tinh thần dân tộc còn được thể hiện qua ý thức lao động, học tập, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.
Bên cạnh đó, tinh thần dân tộc còn là sự trân trọng và gìn giữ bản sắc văn hóa. Người Việt Nam luôn tự hào về tiếng nói, phong tục, tập quán và những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tinh thần này càng trở nên quan trọng, giúp chúng ta không bị hòa tan mà vẫn giữ được bản sắc riêng.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay vẫn còn một số người có biểu hiện thờ ơ, thiếu ý thức với cộng đồng, chạy theo lối sống thực dụng, xa rời truyền thống. Điều đó đặt ra yêu cầu mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nâng cao nhận thức về tinh thần dân tộc, biết tự hào và có trách nhiệm hơn với đất nước.
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ. : Thể thơ tự do
Câu 2. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của bài thơ. :Biểu cảm
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong khổ thơ sau:
Ta đi ta nhớ núi rừng,
Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ.
Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô,
Bữa cơm rau muống quả cà giòn tan...
Trong khổ thơ, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ, tiêu biểu là cụm từ “ta đi ta nhớ” và từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần.
Biện pháp điệp ngữ này có tác dụng nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, thường trực của người ra đi đối với quê hương. Điệp từ “nhớ” được lặp lại liên tiếp không chỉ làm cho âm điệu câu thơ trở nên nhịp nhàng, giàu cảm xúc mà còn khắc sâu tình cảm gắn bó sâu nặng với núi rừng, dòng sông, đồng ruộng và cả những điều bình dị như bữa cơm rau muống, quả cà. Qua đó, người đọc cảm nhận được tình yêu quê hương chân thành, mộc mạc mà tha thiết.
Ngoài ra, việc lặp cấu trúc “ta đi ta nhớ” còn góp phần tạo nên giọng điệu trữ tình, làm nổi bật tâm trạng lưu luyến, bịn rịn của con người khi phải rời xa nơi gắn bó. Nhờ vậy, khổ thơ trở nên giàu sức gợi và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Câu 4. Con người Việt Nam hiện lên trong bài thơ với những phẩm chất nào?
qua bài thơ, con người Việt Nam hiện lên với các phẩm chất: yêu quê hương, giản dị, chân chất và thủy chung nghĩa tình
Câu 5. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.
Đề tài:
Bài thơ viết về quê hương Việt Nam, cụ thể là những cảnh sắc thiên nhiên và đời sống sinh hoạt bình dị của con người nơi núi rừng, đồng ruộng.
Chủ đề:
Qua nỗi nhớ da diết của người ra đi, bài thơ thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng, niềm tự hào và sự gắn bó tha thiết với đất nước, con người Việt Nam. Đồng thời, tác phẩm còn ca ngợi vẻ đẹp mộc mạc, nghĩa tình của quê hương và con người Việt Nam.