Trần Thị Thúy
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.Đoạn trích kể về câu chuyện cô gái yêu thương người yêu nhưng bị cha mẹ sắp đặt hôn nhân, dẫn đến nỗi đau và bi kịch tình cảm.
Câu 2.Đoạn trích có lời của: cô gái (em yêu), mẹ, chị em dâu rể trong nhà và tiếng chim cu.
Câu 3.Tâm trạng cô gái: đau đớn, nhớ thương da diết, bứt rứt, tuyệt vọng vì tình yêu không được đáp lại.
Câu 4.So sánh làm nổi bật thân phận nhỏ bé, thấp kém, đau khổ của cô gái, thể hiện sự bất công và bi kịch số phận.
Câu 5.Quan niệm “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” phản ánh tư tưởng hôn nhân áp đặt, coi nhẹ hạnh phúc cá nhân, gây nhiều đau khổ, cần được thay đổi trong xã hội hiện đại.
Câu 1.Có thể xác định đoạn trích thuộc thể loại truyện thơ vì:
- Văn bản được viết bằng hình thức thơ, có vần điệu, nhịp điệu.
-Có cốt truyện, nhân vật, lời đối thoại, kể lại một câu chuyện tình yêu bi kịch.
-Mang đậm màu sắc dân gian, truyền thuyết của dân tộc Thái.
Câu 2.Người cha đã ngăn cấm quyết liệt tình yêu của Nàng Ủa và Chàng Lú bằng cách:
-Đe dọa, quát mắng, thể hiện quyền uy gia trưởng: “Hễ mày còn bướng thì tao chặt đầu!”.
-Ép gả Nàng Ủa cho người khác có thế lực, bất chấp tình cảm của con.
→ Thể hiện sự hà khắc, tàn nhẫn, coi thường hạnh phúc cá nhân.
Câu 3.Những hành động cho thấy tình cảm của Chàng Lú dành cho Nàng Ủa:
-Chạy theo, gọi với, lo lắng khi Nàng Ủa rời đi.
-Tha thiết bày tỏ tình yêu: “Người vợ yêu anh đợi anh mong”.
-Sẵn sàng bất chấp lời đe dọa, tin vào trời đất chứng giám cho tình yêu.
→ Tình yêu chân thành, mãnh liệt, thủy chung.
Câu 4.Tình cảm của Chàng Lú và Nàng Ủa là:
-Trong sáng, sâu nặng, tha thiết.
-Dù bị chia cắt, cả hai vẫn một lòng hướng về nhau.
→ Đó là một tình yêu đẹp nhưng bi kịch, tiêu biểu cho số phận con người trong xã hội cũ.
Câu 5.Qua văn bản, có thể rút ra suy nghĩ về hôn nhân cưỡng ép:
-Hôn nhân cưỡng ép chà đạp quyền tự do yêu đương, gây đau khổ cho con người.
-Là nguyên nhân dẫn đến bi kịch tinh thần và số phận.
→ Cần tôn trọng tình yêu, quyền lựa chọn hạnh phúc cá nhân, đặc biệt là của người trẻ.