Thào Thị Huế

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Thào Thị Huế
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Đoạn thơ trong "Trăng hè" của thi sĩ Đoàn Văn Cừ đã mở ra trước mắt người đọc một bức tranh làng quê thanh bình, tĩnh lặng mà thấm đẫm chất thơ. Trước hết, đó là một không gian yên tĩnh , nơi mọi âm thanh dường như được tiết chế đến mức tối thiểu, tiếng võng “kẽo kẹt đưa” vang lên nhịp nhàng như ru cả đêm hè vào giấc ngủ dịu êm. Cảnh vật chìm trong sự tĩnh lặng tuyệt đối “con chó ngủ lơ mơ”, “người im”, “cảnh lặng tờ” –và cả những chi tiết nhỏ bé mà gợi nên một thế giới an nhiên, thư thái. Ánh trăng trở thành linh hồn của bức tranh, phủ lên cảnh vật một lớp ánh sáng dịu dàng, khiến cho “tàu cau lấp loáng” như ngân lên những giai điệu vô hình của thiên nhiên. Trong khung cảnh ấy, con người hiện lên thật gần gũi như ông lão ung dung nằm giữa sân, đứa trẻ hồn nhiên ngắm bóng mèo. Chính sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên đã tạo nên một vẻ đẹp trọn vẹn của bức tranh quê. Với bút pháp tả cảnh giàu nhạc điệu và cảm xúc, nhà thơ Đoàn Văn Cừ không chỉ tái hiện một đêm hè yên bình mà còn khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu sâu sắc đối với những giá trị giản dị, thân thuộc của làng quê Việt Nam.

Câu 1. Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ ba. Câu 2. Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ đó là _Khi mẹ về ở cùng, Bớt “rất mừng”. _Chị chỉ nhẹ nhàng gặng hỏi để mẹ suy nghĩ chín chắn, không hề trách móc. _Khi mẹ ân hận, chị vội ôm mẹ và nói lời trấn an: “Ô hay !Con có nói gì đâu,sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ? ”. Câu 3. _Nhân vật Bớt là một người con hiếu thảo, bao dung, giàu tình yêu thương và vị tha. Dù từng bị mẹ đối xử bất công, chị vẫn hết lòng chăm sóc mẹ, không oán trách mà còn thấu hiểu, cảm thông cho mẹ. Câu 4. Hành động ôm mẹ và câu nói của Bớt thể hiện: Sự yêu thương, che chở và an ủi mẹ. Tấm lòng bao dung, không chấp nhặt quá khứ. Giúp mẹ vơi đi mặc cảm, ân hận về lỗi lầm trước đây. Câu 5. Thông điệp ý nghĩa mà tôi nhận thấy được chính là trong gia đình cần yêu thương công bằng và biết bao dung, tha thứ cho nhau.Bởi vì  tình yêu thương sẽ gắn kết các thành viên, còn sự thiên vị dễ gây tổn thương. Đồng thời, lòng vị tha giúp con người vượt qua quá khứ, giữ gìn hạnh phúc gia đình.

Câu 1

Trong dòng chảy hiện đại, khi con người mải miết chạy theo phát triển vật chất, môi trường tự nhiên đang phải gánh chịu những tổn thương ngày càng nghiêm trọng. Bảo vệ môi trường vì thế không chỉ là một hành động mang tính trách nhiệm mà còn là điều kiện sống còn của nhân loại. Môi trường không đơn thuần là không gian tồn tại, mà còn là nơi nuôi dưỡng đời sống tinh thần, lưu giữ bản sắc văn hóa của con người. Khi rừng bị tàn phá, sông ngòi bị ô nhiễm, không chỉ hệ sinh thái bị phá vỡ mà chính con người cũng phải đối diện với những khủng hoảng sâu sắc, thậm chí là cảm giác mất mát, hụt hẫng trước thiên nhiên đang dần biến dạng. Thực tế ấy đòi hỏi mỗi cá nhân cần thay đổi nhận thức và hành động: từ việc tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải đến việc lên tiếng bảo vệ thiên nhiên. Như lời nhắc nhở đầy ám ảnh: con người không thừa hưởng Trái Đất từ tổ tiên mà đang vay mượn từ thế hệ mai sau. Vì vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ tương lai của chính mình.

Câu 2

Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ không chỉ là biểu hiện của một lối sống mà còn là tấm gương phản chiếu nhân cách và thái độ của trí thức trước thời cuộc. Qua bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng ấy hiện lên với những điểm tương đồng sâu sắc nhưng cũng mang những sắc thái riêng, góp phần làm phong phú diện mạo văn học dân tộc. Trước hết, cả hai tác phẩm đều khắc họa người ẩn sĩ với lối sống hòa mình vào thiên nhiên, chủ động rời xa vòng danh lợi xô bồ. Ở Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm mở ra một cuộc sống điền viên giản dị: “Một mai, một cuốc, một cần câu” – những vật dụng mộc mạc mà đủ đầy cho một đời sống thanh thản. Ông tự nhận “ta dại” để đối lập với “người khôn”, qua đó khẳng định lựa chọn sống nơi “vắng vẻ”, tránh xa “chốn lao xao”. Còn trong bài thơ của Nguyễn Khuyến, không gian thu hiện lên trong trẻo, tĩnh lặng với “trời thu xanh ngắt”, “nước biếc”, “bóng trăng”. Con người như thu nhỏ lại giữa thiên nhiên, sống chậm, sống sâu, tận hưởng từng khoảnh khắc bình yên. Như vậy, ở cả hai bài thơ, ẩn sĩ là người tìm về thiên nhiên như một chốn nương náu tinh thần, thể hiện thái độ coi nhẹ danh lợi và khát vọng sống thanh cao. Tuy nhiên, nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên như một ẩn sĩ ung dung, tự tại thì Nguyễn Khuyến lại mang dáng vẻ của một ẩn sĩ nhiều trăn trở nội tâm. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, lối sống “nhàn” là một sự lựa chọn mang tính triết lí sâu sắc. Ông ý thức rõ giá trị của cuộc sống và chủ động rút lui khỏi vòng danh lợi, coi “phú quý tựa chiêm bao”. Giọng thơ nhẹ nhàng mà dứt khoát, thể hiện bản lĩnh của một trí tuệ từng trải, hiểu rõ lẽ đời. Ẩn sĩ ở đây không phải là người trốn chạy mà là người làm chủ cuộc đời, biết chọn cho mình con đường đúng đắn. Ngược lại, Nguyễn Khuyến – một nhà nho sống trong buổi giao thời đầy biến động – dù đã lui về ở ẩn nhưng tâm hồn vẫn không hoàn toàn yên tĩnh. Cảnh thu đẹp nhưng phảng phất nỗi buồn, cái tĩnh lặng dường như chứa đựng những rung động sâu xa. Đặc biệt, câu thơ “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy một sự tự vấn, tự soi chiếu bản thân trước hình mẫu ẩn sĩ lí tưởng. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Khuyến chưa thật sự thoát khỏi những day dứt với thời cuộc. Người ẩn sĩ ở đây mang vẻ đẹp của một nhân cách cao quý nhưng vẫn nặng lòng với đất nước, với nhân dân. Sự khác biệt ấy còn được thể hiện qua nghệ thuật. Nhàn mang giọng điệu triết lí, ngôn ngữ giản dị mà hàm súc, tạo nên vẻ đẹp mộc mạc, thâm trầm. Trong khi đó, thơ Nguyễn Khuyến giàu chất trữ tình, tinh tế trong việc miêu tả cảnh sắc, lấy cảnh để gửi gắm tâm tình, tạo nên một bức tranh thu vừa đẹp vừa buồn. Có thể nói, dù khác nhau về sắc thái biểu hiện, cả hai hình tượng ẩn sĩ đều gặp nhau ở vẻ đẹp của nhân cách thanh cao và lối sống hòa hợp với thiên nhiên. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm là biểu tượng của sự ung dung, minh triết thì Nguyễn Khuyến lại là tiếng lòng của một trí thức giàu tâm huyết nhưng đầy trăn trở. Chính sự gặp gỡ và khác biệt ấy đã làm nên chiều sâu tư tưởng và giá trị bền vững cho hai tác phẩm, đồng thời khẳng định sức sống của hình tượng người ẩn sĩ trong văn học trung đại Việt Nam.


Câu 1. _Theo bài viết, tiếc thương sinh thái là trạng thái đau khổ, mất mát về mặt tâm lí trước những tổn thất của môi trường tự nhiên , do biến đổi khí hậu gây ra, khiến con người có cảm xúc tương tự như khi mất đi người thân.

Câu 2. Bài viết trình bày thông tin theo trình tự:

_Giải thích khái niệm

_Phân tích nguyên nhân

_ Đưa dẫn chứng cụ thể

_ Mở rộng phạm vi ảnh hưởng

_ Khái quát vấn đề.

Câu 3. Tác giả sử dụng các bằng chứng tiêu biểu như:

_ Nghiên cứu của hai nhà khoa học Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis. Trường hợp người Inuit ở Canada và nông dân Australia. Lời chia sẻ trực tiếp của người Inuit. Sự kiện cháy rừng Amazon năm 2019 và ảnh hưởng đến các tộc người bản địa. Khảo sát của Caroline Hickman (2021) về tâm lí giới trẻ ở 10 quốc gia.  Câu 4. Cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả: Mới mẻ, độc đáo khi nhìn từ góc độ tâm lí con người, không chỉ dừng ở môi trường tự nhiên. Nhân văn, sâu sắc khi nhấn mạnh đến cảm xúc, nỗi đau tinh thần của con người. Thuyết phục nhờ kết hợp lí luận khoa học với dẫn chứng thực tế cụ thể.

Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất: Biến đổi khí hậu không chỉ tàn phá thiên nhiên mà còn gây tổn thương sâu sắc đến đời sống tinh thần con người, vì vậy mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường để gìn giữ không chỉ hệ sinh thái mà còn chính bản sắc và tương lai của nhân loại.

Câu 1 Trong văn bản ở phần Đọc hiểu, hình tượng đất nước hiện lên vừa gần gũi, vừa lớn lao và giàu chiều sâu tư tưởng. Đất nước không được khắc họa bằng những khái niệm trừu tượng mà hiện hữu trong đời sống lao động, chiến đấu và hồi sinh của con người. Đó là những con đường đầy bụi gạch vụn, những nhịp cầu gãy được dựng lại, những bàn tay cần cù vun quén sau chiến tranh. Đất nước còn là sự tiếp nối bền bỉ của các thế hệ: em bé đến lớp, cô gái may áo cưới đều bước ra từ bom đạn, mất mát. Qua đó, đất nước mang dáng hình của sự hy sinh, kiên cường và sức sống mãnh liệt. Không chỉ dừng ở quá khứ đau thương, đất nước trong thơ còn hướng tới hiện tại và tương lai bằng “vị ngọt” của hòa bình, độc lập. Hình tượng đất nước vì thế trở thành biểu tượng của lịch sử, của nhân dân và của niềm tin vào sự hồi sinh sau khổ đau. Câu 2 Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” Đây là một nhận định sâu sắc, nhấn mạnh vai trò của con người trong việc tạo nên giá trị cảm xúc và ý nghĩa sống động cho lịch sử. Lịch sử, xét về hình thức truyền đạt, thường được trình bày qua các mốc thời gian, sự kiện và con số. Những bài giảng lịch sử nếu chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ kiến thức sẽ dễ trở nên khô khan, xa rời cảm xúc. Bản thân lịch sử không vô cảm, nhưng cách tiếp cận thiếu chiều sâu khiến con người khó rung động. Vì vậy, điều làm nên sức lay động không nằm ở bản thân bài giảng, mà nằm ở con người đứng sau những trang sử ấy. Những người làm nên lịch sử chính là linh hồn của quá khứ. Đó là những con người đã sống, chiến đấu, hy sinh và lựa chọn trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Khi ta biết đến một người mẹ tiễn con ra trận, một người lính ngã xuống ở tuổi đôi mươi, hay một thế hệ lớn lên giữa bom đạn, lịch sử không còn là kiến thức phải học mà trở thành câu chuyện của số phận con người. Chính những con người cụ thể ấy khơi dậy lòng trắc ẩn, sự biết ơn và niềm xúc động sâu xa. Hơn nữa, con người làm nên lịch sử không chỉ tồn tại trong quá khứ mà còn tiếp tục sống trong ký ức và hiện tại. Những giá trị họ để lại như lòng yêu nước, tinh thần hy sinh, ý chí vượt qua gian khổ vẫn âm thầm định hướng cách sống của các thế hệ sau. Khi hiểu lịch sử qua con người, ta không chỉ học để biết mà học để sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn với đất nước và cộng đồng. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là phủ nhận vai trò của việc học lịch sử. Vấn đề nằm ở cách tiếp cận. Khi lịch sử được giảng dạy gắn với con người, với cảm xúc và số phận, bài giảng sẽ trở nên sống động và có sức lay động mạnh mẽ. Khi ấy, người học không chỉ tiếp nhận kiến thức mà còn hình thành sự đồng cảm và trân trọng quá khứ. Tóm lại, con người chính là trung tâm và là yếu tố tạo nên sức sống cho lịch sử. Chúng ta xúc động không phải vì những con số vô tri, mà vì những con người đã làm nên lịch sử bằng máu, nước mắt và niềm tin. Hiểu lịch sử từ con người cũng chính là cách để lịch sử tiếp tục sống trong hiện tại và tương lai.

Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do. Dấu hiệu là số chữ trong mỗi dòng không đều, không có khuôn vần cố định, nhịp thơ linh hoạt. Câu 2. Đoạn thơ thể hiện cảm xúc xúc động, tự hào, tin yêu và biết ơn sâu sắc của nhân vật trữ tình đối với đất nước sau chiến tranh. Câu 3. Đoạn thơ sử dụng biện pháp điệp cấu trúc kết hợp với sự đối lập. Biện pháp này nhấn mạnh thế hệ trẻ tuy sinh ra trong bom đạn, chiến tranh khốc liệt nhưng vẫn hướng đến học tập, hạnh phúc, qua đó làm nổi bật sức sống bền bỉ và tinh thần kiên cường của dân tộc. Câu 4. “Vị ngọt” trong câu thơ cuối là vị ngọt của hòa bình, độc lập và hạnh phúc. Vị ngọt ấy có được từ những hy sinh, mất mát và đấu tranh bền bỉ của nhân dân ta từ Cách mạng tháng Tám. Câu 5. Lòng yêu nước là tình cảm thiêng liêng gắn với ý thức trách nhiệm, thể hiện ở việc biết trân trọng quá khứ, sống có ích trong hiện tại và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước trong hòa bình.

Câu 1 Trong đoạn trích, diễn biến tâm lý của Chi-hon được khắc họa theo hành trình từ vô thức đến thức tỉnh trong đau đớn. Ở giai đoạn đầu, Chi-hon sống trong trạng thái thờ ơ, mải miết theo đuổi công việc và những thành công cá nhân, xem sự hiện diện của mẹ như điều hiển nhiên. Chính sự bận rộn ấy khiến cô không nhận ra nỗi cô đơn và bất an mà mẹ đang phải chịu đựng. Khi hồi tưởng lại những khoảnh khắc mẹ gặp nạn hay bị lạc giữa không gian xa lạ, Chi-hon rơi vào trạng thái bàng hoàng và ám ảnh, bởi sự đối lập nghiệt ngã giữa nỗi bất hạnh của mẹ và sự dửng dưng của chính mình. Từ đó, tâm lý nhân vật chuyển sang ân hận và tự vấn, khi cô nhận ra mình đã đánh mất cơ hội được quan tâm, yêu thương mẹ. Cao trào tâm lý lắng lại trong sự thức tỉnh muộn màng, để lại nỗi đau âm ỉ nhưng sâu sắc. Diễn biến tâm lý ấy không chỉ làm nổi bật bi kịch cá nhân của Chi-hon mà còn gợi lên nỗi day dứt chung của con người trước những giá trị gia đình bị bỏ quên.

Câu 2

Trong hành trình dài của đời người, có những điều dần phai nhạt theo thời gian, nhưng ký ức về những người thân yêu thì không. Đó là miền nhớ bền bỉ nhất trong tâm hồn con người, nơi lưu giữ yêu thương, mất mát và những giá trị làm nên cốt lõi nhân cách mỗi cá nhân. Trước hết, ký ức về người thân là nền tảng tinh thần hình thành bản sắc con người. Ta lớn lên không chỉ bằng tri thức mà còn bằng những hình ảnh rất đỗi đời thường: bàn tay mẹ dắt ta qua những ngày đầu đời, giọng nói của cha nhắc nhở mỗi khi ta vấp ngã. Những ký ức ấy lặng lẽ nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người biết yêu thương, biết rung cảm và không trở nên vô cảm trước cuộc đời. Không dừng lại ở đó, ký ức về người thân còn mang ý nghĩa định hướng đạo đức và lối sống. Những hy sinh thầm lặng, những cách ứng xử giản dị nhưng nhân hậu của người thân trở thành tấm gương soi chiếu cho hành vi của ta. Khi đứng trước những lựa chọn khó khăn, chính ký ức ấy nhắc nhở ta sống đúng, sống tử tế và có trách nhiệm hơn với bản thân cũng như với cộng đồng. Đặc biệt, trong những khoảnh khắc mất mát hay cô đơn, ký ức về người thân trở thành điểm tựa tinh thần không thể thay thế. Khi con người đối diện với thất bại, tổn thương hay bế tắc, những kỷ niệm yêu thương giúp ta đứng vững, không gục ngã. Dù người thân có thể không còn hiện diện về mặt thể xác, họ vẫn sống tiếp trong ký ức, tiếp thêm sức mạnh để ta bước tiếp trên con đường đời. Tuy nhiên, ký ức cũng có thể trở thành nỗi day dứt khôn nguôi nếu con người từng vô tâm, thờ ơ với người thân khi họ còn bên cạnh. Những lời chưa kịp nói, những quan tâm bị trì hoãn khiến ký ức mang theo nỗi ân hận kéo dài. Chính điều đó khiến con người thấm thía rằng tình yêu thương không thể chờ đợi, bởi thời gian không cho ta cơ hội sửa sai lần thứ hai. Vì vậy, trân trọng ký ức không chỉ là nhớ về quá khứ mà còn là bài học cho hiện tại. Đó là lời nhắc nhở mỗi người hãy sống chậm lại, quan tâm nhiều hơn và yêu thương khi còn có thể. Bởi một ngày nào đó, thứ còn lại sau tất cả chỉ là ký ức – và ta chỉ mong ký ức ấy không nhuốm màu hối tiếc. Tóm lại, ký ức về những người thân yêu là tài sản tinh thần vô giá của đời người. Nó giúp ta hiểu mình là ai, sống vì điều gì và trở thành một con người sâu sắc, nhân hậu hơn giữa cuộc đời nhiều biến động.

Câu 1. Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (xưng “tôi”). Câu 2. Điểm nhìn: Điểm nhìn của nhân vật “tôi” – Chi-hon (người con gái thứ ba). Câu 3. Biện pháp nghệ thuật: Đối lập (tương phản). Tác dụng: Làm nổi bật sự hy sinh, cô đơn của người mẹ và sự vô tâm, xa cách của người con. Câu 4. Phẩm chất của người mẹ: Hy sinh, yêu thương gia đình, chịu đựng thầm lặng. Câu văn: “Lúc mẹ cô bị lạc ở ga tàu điện ngầm Seoul, cô đang cầm trên tay bản dịch tiếng Trung cuốn sách của cô…” Câu 5. Chi-hon hối tiếc vì đã vô tâm, không quan tâm đến mẹ khi mẹ cần. Những hành động vô tâm tưởng như nhỏ nhặt nhưng có thể gây tổn thương sâu sắc cho người thân. Ta dễ mải mê với cuộc sống riêng mà quên đi sự quan tâm, sẻ chia. Khi nhận ra thì đôi khi đã quá muộn, để lại nỗi hối tiếc lâu dài.