ĐINH THỊ THANH HIỀN
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại hiện nay. Từ thực tế biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, nguồn nước suy giảm hay sự tuyệt chủng của nhiều loài sinh vật, có thể thấy môi trường đang bị tổn hại nghiêm trọng bởi chính con người. Môi trường không chỉ là không gian sống mà còn là điều kiện đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mọi sinh vật, trong đó có con người. Khi môi trường bị phá hủy, con người không chỉ đối mặt với những hậu quả vật chất như thiên tai, dịch bệnh mà còn chịu những tổn thương về tinh thần, như cảm giác bất an, lo lắng về tương lai. Vì vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chính mình. Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức, bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh, và lan tỏa lối sống thân thiện với thiên nhiên. Chỉ khi con người biết trân trọng và gìn giữ môi trường, chúng ta mới có thể xây dựng một tương lai bền vững, an toàn và hạnh phúc.
Câu 2 : Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với những trí thức phong kiến chán ghét danh lợi, tìm về cuộc sống thanh nhàn, hòa hợp với thiên nhiên. Qua bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng này được thể hiện vừa có nét tương đồng, vừa mang dấu ấn riêng của từng tác giả, từng thời đại. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) là một danh sĩ lớn, từng làm quan nhưng sau đó cáo quan về ở ẩn, sống cuộc đời thanh đạm, giữ trọn khí tiết. Trong bài Nhàn, ông hiện lên là một ẩn sĩ chủ động lựa chọn lối sống lánh đời. Ngay từ hai câu thơ đầu: “Một mai, một cuốc, một cần câu / Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”, tác giả đã vẽ ra bức tranh cuộc sống giản dị, gắn bó với lao động và thiên nhiên. Cách điệp “một” tạo nhịp điệu khoan thai, thể hiện sự đủ đầy trong cái đơn sơ. Đặc biệt, quan niệm sống của ông được bộc lộ rõ qua hai câu thực: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao”. Cách nói ngược “dại – khôn” cho thấy thái độ coi thường danh lợi, xem việc rời xa chốn quan trường bon chen mới là lựa chọn sáng suốt. Cuộc sống của người ẩn sĩ hiện lên hài hòa với tự nhiên: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”, một cuộc sống thuận theo quy luật bốn mùa, thanh đạm mà thanh cao. Đỉnh cao của triết lí sống là ở hai câu kết: “Rượu đến bóng cây ta hãy uống / Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”, thể hiện sự tỉnh táo, xem công danh phú quý chỉ là phù du. Như vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm xây dựng hình tượng ẩn sĩ với phong thái ung dung, tự tại, mang đậm màu sắc triết lí. Trong khi đó, Nguyễn Khuyến (1835–1909) là nhà thơ lớn của làng quê Việt Nam, sống trong bối cảnh đất nước rơi vào tay thực dân, bản thân ông cũng cáo quan về quê ở ẩn. Bài thơ thu (thường được gọi là Thu hứng) đã khắc họa hình tượng người ẩn sĩ gắn với tâm trạng cô đơn, man mác buồn. Bức tranh thiên nhiên mở ra với “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”, “Nước biếc trông như tầng khói phủ” – những hình ảnh trong trẻo nhưng tĩnh lặng, gợi cảm giác vắng vẻ. Không gian ấy càng làm nổi bật dáng vẻ của con người ẩn sĩ: sống lặng lẽ giữa thiên nhiên, hòa mình vào cảnh vật. Tuy nhiên, khác với Nguyễn Bỉnh Khiêm, cái “nhàn” của Nguyễn Khuyến không hoàn toàn thanh thản. Những chi tiết như “gió hắt hiu”, “một tiếng trên không ngỗng nước nào” gợi lên nỗi buồn cô tịch, hiu quạnh. Đặc biệt, hai câu kết “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy tâm trạng tự vấn, day dứt của nhà thơ. Ông “thẹn” với Đào Tiềm – một ẩn sĩ mẫu mực – vì cảm thấy mình chưa đạt đến sự thanh cao tuyệt đối. Như vậy, hình tượng ẩn sĩ ở Nguyễn Khuyến mang vẻ đẹp của sự thanh cao nhưng phảng phất nỗi buồn thời thế. So sánh hai bài thơ, có thể thấy điểm gặp gỡ là cả hai tác giả đều lựa chọn lối sống ẩn dật, hòa hợp với thiên nhiên, thể hiện thái độ coi nhẹ danh lợi. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở sắc thái cảm xúc và chiều sâu tư tưởng. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện cái “nhàn” mang tính chủ động, triết lí, ung dung tự tại thì Nguyễn Khuyến lại thể hiện cái “nhàn” nhuốm màu tâm trạng, gắn với nỗi buồn và sự bất lực trước thời cuộc. Sự khác biệt ấy xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử và cá tính sáng tạo của mỗi nhà thơ. Nhìn chung, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên vừa thanh cao, vừa giàu chiều sâu tâm hồn. Đó không chỉ là biểu hiện của lối sống thoát tục mà còn là cách các nhà nho giữ gìn nhân cách trong những thời đại đầy biến động.
Câu 1: Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại hiện nay. Từ thực tế biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, nguồn nước suy giảm hay sự tuyệt chủng của nhiều loài sinh vật, có thể thấy môi trường đang bị tổn hại nghiêm trọng bởi chính con người. Môi trường không chỉ là không gian sống mà còn là điều kiện đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mọi sinh vật, trong đó có con người. Khi môi trường bị phá hủy, con người không chỉ đối mặt với những hậu quả vật chất như thiên tai, dịch bệnh mà còn chịu những tổn thương về tinh thần, như cảm giác bất an, lo lắng về tương lai. Vì vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chính mình. Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức, bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh, và lan tỏa lối sống thân thiện với thiên nhiên. Chỉ khi con người biết trân trọng và gìn giữ môi trường, chúng ta mới có thể xây dựng một tương lai bền vững, an toàn và hạnh phúc.
Câu 2 : Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với những trí thức phong kiến chán ghét danh lợi, tìm về cuộc sống thanh nhàn, hòa hợp với thiên nhiên. Qua bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng này được thể hiện vừa có nét tương đồng, vừa mang dấu ấn riêng của từng tác giả, từng thời đại. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) là một danh sĩ lớn, từng làm quan nhưng sau đó cáo quan về ở ẩn, sống cuộc đời thanh đạm, giữ trọn khí tiết. Trong bài Nhàn, ông hiện lên là một ẩn sĩ chủ động lựa chọn lối sống lánh đời. Ngay từ hai câu thơ đầu: “Một mai, một cuốc, một cần câu / Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”, tác giả đã vẽ ra bức tranh cuộc sống giản dị, gắn bó với lao động và thiên nhiên. Cách điệp “một” tạo nhịp điệu khoan thai, thể hiện sự đủ đầy trong cái đơn sơ. Đặc biệt, quan niệm sống của ông được bộc lộ rõ qua hai câu thực: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao”. Cách nói ngược “dại – khôn” cho thấy thái độ coi thường danh lợi, xem việc rời xa chốn quan trường bon chen mới là lựa chọn sáng suốt. Cuộc sống của người ẩn sĩ hiện lên hài hòa với tự nhiên: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”, một cuộc sống thuận theo quy luật bốn mùa, thanh đạm mà thanh cao. Đỉnh cao của triết lí sống là ở hai câu kết: “Rượu đến bóng cây ta hãy uống / Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”, thể hiện sự tỉnh táo, xem công danh phú quý chỉ là phù du. Như vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm xây dựng hình tượng ẩn sĩ với phong thái ung dung, tự tại, mang đậm màu sắc triết lí. Trong khi đó, Nguyễn Khuyến (1835–1909) là nhà thơ lớn của làng quê Việt Nam, sống trong bối cảnh đất nước rơi vào tay thực dân, bản thân ông cũng cáo quan về quê ở ẩn. Bài thơ thu (thường được gọi là Thu hứng) đã khắc họa hình tượng người ẩn sĩ gắn với tâm trạng cô đơn, man mác buồn. Bức tranh thiên nhiên mở ra với “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”, “Nước biếc trông như tầng khói phủ” – những hình ảnh trong trẻo nhưng tĩnh lặng, gợi cảm giác vắng vẻ. Không gian ấy càng làm nổi bật dáng vẻ của con người ẩn sĩ: sống lặng lẽ giữa thiên nhiên, hòa mình vào cảnh vật. Tuy nhiên, khác với Nguyễn Bỉnh Khiêm, cái “nhàn” của Nguyễn Khuyến không hoàn toàn thanh thản. Những chi tiết như “gió hắt hiu”, “một tiếng trên không ngỗng nước nào” gợi lên nỗi buồn cô tịch, hiu quạnh. Đặc biệt, hai câu kết “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy tâm trạng tự vấn, day dứt của nhà thơ. Ông “thẹn” với Đào Tiềm – một ẩn sĩ mẫu mực – vì cảm thấy mình chưa đạt đến sự thanh cao tuyệt đối. Như vậy, hình tượng ẩn sĩ ở Nguyễn Khuyến mang vẻ đẹp của sự thanh cao nhưng phảng phất nỗi buồn thời thế. So sánh hai bài thơ, có thể thấy điểm gặp gỡ là cả hai tác giả đều lựa chọn lối sống ẩn dật, hòa hợp với thiên nhiên, thể hiện thái độ coi nhẹ danh lợi. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở sắc thái cảm xúc và chiều sâu tư tưởng. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện cái “nhàn” mang tính chủ động, triết lí, ung dung tự tại thì Nguyễn Khuyến lại thể hiện cái “nhàn” nhuốm màu tâm trạng, gắn với nỗi buồn và sự bất lực trước thời cuộc. Sự khác biệt ấy xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử và cá tính sáng tạo của mỗi nhà thơ. Nhìn chung, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên vừa thanh cao, vừa giàu chiều sâu tâm hồn. Đó không chỉ là biểu hiện của lối sống thoát tục mà còn là cách các nhà nho giữ gìn nhân cách trong những thời đại đầy biến động.