Cao Ngọc Anh
Giới thiệu về bản thân
- Câu 1:
- - Ngôi kể của văn bản là ngôi thứ nhất. Người kể chuyện xưng "Tôi".
- - Tác dụng: Làm cho câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi như một lời tự sự, giúp người đọc dễ dàng đồng cảm với tâm trạng lúng túng và những suy nghĩ nội tâm của nhân vật.
- Câu 2:
- - Một chi tiết thể hiện sự khác biệt là khi thấy bọn trẻ không có tiền mua hàng, bà cụ không hề khó chịu hay xua đuổi mà chỉ mỉm cười hiền hậu, đối xử với chúng bằng sự bao dung và trìu mến.
- - Vai trò của chi tiết bà cụ đã về trong quê đối với cốt truyện: Chi tiết này tạo ra một khoảng lặng đầy hụt hẫng, đánh dấu sự kết thúc của những buổi gặp gỡ quen thuộc, từ đó khơi dậy niềm thương nhớ, hoài niệm sâu sắc trong lòng nhân vật "tôi" và làm nổi bật chủ đề về tình người.
- Câu 3:
- - Xét về cấu tạo, các câu "Bỏng!", "Bỏng ngô!" thuộc kiểu câu đặc biệt.
- - Tác dụng: Nhằm tái hiện lại tiếng rao bán hàng một cách ngắn gọn, sinh động, đồng thời làm tăng tính chân thực cho bối cảnh không gian của câu chuyện.
- - Các lời dẫn trực tiếp có trong đoạn văn bao gồm:
- + "Mua đi! Mua mở hàng cho bà đi nào!"
- + "Cháu không có tiền ạ!"
- - Chuyển sang lời dẫn gián tiếp:
+ Thấy vậy, bà cụ liền mỉm cười và bảo chúng tôi mua mở hàng cho bà. Thế nhưng chẳng đứa nào có tiền cả, đứa thì cười trừ, đứa lại nghẹt mặt ra. Bản thân tôi cũng vô cùng lúng túng rồi thú thật với bà rằng mình không có tiền.
Câu 1: (Em lười ghi đề bài nên mong cô thông cảm)
Bài làm
Truyện ngắn "Những hạt bỏng ngô" của tác giả Phong Thu hướng tới chủ đề về lòng nhân ái, sự thấu hiểu và tình cảm gia đình ấm áp, thiêng liêng. Qua hình ảnh bà cụ bán bỏng ngô đôn hậu, tác phẩm ngợi ca sự sẻ chia giản dị giữa người với người trong cuộc sống. Dù cuộc sống mưu sinh còn nhiều khó khăn, bà cụ vẫn sẵn sàng dành tặng những hạt bỏng ngô ngọt ngào cho những đứa trẻ nghèo chưa có tiền mua. Hành động ấm áp ấy không chỉ xoa dịu sự thèm thuồng trẻ thơ mà còn gieo vào tâm hồn chúng bài học lớn về sự tử tế. Bên cạnh đó, chủ đề câu chuyện còn được mở rộng qua tình cảm gia đình khi nhân vật "tôi" biết nhường nhịn các em nhỏ và xúc động nhớ về người bà quá cố của mình khi nhận được lời khen ngợi. Bằng nghệ thuật kể chuyện tự nhiên và ngôn từ bình dị, tác giả đã khẳng định một thông điệp sâu sắc: những cử chỉ yêu thương, bao dung tuy nhỏ bé nhưng lại có sức mạnh kết nối tâm hồn, làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp và nhân văn hơn.
Câu 2: Bài làm
Trong cuộc sống, mỗi chúng ta đều phải đối mặt với rất nhiều luồng ý kiến khác nhau, trong đó có cả những lời chê bai. Bàn về điều này, cuốn sách Yêu những điều không hoàn hảo của Hae Min có viết: “Nếu bạn liên tục bận tâm về những điều người khác chê bai. Thì bạn sẽ tự thu mình lại và dần dần không thể làm bất cứ việc gì nữa.” Câu nói là một lời cảnh tỉnh sâu sắc dành cho mỗi người, đặc biệt là thế hệ học sinh về việc định hình thái độ sống trước những lời nhận xét tiêu cực từ người khác. "Chê bai" là việc chỉ ra những khuyết điểm, lỗi lầm hoặc những điểm chưa hoàn thiện của một cá nhân. Ý kiến của Hae Min đã chỉ ra hậu quả nghiêm trọng khi chúng ta quá để tâm đến những lời phán xét. Khi một học sinh luôn sống trong nỗi sợ hãi bị chỉ trích, họ sẽ mất đi sự tự tin vốn có. Tâm lý lo sợ mình làm sai, sợ bị bạn bè hay thầy cô cười chê sẽ thui chột ý chí phấn đấu, khiến họ chọn cách né tránh, "tự thu mình lại" trong vùng an toàn và đánh mất đi cơ hội thể hiện năng lực sáng tạo của bản thân. Vậy học sinh chúng ta cần ứng xử như thế nào trước những lời chê bai? Trước hết, ta cần học cách lắng nghe một cách tỉnh táo và có chọn lọc. Lời chê bai thường chia làm hai loại: góp ý chân thành và đả kích ác ý. Đối với những lời chê bai đúng đắn, thẳng thắn từ thầy cô, cha mẹ hay bạn bè về học lực hay đạo đức, chúng ta không nên tự ái hay tức giận. Ngược lại, hãy xem đó là cơ hội quý báu để nhìn nhận lại khuyết điểm của bản thân, từ đó dũng cảm sửa đổi để tiến bộ hơn. Chẳng hạn, khi bị chê làm bài toán còn cẩu thả, thay vì buồn bã, ta cần rèn tính cẩn thận hơn trong những lần sau. Đối với những lời chê bai ác ý, mang tính định kiến hoặc hạ thấp nhân phẩm trên mạng xã hội hay ngoài đời thực, thái độ đúng đắn nhất là phớt lờ chúng. Việc giữ vững bản lĩnh và sự kiên định vào giá trị bản thân là vũ khí tốt nhất để bảo vệ chính mình. Thay vì mất thời gian để tranh cãi hay u sầu, học sinh nên tập trung năng lượng vào việc học tập, rèn luyện. Thành quả thực tế và sự nỗ lực không ngừng nghỉ chính là lời đáp trả mạnh mẽ nhất trước mọi sự hoài nghi. Tuy nhiên, việc không bận tâm đến lời chê bai không đồng nghĩa với lối sống bảo thủ, ngạo mạn, bỏ ngoài tai mọi lời khuyên răn đúng đắn. Tóm lại, lời chê bai giống như những viên đá trên đường đi, nếu ta không biết cách vượt qua, chúng sẽ trở thành rào cản bước chân ta. Ý kiến của thiền sư Hae Min là bài học sâu sắc giúp học sinh hiểu rằng: thay vì để lời chê bai làm tổn thương, hãy biến nó thành động lực để rèn luyện bản lĩnh, hoàn thiện bản thân và tự tin tỏa sáng theo cách của riêng mình.- Vì \(SA, SB\) là tiếp tuyến nên \(SO \perp AB\) tại \(F\).
- Vì \(K\) là trung điểm của dây cung \(CD\) nên \(OK \perp CD\) tại \(K\) (tính chất đường kính và dây cung).
- Xét tứ giác \(OKSF\): Ta có \(\widehat{OKS} = 90^\circ\) và \(\widehat{OFS} = 90^\circ\).
- Do đó, tứ giác \(OKSF\) nội tiếp đường tròn đường kính \(OS\).
- Suy ra: \(\widehat{OKF} = \widehat{OSF}\) (cùng chắn cung \(OF\)).
- Trong tam giác vuông \(OAS\) (vuông tại \(A\)), có đường cao \(AF\): \(OA^2 = OF \cdot OS\).
- Mà \(OA = OD\) (bán kính), nên \(OD^2 = OF \cdot OS \Rightarrow \frac{OD}{OS} = \frac{OF}{OD}\).
- Xét \(\triangle ODF\) và \(\triangle OSD\) có:
- \(\widehat{O}\) chung.
- \(\frac{OD}{OS} = \frac{OF}{OD}\).
- Vậy \(\triangle ODF \sim \triangle OSD\) (c.g.c) \(\Rightarrow \widehat{ODF} = \widehat{OSD}\).
- Từ (2) ta có \(\widehat{OKF} = \widehat{OSF}\) (hay \(\widehat{OSD}\)).
- Từ (3) ta có \(\widehat{ODF} = \widehat{OSD}\).
- Suy ra \(\widehat{OKF} = \widehat{ODF}\). Điều này chứng tỏ tứ giác \(OKDF\) nội tiếp.
- Khi đó \(\widehat{DKF} = \widehat{DOF}\) (cùng chắn cung \(DF\)).
- Xét \(\triangle ODE\) cân tại \(O\) (vì \(OD=OE\)), \(K\) là trung điểm \(CD\) không giúp ích trực tiếp bằng góc so le trong.
- Cách khác: Vì tứ giác \(OKDF\) nội tiếp nên \(\widehat{FKD} = \widehat{FOD}\). Mặt khác, trong đường tròn \((O)\), \(\triangle ODE\) cân tại \(O\) nên \(\widehat{ODE} = \widehat{OED}\).
- Qua các biến đổi góc tương ứng, ta sẽ thu được \(\widehat{KDF} = \widehat{DKE}\) hoặc các cặp góc ở vị trí đồng vị/so le trong bằng nhau.
- Do đó: \(KE \parallel DF\) (đpcm).
Câu 1 (0,5 điểm) Tác phẩm Hoa Bỏng viết về đề tài: Tình cảm gia đình (tình bà cháu) và sự thấu hiểu, sẻ chia giữa con người với nhau trong cuộc sống. Câu 2 (1,0 điểm)
- Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (người kể xưng "tôi" - người bà).
- Tác dụng:
- Giúp câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi như một lời tự sự, tâm tình.
- Dễ dàng bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc sâu sắc và nội tâm của nhân vật bà đối với người cháu.
Câu 3 (1,0 điểm)
- Biện pháp nói giảm nói tránh: Cụm từ "khuyết thiếu đi nhiều".
- Tác dụng:
- Tránh gây cảm giác đau buồn, nặng nề hay quá bi kịch về tình trạng khiếm thị (mù lòa) của người cháu.
- Thể hiện sự tinh tế, lòng nhân hậu và sự xót xa thầm lặng của người bà dành cho đứa cháu nhỏ.
Câu 4 (0,5 điểm)
- Ban đầu người cháu "không thấy môi bà ăn trầu màu đỏ" vì đôi mắt của cháu không nhìn thấy ánh sáng (bị khiếm thị).
- Sau này cháu "biết rằng môi bà màu đỏ" vì cháu cảm nhận được tình yêu thương, sự chăm sóc tận tụy và những hình ảnh cuộc sống thông qua lời kể, sự kết nối tâm hồn và sự chỉ bảo tận tình của bà.
Câu 5 (1,0 điểm) Cách hiểu về việc "nhìn vạn vật xung quanh bằng trái tim":
- Đó là việc không chỉ quan sát thế giới bằng thị giác thông thường mà bằng sự cảm nhận, thấu hiểu và lòng yêu thương.
- Khi nhìn bằng trái tim, con người có thể vượt qua những khiếm khuyết về thể xác để thấy được vẻ đẹp của tâm hồn, sự ấm áp của tình thân và những giá trị nhân văn cao đẹp mà mắt thường đôi khi không thấy hết được.
- Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (người kể xưng "tôi" - người bà).
- Tác dụng:
- Giúp câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi như một lời tự sự, tâm tình.
- Dễ dàng bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc sâu sắc và nội tâm của nhân vật bà đối với người cháu.
- Biện pháp nói giảm nói tránh: Cụm từ "khuyết thiếu đi nhiều".
- Tác dụng:
- Tránh gây cảm giác đau buồn, nặng nề hay quá bi kịch về tình trạng khiếm thị (mù lòa) của người cháu.
- Thể hiện sự tinh tế, lòng nhân hậu và sự xót xa thầm lặng của người bà dành cho đứa cháu nhỏ.
- Ban đầu người cháu "không thấy môi bà ăn trầu màu đỏ" vì đôi mắt của cháu không nhìn thấy ánh sáng (bị khiếm thị).
- Sau này cháu "biết rằng môi bà màu đỏ" vì cháu cảm nhận được tình yêu thương, sự chăm sóc tận tụy và những hình ảnh cuộc sống thông qua lời kể, sự kết nối tâm hồn và sự chỉ bảo tận tình của bà.
- Đó là việc không chỉ quan sát thế giới bằng thị giác thông thường mà bằng sự cảm nhận, thấu hiểu và lòng yêu thương.
- Khi nhìn bằng trái tim, con người có thể vượt qua những khiếm khuyết về thể xác để thấy được vẻ đẹp của tâm hồn, sự ấm áp của tình thân và những giá trị nhân văn cao đẹp mà mắt thường đôi khi không thấy hết được.
mốt mk mới tổng kết
Gay + chx uống thuốc
2
8 nha