Dương Nguyễn Phương Thảo

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Dương Nguyễn Phương Thảo
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)


Câu 1 

- Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Nghị luận.

Câu 2 

- Chủ thể bài viết là Lê Lợi.

Câu 3 

- Mục đích chính của văn bản: Chiêu dụ người tài đức về giúp việc triều chính. (0.25 điểm)

- Các đường lối tiến cử hiền tài: (0.75 điểm)

+ Các đại thần từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều cử một người tài.

+ Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.

+ Người có tài đức có thể tự tiến cử.

Câu 4 

- Người viết đã đưa ra các dẫn chứng sau:

+ Thời xưa, dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, nên triều đại thịnh trị.

+ Các quan đời Hán Đường tiến cử người tài giúp nước, như Tiêu Hà tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.

- Nhận xét dẫn chứng:

+ Dẫn chứng được đưa ra phong phú, toàn diện, sắc sảo, từ cổ chí kim, từ gần tới xa.

+ Dẫn chứng hợp lí, xác đáng, là những chuyện có thực, đủ để minh chứng cho luận điểm một triều đại thịnh trị cần có người tài làm căn cơ.

Câu 5

Thông qua văn bản, có thể thấy chủ thể bài viết (vua Lê Lợi) là người trọng dụng hiền tài, có tầm nhìn và trách nhiệm với đất nước. Nhà vua nhận thức rõ rằng việc tìm kiếm và sử dụng người tài là yếu tố quan trọng để xây dựng và phát triển quốc gia. Đồng thời, ông cũng thể hiện tấm lòng khiêm nhường, tha thiết mong cầu nhân tài, sẵn sàng mở rộng con đường để người tài ra giúp nước. Điều đó cho thấy tư tưởng tiến bộ và tinh thần vì dân vì nước của vị vua đứng đầu đất nước.


câu 1

Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, logic và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu rõ mục đích của bài chiếu là kêu gọi những người có tài đức ra giúp việc triều chính, xây dựng đất nước. Vì vậy, đối tượng hướng tới là những người hiền tài trong xã hội, dù đang ở triều đình hay nơi thôn dã. Tiếp đó, bài chiếu được triển khai theo bố cục rõ ràng và hợp lí. Mở đầu, tác giả nêu luận điểm: muốn đất nước thịnh trị thì trước hết phải tìm và trọng dụng hiền tài. Sau khi đưa ra luận điểm, Nguyễn Trãi sử dụng hàng loạt dẫn chứng lịch sử tiêu biểu từ các triều đại trước như đời Hán, đời Đường để chứng minh rằng việc tiến cử người tài là yếu tố quan trọng giúp triều đại hưng thịnh. Từ cơ sở đó, tác giả tiếp tục ban hành những chính sách cụ thể nhằm tìm kiếm nhân tài như yêu cầu các quan từ tam phẩm trở lên tiến cử người hiền và khuyến khích người có tài tự tiến cử. Cách lập luận theo trình tự nêu vấn đề – chứng minh – đề xuất giải pháp tạo nên sự mạch lạc, thuyết phục. Đồng thời, giọng điệu chân thành, tha thiết cầu hiền càng làm tăng sức hấp dẫn cho bài chiếu.

câu 2

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là yếu tố then chốt quyết định sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Những người có trình độ chuyên môn cao, tư duy sáng tạo và khả năng nghiên cứu chính là lực lượng quan trọng thúc đẩy tiến bộ kinh tế, khoa học và xã hội. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay đang xuất hiện một hiện tượng đáng lo ngại, đó là “chảy máu chất xám”. Đây là hiện tượng những người có trình độ cao, các nhà khoa học, chuyên gia hoặc sinh viên xuất sắc lựa chọn học tập, làm việc và sinh sống lâu dài ở nước ngoài thay vì trở về đóng góp cho đất nước. Vấn đề này đặt ra nhiều suy nghĩ và thách thức đối với sự phát triển lâu dài của quốc gia.

Trước hết, hiện tượng “chảy máu chất xám” xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Một trong những nguyên nhân quan trọng là môi trường làm việc trong nước đôi khi chưa thật sự thuận lợi để người tài phát huy tối đa năng lực của mình. Ở một số lĩnh vực, cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu khoa học còn hạn chế, nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu của những công trình lớn và mang tính đột phá. Bên cạnh đó, cơ chế đánh giá và sử dụng nhân lực đôi khi chưa thật sự minh bạch và hiệu quả, khiến nhiều người tài cảm thấy khó phát triển hoặc khó được ghi nhận xứng đáng với năng lực của mình. Ngoài ra, cơ hội phát triển nghề nghiệp ở nước ngoài thường rộng mở hơn. Tại các quốc gia phát triển, người lao động có thể tiếp cận với công nghệ hiện đại, tham gia các dự án nghiên cứu mang tầm quốc tế và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, năng động. Bên cạnh đó, yếu tố thu nhập và chế độ đãi ngộ cũng đóng vai trò rất quan trọng. Mức lương hấp dẫn, điều kiện sống tốt cùng với các chính sách hỗ trợ về nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp đã trở thành những yếu tố thu hút nhiều nhân tài ở lại làm việc tại nước ngoài.

Hiện tượng này có thể gây ra nhiều hậu quả đáng lo ngại đối với sự phát triển của đất nước. Trước hết, khi nhiều người có trình độ cao lựa chọn làm việc ở nước ngoài, Việt Nam sẽ mất đi một nguồn nhân lực quý giá – những người có thể đóng góp quan trọng cho sự phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Sự thiếu hụt đội ngũ trí thức giỏi có thể làm giảm khả năng đổi mới sáng tạo, đồng thời khiến quốc gia gặp khó khăn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa. Về lâu dài, điều này có thể làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và các nước tiên tiến. Bên cạnh đó, chính những người làm việc ở nước ngoài đôi khi cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn như sự khác biệt về văn hóa, môi trường sống và áp lực hòa nhập với xã hội mới. Khi sinh sống lâu dài ở nước ngoài, sự gắn kết với quê hương đôi khi cũng dần trở nên xa cách. Vì vậy, “chảy máu chất xám” không chỉ là sự mất mát về nguồn lực tri thức mà còn là sự hụt hẫng về tinh thần và sự kết nối đối với đất nước.

Để hạn chế tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ và lâu dài từ nhiều phía. Trước hết, Nhà nước cần chú trọng đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục, khoa học và công nghệ, tạo ra môi trường làm việc thuận lợi để người tài có thể nghiên cứu, sáng tạo và phát triển sự nghiệp. Việc xây dựng các trung tâm nghiên cứu hiện đại, hỗ trợ các dự án khoa học có giá trị và tạo điều kiện cho các nhà khoa học tham gia vào những chương trình hợp tác quốc tế là những bước đi cần thiết. Bên cạnh đó, cần xây dựng các chính sách đãi ngộ hợp lí và minh bạch nhằm thu hút và giữ chân nhân tài, như nâng cao thu nhập, tạo cơ hội thăng tiến công bằng và tôn vinh những cá nhân có đóng góp nổi bật cho xã hội. Ngoài ra, việc xây dựng một môi trường học thuật cởi mở, khuyến khích sáng tạo và tôn trọng năng lực cá nhân cũng là yếu tố quan trọng. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng việc học tập và làm việc ở nước ngoài không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực. Nếu có những chính sách kết nối hiệu quả, cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn có thể đóng góp tri thức, kinh nghiệm và nguồn lực cho sự phát triển của quê hương.

Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong quá trình phát triển của Việt Nam hiện nay. Việc giải quyết vấn đề này đòi hỏi sự nỗ lực từ cả phía Nhà nước, xã hội và mỗi cá nhân. Đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh và sinh viên, việc không ngừng học tập, rèn luyện tri thức, nâng cao năng lực và nuôi dưỡng tinh thần trách nhiệm đối với đất nước là vô cùng quan trọng. Khi mỗi người trẻ ý thức được vai trò của mình và sẵn sàng đóng góp cho cộng đồng, đó chính là nền tảng vững chắc để xây dựng một Việt Nam ngày càng phát triển, vững mạnh và hội nhập với thế giới.

Câu 1:

Lối sống chủ động có sức mạnh vô cùng to lớn trong cuộc sống của mỗi người. Chủ động là có thể tự mình quyết định, hành động mà không bị chi phối bởi người khác cũng như hoàn cảnh. Lối sống ấy mang lại sức mạnh to lớn cho con người. Chủ động giúp ta biết lắng nghe tiếng nói của bản thân để đưa ra suy nghĩ, quyết định đúng đắn, phù hợp. Lối sống chủ động làm cho con người có đủ sức mạnh để vượt qua những định kiến, lời gièm pha, khen chê của người khác. Cuộc sống luôn mở ra những cơ hội, sự chủ động giúp ta nhận ra cơ hội và nắm bắt nó một cách nhanh chóng. Nếu ta cứ mãi chần chừ, suy nghĩ mà không chủ động tiến về phía trước thì người khác sẽ giành mất cơ hội của mình. Lối sống chủ động chính là bước đệm, là con đường dẫn ta đến với thành công. Sự chủ động giúp ta có thêm động lực, năng lượng, niềm tin tiến bước và đón nhận tương lai. Chủ động sống thật với sở thích của mình, Đặng Lê Nguyên Vũ, một người tốt nghiệp ngành y nhưng lại có đam mê kinh doanh, đã quyết định đi theo sự mách bảo của bản thân để làm kinh doanh và đã thành công, trở thành Chủ tịch Tập đoàn cà phê Trung Nguyên nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn trên khắp thế giới. Bên cạnh những người có lối sống chủ động, nhạy bén, tự quyết đáng ngợi ca, vẫn còn nhiều người có lối sống thụ động, ỷ lại vào người khác, luôn đổ lỗi cho hoàn cảnh, thật đáng phê phán. Thời gian và cơ hội sẽ vụt qua kẽ tay nếu ta mãi bị động và chờ đợi. Bởi vậy, chúng ta cần phải phát huy sức mạnh của lối sống chủ động để cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn.

Câu 2:

Trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam, thơ ca không chỉ là tiếng nói của cảm xúc cá nhân mà còn là nơi kết tinh lý tưởng đạo đức, khát vọng nhân sinh và tinh thần dân tộc. Theo quan niệm mỹ học phương Đông, “thi dĩ ngôn chí” – thơ là để nói chí; song thơ chân chính không dừng lại ở giáo huấn khô khan mà phải là sự hòa quyện giữa tâm hồn và cảnh vật, giữa cảm xúc và tư tưởng. Ở đỉnh cao của dòng chảy ấy, Nguyễn Trãi hiện lên như một ngôi sao sáng của văn hiến Đại Việt – anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, và cũng là một thi sĩ có hồn thơ tinh tế, đằm sâu. Nếu “Bình Ngô đại cáo” được xem là áng “thiên cổ hùng văn” thì tập thơ Nôm Quốc âm thi tập lại là tiếng nói tâm tình gần gũi, mộc mạc mà cao đẹp. Trong đó, bài “Cảnh ngày hè” (Bảo kính cảnh giới số 43) là một thi phẩm tiêu biểu, kết tinh vẻ đẹp tâm hồn Ức Trai: yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và trên hết là nặng lòng với nhân dân, đất nước.

“Cảnh ngày hè” thuộc chùm thơ “Bảo kính cảnh giới” – nghĩa là “gương báu răn mình”. Tuy mang sắc thái giáo huấn, song ở bài thơ này, chất trữ tình dạt dào đã lấn át mọi ý vị khuyên răn. Tác phẩm được viết theo thể thất ngôn xen lục ngôn, có sự cách tân so với thi luật Đường, với hình ảnh gần gũi đời thường và ngôn ngữ thuần Việt giàu sức gợi. Bài thơ mở ra bức tranh mùa hè rực rỡ, đầy nhựa sống, để rồi khép lại bằng một ước nguyện tha thiết cho dân giàu nước mạnh – đó cũng chính là điểm hội tụ tư tưởng nhân nghĩa suốt đời Nguyễn Trãi theo đuổi.

Bài thơ mở đầu bằng cách rất đỗi tự nhiên như một lời tâm tình của người thi sĩ:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

Chỉ một câu lục ngôn ngắn gọn mà mở ra cả không gian thời gian và trạng thái tâm hồn. “Rồi” nghĩa là rỗi rãi, nhàn hạ; “ngày trường” là ngày dài. Đó là một buổi chiều hè thanh thản, khi thi nhân được thảnh thơi giữa thiên nhiên.

Tuy nhiên, sự nhàn ấy không đồng nghĩa với thái độ thoát ly. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài “Nhàn” chủ động lựa chọn lối sống ẩn dật: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ”, thì Nguyễn Trãi lại mang tâm thế khác. Ông từng khẳng định trong “Bình Ngô đại cáo”: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Vì thế, phút “hóng mát” này chỉ là khoảng lặng hiếm hoi trong cuộc đời nhiều sóng gió. Nhàn thân nhưng tâm không nhàn. Chính điều đó làm cho câu thơ vừa nhẹ nhàng vừa ẩn chứa chiều sâu suy tư. Nghệ thuật xen câu lục ngôn trong thể thất ngôn cũng tạo nhịp điệu mềm mại, phá vỡ khuôn phép nghiêm ngặt của thi luật Đường. Cách mở đầu ấy cho thấy một tinh thần cách tân táo bạo và một tâm hồn phóng khoáng.
Ở phần đầu của bài, với sáu câu thơ, tác giả đã cho chúng ta cảm nhận được sự giao cảm với thiên nhiên tạo vật của hồn thơ Ức Trai. Nguyễn Trãi là một nhà thơ yêu thiên nhiên. Với ông, thiên nhiên là anh em, là bầu bạn:
“Núi láng giềng chim bầu bạn
Mây khách khứa nguyệt anh tam
Tâm hồn nhà thơ luôn rộng mở đón nhận thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh: thời chiến, thời bình, khi buồn, khi vui, lúc bận rộn hay khi thư nhàn:
"Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén
Ngày vắng xem hoa bợ cây"
Ở bài thơ này, Nguyễn Trãi đón nhận thiên nhiên trong lúc:

"Rồi hóng mát thuở ngày trường”


Có ý kiến cho rằng, đó là thời bình, Nguyễn Trãi đang tham gia triều chính, dốc lòng phụng sự đất nước. Cũng có ý kiến cho rằng, lúc đó là khoảng 1438 – 1439 khi Nguyễn Trãi xin về trông coi chùa Tư Phúc ở Côn Sơn, thực tế là về ở ẩn, lánh xa bụi trần. Thế nhưng, dù là khoảng thời gian nào thì thời điểm được ghi lại trong thơ cũng là thời điểm hiếm hoi trong cuộc đời Nguyễn Trãi. Bởi vì “rồi” là rỗi rãi, “ngày trường” là ngày dài. Một ngày như thế trong đời Nguyễn Trãi đâu nhiều? Ông là người thân không nhàn mà dù thân có nhàn thì tâm cũng không nhàn. Tấc lòng ưu dân ái quốc trong ông “đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông”. “Một phút thanh nhàn trong thuở ấy” đối với Nguyễn Trãi đối với Nguyễn Trãi đáng quý biết bao. Thời gian rảnh rỗi, tâm hồn thư thái thảnh thơi, đất trời trong lành mát mẻ, … Thật hiếm hoi mới có được một hoàn cảnh lí tưởng đến thế để yêu say cảnh đẹp. Thi nhân xưa đến với thiên nhiên thường dùng bút pháp vịnh, nhưng ở đây Nguyễn Trãi lại thiên về bút pháp tả, không chỉ gợi lên khung cảnh, mà còn thể hiện cụ thể những thanh nha, an yên của cảnh vật ấy ra trước mắt người đọc. những câu thơ tiếp theo thực sự đã gợi lên trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên mùa hè thật sinh động và giàu sức sống:

“Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tịn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”.

Tâm hồn Nguyễn Trãi như hòa cùng cảnh vật, nắm bắt lấy cái hồn của cảnh vật để làm nên sức sống tưng bừng của bức tranh mùa hè. Cây hoè xanh tốt đang xòe tán rộng. Động từ “đùn đùn” đảo lên trước cụm từ “tán rợp giương” gợi cảm giác màu xanh đậm (xanh lục) mở ra, tỏa rộng theo cả chiều cao (đùn đùn) lẫn chiều rộng (giường). Hoa thạch lựu bên hiên nhà đang “phun” thức đỏ. Động từ “phun” gợi tả những bông hoa lựu như đang nở to thêm nữa, đỏ thắm thêm nữa. Câu thơ gợi lên liên tưởng đến hình ảnh “đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” của Nguyễn Du. Cùng cảnh tả mùa hè ta thấy hai thi sĩ tài ba đều có cái nhìn tinh tế. Với “lửa lựu lập lòe”, Nguyễn Du thiên về tạo hình gợi hình ảnh bông hoa rung rinh trước gió, lúc ẩn lúc hiện trong đám lá xanh như đốm lửa lúc sáng lúc tắt. Còn ở Cảnh ngày hè, với từ “phun” Nguyễn Trãi thiên về gợi sức sống. Màu đỏ của hoa lựu tuôn trào ra mạnh mẽ. Giữa màu xanh đậm của tán hòe và màu đỏ rực rỡ của hoa lựu là màu hồng bát ngát của áo sen dậy hương thơm “hồng liên trì đã tiễn mùi hương”. Không chỉ vậy, bức tranh ngày hè của Nguyễn Trãi còn được bổ sung thêm một gam màu ấm nóng nữa: màu vàng của ánh chiều tà lúc “tịch dương”. Trong không gian của buổi chiều mùa hè đầy sức sống ấy có những âm thanh “dắng dỏi” của tiếng ve – tiếng ve như tiếng đàn rộn rã và tiếng “lao xao” từ xa vọng lại. Ở đây “lao xao” là âm thanh của cuộc sống con người gợi sự đông đúc, nhộn nhịp của cảnh mua bán ở một chợ cá làng chài. Đó là âm thanh của cuộc sống no đủ, âm thanh được Nguyễn Trãi cảm nhận không chỉ bằng thính giác mà bằng cả tấm lòng hướng về cuộc sống. Bức tranh mùa hè sinh động được tạo nên bởi sự kết hợp hài hòa của đường nét, hình khối (đùn đùn, rợp giương, phun, …), của màu sắc (màu xanh lục của tán hòe, màu đỏ của hoa lựu, màu hồng của hoa sen, màu vàng của nắng chiều), của ánh sáng, của âm thanh (tiếng dắng dỏi của cầm ve, tiếng lao xao của chợ cá). Nhà thơ sử dụng các động từ mạnh cho thấy sức sống của cảnh vật và gợi tính chất của bức tranh. Không gian trong bức tranh mở rộng từ gần – hiên nhà đến xa – chợ cá. Nguyễn Trãi đã hòa màu sắc, âm thanh, đường nét theo quy luật của cái đẹp trong hội họa, âm nhạc làm cho bức tranh thiên nhiên trở nên có hồn, vừa gợi tả vừa sâu lắng. Cảnh sắc thiên nhiên trong cảm nhận và thể hiện của Nguyễn Trãi không phải trong trạng thái tĩnh mà ở trạng thái động, tất cả như đang cựa quậy, đang lan tỏa, đang vươn lên đầy sức sống nhưng cũng không hề thiếu sự tinh tế, hài hòa. Nếu so sánh với sự mộc mạc, thô nhám như trong câu thơ của tác giả thời Hồng Đức, thì quả thực chất thơ của Ức Trai “tình” hơn hẳn:

“Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi
Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè”.

Nguyễn Trãi đã cảm nhận thiên nhiên bằng tất cả các giác quan từ thị giác, thính giác đến khứu giác, nhưng hơn hết sự cảm nhận đó là bằng cả tâm hồn. Hồn thơ Nguyễn Trãi giao cảm mạnh mẽ và tinh tế của cảnh vật. Bức tranh ngày hè độc đáo và ấn tượng mà người người đọc đang thưởng thức ấy được tạo nên bởi tình yêu thương sâu sắc, bởi tâm hồn nhạy cảm và tài quan sát tinh tế của nhà thơ. Đồng thời cũng nhờ tài sử dụng ngôn ngữ, những từ tượng hình, tượng thanh, từ thuần Việt giàu sức gợi và liên tưởng đã được Nguyễn Trãi sắp xếp đầy tài tình trong những dòng thơ cô đọng và giàu sức gợi. Cội nguồn của bức tranh thiên nhiên sống động ấy chính là tấm lòng thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống của tác giả. Cảnh vật thanh bình, yên vui bởi nhà thơ đang thanh thản. Âm thanh “lao xao chợ cá” dội tới từ phía làng chài phải chăng đang thể hiện niềm vui của tác giả trước cảnh làm ăn yên ấm của người dân? Và tiếng cầm ve “dắng dỏi” cất lên phải chăng là những rộn ràng trong lòng Nguyễn Trãi khi thấy nhân dân được no đủ? Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên nhưng trước hết tấm lòng ông vẫn tha thiết với con người, với dân, với nước. Cuộc sống của người dân, đặc biệt là những người dân lao động (dân đen, con đỏ). Nguyễn Trãi ước:

“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”.

Nguyễn Trãi đã sử dụng một điển tích trong văn học Trung Quốc để nói lên mong ước của mình: Ngu cầm – đàn của vua Nghiêu vua Thuấn. Nguyễn Trãi mong có chiếc đàn của vua Nghiêu – Thuấn để nhân dân bốn phương được giàu có yên vui. Ta có thể hiểu nhìn dân giàu đủ Nguyễn Trãi mong có cây đàn của vua Thuấn để gảy khúc Nam Phong, ca ngợi cuộc sống của dân chúng khắp nơi đang được no ấm. Ta cũng có thể hiểu Nguyễn Trãi ước mong có một thời thái bình đời vua Nghiêu vua Thuấn để nhân dân được thực sự giàu đủ. Nhưng có lẽ với một người như Nguyễn Trãi, ta phải hiểu là ông mong gảy khúc Nam Phong của vua Thuấn để cho nhân dân giàu đủ khắp đòi phương – khắp mọi nơi. Điển tích “Ngu cầm” gợi cây đàn của vua Thuấn – biểu tượng cho thời đại thịnh trị. Song điều đáng chú ý là chữ “dân” ở cuối bài. Bao nhiêu sắc màu, âm thanh, hương thơm đều quy tụ về một ước mong: nhân dân được giàu đủ. Tư tưởng ấy nhất quán với quan niệm “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” trong “Bình Ngô đại cáo”.

Khác với nhiều nhà nho tìm thú vui cá nhân nơi sơn thủy, Nguyễn Trãi dù ẩn dật vẫn đau đáu nỗi lo cho dân. Tâm thế ấy khiến ông gần với tinh thần nhập thế của các bậc đại nho phương Đông, nhưng đồng thời cũng mang dấu ấn rất Việt Nam: yêu dân, thương dân từ thực tiễn đời sống.

Câu kết của bài thơ là một câu thơ sáu chữ ngắn gọn, giọng thơ chắc nịch dồn nén cảm xúc của cả bài. Nguyễn Trãi nhắc đến “dân”. Điểm kết tụ của hồn thơ Ức Trai không phải là thiên nhiên tạo vật mà là ở con người. Lúc rảnh rỗi tưởng như hoàn toàn đắm mình trong thiên nhiên mà Nguyễn Trãi vẫn không nguôi nghĩ về nhân dân. Câu thơ kết đã thể hiện lý tưởng nhân nghĩa mà bao năm Nguyễn Trãi phấn đấu. Suốt cả cuộc đời ông chỉ có một ước mong: mong cho quốc thái dân an:

“Sách một hai phiên làm bầu bạn ;
Rượu năm ba chén đổi công danh.
Ngoài chưng phần ấy cầu đâu nữa ?
Cầu một ngồi coi đời thái bình”.

Về phương diện nghệ thuật, “Cảnh ngày hè” cho thấy tài năng sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Trãi trong tiến trình thơ Nôm dân tộc. Trước hết, việc xen kẽ câu lục ngôn trong thể thất ngôn đã phá vỡ sự đăng đối quen thuộc của thi luật Đường, tạo nên nhịp điệu linh hoạt, tự nhiên, phù hợp với mạch cảm xúc đang tuôn chảy. Ngôn ngữ thơ giàu tính dân tộc với hàng loạt từ thuần Việt giàu sức gợi như “đùn đùn”, “phun”, “lao xao”, “dắng dỏi” khiến cảnh vật không còn ước lệ mà trở nên sống động, cụ thể. Bút pháp tả thực kết hợp với cảm hứng trữ tình đã làm nên một bức tranh thiên nhiên đa sắc, đa thanh, có chiều sâu không gian và nhịp điệu thời gian. Đặc biệt, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đạt đến độ nhuần nhị: cảnh không chỉ để thưởng ngoạn mà còn là nơi gửi gắm lý tưởng nhân nghĩa. So với vẻ đẹp cổ điển, ước lệ trong thơ Đường hay sắc thái tĩnh lặng, u hoài của thơ thu Nguyễn Khuyến, bức tranh hè của Nguyễn Trãi mang sức sống khỏe khoắn, đậm hơi thở đời thường. Điều đó cho thấy ông không chỉ là nhà tư tưởng lớn mà còn là người đặt nền móng quan trọng cho sự phát triển của thơ Nôm, góp phần khẳng định bản sắc riêng của văn học dân tộc.

Khép lại bài thơ, người đọc không chỉ còn ấn tượng về sắc đỏ hoa lựu hay tiếng ve ngân vang trong buổi “tịch dương”, mà sâu xa hơn là âm hưởng của một tấm lòng luôn hướng về nhân dân. Thiên nhiên trong “Cảnh ngày hè” đẹp bởi được soi chiếu qua trái tim yêu đời, yêu người; và trái tim ấy càng cao quý hơn khi ước nguyện cuối cùng vẫn là “dân giàu đủ khắp đòi phương”. Bởi vậy, giá trị của thi phẩm không chỉ nằm ở bức tranh mùa hạ rực rỡ mà còn ở chiều sâu nhân văn bền vững. Trải qua bao thế kỉ, tiếng thơ của Ức Trai vẫn vang vọng như lời nhắc nhở rằng mọi vẻ đẹp của cuộc sống – dù là thiên nhiên hay nghệ thuật – chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với hạnh phúc của con người. Và có lẽ chính vì thế, “Cảnh ngày hè” vẫn tiếp tục sống, tiếp tục tỏa sáng trong tâm hồn bao thế hệ độc giả hôm nay và mai sau.





Câu 1:

Lối sống chủ động có sức mạnh vô cùng to lớn trong cuộc sống của mỗi người. Chủ động là có thể tự mình quyết định, hành động mà không bị chi phối bởi người khác cũng như hoàn cảnh. Lối sống ấy mang lại sức mạnh to lớn cho con người. Chủ động giúp ta biết lắng nghe tiếng nói của bản thân để đưa ra suy nghĩ, quyết định đúng đắn, phù hợp. Lối sống chủ động làm cho con người có đủ sức mạnh để vượt qua những định kiến, lời gièm pha, khen chê của người khác. Cuộc sống luôn mở ra những cơ hội, sự chủ động giúp ta nhận ra cơ hội và nắm bắt nó một cách nhanh chóng. Nếu ta cứ mãi chần chừ, suy nghĩ mà không chủ động tiến về phía trước thì người khác sẽ giành mất cơ hội của mình. Lối sống chủ động chính là bước đệm, là con đường dẫn ta đến với thành công. Sự chủ động giúp ta có thêm động lực, năng lượng, niềm tin tiến bước và đón nhận tương lai. Chủ động sống thật với sở thích của mình, Đặng Lê Nguyên Vũ, một người tốt nghiệp ngành y nhưng lại có đam mê kinh doanh, đã quyết định đi theo sự mách bảo của bản thân để làm kinh doanh và đã thành công, trở thành Chủ tịch Tập đoàn cà phê Trung Nguyên nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn trên khắp thế giới. Bên cạnh những người có lối sống chủ động, nhạy bén, tự quyết đáng ngợi ca, vẫn còn nhiều người có lối sống thụ động, ỷ lại vào người khác, luôn đổ lỗi cho hoàn cảnh, thật đáng phê phán. Thời gian và cơ hội sẽ vụt qua kẽ tay nếu ta mãi bị động và chờ đợi. Bởi vậy, chúng ta cần phải phát huy sức mạnh của lối sống chủ động để cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn.

Câu 2:

Trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam, thơ ca không chỉ là tiếng nói của cảm xúc cá nhân mà còn là nơi kết tinh lý tưởng đạo đức, khát vọng nhân sinh và tinh thần dân tộc. Theo quan niệm mỹ học phương Đông, “thi dĩ ngôn chí” – thơ là để nói chí; song thơ chân chính không dừng lại ở giáo huấn khô khan mà phải là sự hòa quyện giữa tâm hồn và cảnh vật, giữa cảm xúc và tư tưởng. Ở đỉnh cao của dòng chảy ấy, Nguyễn Trãi hiện lên như một ngôi sao sáng của văn hiến Đại Việt – anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, và cũng là một thi sĩ có hồn thơ tinh tế, đằm sâu. Nếu “Bình Ngô đại cáo” được xem là áng “thiên cổ hùng văn” thì tập thơ Nôm Quốc âm thi tập lại là tiếng nói tâm tình gần gũi, mộc mạc mà cao đẹp. Trong đó, bài “Cảnh ngày hè” (Bảo kính cảnh giới số 43) là một thi phẩm tiêu biểu, kết tinh vẻ đẹp tâm hồn Ức Trai: yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và trên hết là nặng lòng với nhân dân, đất nước.

“Cảnh ngày hè” thuộc chùm thơ “Bảo kính cảnh giới” – nghĩa là “gương báu răn mình”. Tuy mang sắc thái giáo huấn, song ở bài thơ này, chất trữ tình dạt dào đã lấn át mọi ý vị khuyên răn. Tác phẩm được viết theo thể thất ngôn xen lục ngôn, có sự cách tân so với thi luật Đường, với hình ảnh gần gũi đời thường và ngôn ngữ thuần Việt giàu sức gợi. Bài thơ mở ra bức tranh mùa hè rực rỡ, đầy nhựa sống, để rồi khép lại bằng một ước nguyện tha thiết cho dân giàu nước mạnh – đó cũng chính là điểm hội tụ tư tưởng nhân nghĩa suốt đời Nguyễn Trãi theo đuổi.

Bài thơ mở đầu bằng cách rất đỗi tự nhiên như một lời tâm tình của người thi sĩ:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

Chỉ một câu lục ngôn ngắn gọn mà mở ra cả không gian thời gian và trạng thái tâm hồn. “Rồi” nghĩa là rỗi rãi, nhàn hạ; “ngày trường” là ngày dài. Đó là một buổi chiều hè thanh thản, khi thi nhân được thảnh thơi giữa thiên nhiên.

Tuy nhiên, sự nhàn ấy không đồng nghĩa với thái độ thoát ly. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài “Nhàn” chủ động lựa chọn lối sống ẩn dật: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ”, thì Nguyễn Trãi lại mang tâm thế khác. Ông từng khẳng định trong “Bình Ngô đại cáo”: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Vì thế, phút “hóng mát” này chỉ là khoảng lặng hiếm hoi trong cuộc đời nhiều sóng gió. Nhàn thân nhưng tâm không nhàn. Chính điều đó làm cho câu thơ vừa nhẹ nhàng vừa ẩn chứa chiều sâu suy tư. Nghệ thuật xen câu lục ngôn trong thể thất ngôn cũng tạo nhịp điệu mềm mại, phá vỡ khuôn phép nghiêm ngặt của thi luật Đường. Cách mở đầu ấy cho thấy một tinh thần cách tân táo bạo và một tâm hồn phóng khoáng.
Ở phần đầu của bài, với sáu câu thơ, tác giả đã cho chúng ta cảm nhận được sự giao cảm với thiên nhiên tạo vật của hồn thơ Ức Trai. Nguyễn Trãi là một nhà thơ yêu thiên nhiên. Với ông, thiên nhiên là anh em, là bầu bạn:
“Núi láng giềng chim bầu bạn
Mây khách khứa nguyệt anh tam
Tâm hồn nhà thơ luôn rộng mở đón nhận thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh: thời chiến, thời bình, khi buồn, khi vui, lúc bận rộn hay khi thư nhàn:
"Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén
Ngày vắng xem hoa bợ cây"
Ở bài thơ này, Nguyễn Trãi đón nhận thiên nhiên trong lúc:

"Rồi hóng mát thuở ngày trường”


Có ý kiến cho rằng, đó là thời bình, Nguyễn Trãi đang tham gia triều chính, dốc lòng phụng sự đất nước. Cũng có ý kiến cho rằng, lúc đó là khoảng 1438 – 1439 khi Nguyễn Trãi xin về trông coi chùa Tư Phúc ở Côn Sơn, thực tế là về ở ẩn, lánh xa bụi trần. Thế nhưng, dù là khoảng thời gian nào thì thời điểm được ghi lại trong thơ cũng là thời điểm hiếm hoi trong cuộc đời Nguyễn Trãi. Bởi vì “rồi” là rỗi rãi, “ngày trường” là ngày dài. Một ngày như thế trong đời Nguyễn Trãi đâu nhiều? Ông là người thân không nhàn mà dù thân có nhàn thì tâm cũng không nhàn. Tấc lòng ưu dân ái quốc trong ông “đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông”. “Một phút thanh nhàn trong thuở ấy” đối với Nguyễn Trãi đối với Nguyễn Trãi đáng quý biết bao. Thời gian rảnh rỗi, tâm hồn thư thái thảnh thơi, đất trời trong lành mát mẻ, … Thật hiếm hoi mới có được một hoàn cảnh lí tưởng đến thế để yêu say cảnh đẹp. Thi nhân xưa đến với thiên nhiên thường dùng bút pháp vịnh, nhưng ở đây Nguyễn Trãi lại thiên về bút pháp tả, không chỉ gợi lên khung cảnh, mà còn thể hiện cụ thể những thanh nha, an yên của cảnh vật ấy ra trước mắt người đọc. những câu thơ tiếp theo thực sự đã gợi lên trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên mùa hè thật sinh động và giàu sức sống:

“Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tịn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”.

Tâm hồn Nguyễn Trãi như hòa cùng cảnh vật, nắm bắt lấy cái hồn của cảnh vật để làm nên sức sống tưng bừng của bức tranh mùa hè. Cây hoè xanh tốt đang xòe tán rộng. Động từ “đùn đùn” đảo lên trước cụm từ “tán rợp giương” gợi cảm giác màu xanh đậm (xanh lục) mở ra, tỏa rộng theo cả chiều cao (đùn đùn) lẫn chiều rộng (giường). Hoa thạch lựu bên hiên nhà đang “phun” thức đỏ. Động từ “phun” gợi tả những bông hoa lựu như đang nở to thêm nữa, đỏ thắm thêm nữa. Câu thơ gợi lên liên tưởng đến hình ảnh “đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” của Nguyễn Du. Cùng cảnh tả mùa hè ta thấy hai thi sĩ tài ba đều có cái nhìn tinh tế. Với “lửa lựu lập lòe”, Nguyễn Du thiên về tạo hình gợi hình ảnh bông hoa rung rinh trước gió, lúc ẩn lúc hiện trong đám lá xanh như đốm lửa lúc sáng lúc tắt. Còn ở Cảnh ngày hè, với từ “phun” Nguyễn Trãi thiên về gợi sức sống. Màu đỏ của hoa lựu tuôn trào ra mạnh mẽ. Giữa màu xanh đậm của tán hòe và màu đỏ rực rỡ của hoa lựu là màu hồng bát ngát của áo sen dậy hương thơm “hồng liên trì đã tiễn mùi hương”. Không chỉ vậy, bức tranh ngày hè của Nguyễn Trãi còn được bổ sung thêm một gam màu ấm nóng nữa: màu vàng của ánh chiều tà lúc “tịch dương”. Trong không gian của buổi chiều mùa hè đầy sức sống ấy có những âm thanh “dắng dỏi” của tiếng ve – tiếng ve như tiếng đàn rộn rã và tiếng “lao xao” từ xa vọng lại. Ở đây “lao xao” là âm thanh của cuộc sống con người gợi sự đông đúc, nhộn nhịp của cảnh mua bán ở một chợ cá làng chài. Đó là âm thanh của cuộc sống no đủ, âm thanh được Nguyễn Trãi cảm nhận không chỉ bằng thính giác mà bằng cả tấm lòng hướng về cuộc sống. Bức tranh mùa hè sinh động được tạo nên bởi sự kết hợp hài hòa của đường nét, hình khối (đùn đùn, rợp giương, phun, …), của màu sắc (màu xanh lục của tán hòe, màu đỏ của hoa lựu, màu hồng của hoa sen, màu vàng của nắng chiều), của ánh sáng, của âm thanh (tiếng dắng dỏi của cầm ve, tiếng lao xao của chợ cá). Nhà thơ sử dụng các động từ mạnh cho thấy sức sống của cảnh vật và gợi tính chất của bức tranh. Không gian trong bức tranh mở rộng từ gần – hiên nhà đến xa – chợ cá. Nguyễn Trãi đã hòa màu sắc, âm thanh, đường nét theo quy luật của cái đẹp trong hội họa, âm nhạc làm cho bức tranh thiên nhiên trở nên có hồn, vừa gợi tả vừa sâu lắng. Cảnh sắc thiên nhiên trong cảm nhận và thể hiện của Nguyễn Trãi không phải trong trạng thái tĩnh mà ở trạng thái động, tất cả như đang cựa quậy, đang lan tỏa, đang vươn lên đầy sức sống nhưng cũng không hề thiếu sự tinh tế, hài hòa. Nếu so sánh với sự mộc mạc, thô nhám như trong câu thơ của tác giả thời Hồng Đức, thì quả thực chất thơ của Ức Trai “tình” hơn hẳn:

“Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi
Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè”.

Nguyễn Trãi đã cảm nhận thiên nhiên bằng tất cả các giác quan từ thị giác, thính giác đến khứu giác, nhưng hơn hết sự cảm nhận đó là bằng cả tâm hồn. Hồn thơ Nguyễn Trãi giao cảm mạnh mẽ và tinh tế của cảnh vật. Bức tranh ngày hè độc đáo và ấn tượng mà người người đọc đang thưởng thức ấy được tạo nên bởi tình yêu thương sâu sắc, bởi tâm hồn nhạy cảm và tài quan sát tinh tế của nhà thơ. Đồng thời cũng nhờ tài sử dụng ngôn ngữ, những từ tượng hình, tượng thanh, từ thuần Việt giàu sức gợi và liên tưởng đã được Nguyễn Trãi sắp xếp đầy tài tình trong những dòng thơ cô đọng và giàu sức gợi. Cội nguồn của bức tranh thiên nhiên sống động ấy chính là tấm lòng thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống của tác giả. Cảnh vật thanh bình, yên vui bởi nhà thơ đang thanh thản. Âm thanh “lao xao chợ cá” dội tới từ phía làng chài phải chăng đang thể hiện niềm vui của tác giả trước cảnh làm ăn yên ấm của người dân? Và tiếng cầm ve “dắng dỏi” cất lên phải chăng là những rộn ràng trong lòng Nguyễn Trãi khi thấy nhân dân được no đủ? Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên nhưng trước hết tấm lòng ông vẫn tha thiết với con người, với dân, với nước. Cuộc sống của người dân, đặc biệt là những người dân lao động (dân đen, con đỏ). Nguyễn Trãi ước:

“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”.

Nguyễn Trãi đã sử dụng một điển tích trong văn học Trung Quốc để nói lên mong ước của mình: Ngu cầm – đàn của vua Nghiêu vua Thuấn. Nguyễn Trãi mong có chiếc đàn của vua Nghiêu – Thuấn để nhân dân bốn phương được giàu có yên vui. Ta có thể hiểu nhìn dân giàu đủ Nguyễn Trãi mong có cây đàn của vua Thuấn để gảy khúc Nam Phong, ca ngợi cuộc sống của dân chúng khắp nơi đang được no ấm. Ta cũng có thể hiểu Nguyễn Trãi ước mong có một thời thái bình đời vua Nghiêu vua Thuấn để nhân dân được thực sự giàu đủ. Nhưng có lẽ với một người như Nguyễn Trãi, ta phải hiểu là ông mong gảy khúc Nam Phong của vua Thuấn để cho nhân dân giàu đủ khắp đòi phương – khắp mọi nơi. Điển tích “Ngu cầm” gợi cây đàn của vua Thuấn – biểu tượng cho thời đại thịnh trị. Song điều đáng chú ý là chữ “dân” ở cuối bài. Bao nhiêu sắc màu, âm thanh, hương thơm đều quy tụ về một ước mong: nhân dân được giàu đủ. Tư tưởng ấy nhất quán với quan niệm “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” trong “Bình Ngô đại cáo”.

Khác với nhiều nhà nho tìm thú vui cá nhân nơi sơn thủy, Nguyễn Trãi dù ẩn dật vẫn đau đáu nỗi lo cho dân. Tâm thế ấy khiến ông gần với tinh thần nhập thế của các bậc đại nho phương Đông, nhưng đồng thời cũng mang dấu ấn rất Việt Nam: yêu dân, thương dân từ thực tiễn đời sống.

Câu kết của bài thơ là một câu thơ sáu chữ ngắn gọn, giọng thơ chắc nịch dồn nén cảm xúc của cả bài. Nguyễn Trãi nhắc đến “dân”. Điểm kết tụ của hồn thơ Ức Trai không phải là thiên nhiên tạo vật mà là ở con người. Lúc rảnh rỗi tưởng như hoàn toàn đắm mình trong thiên nhiên mà Nguyễn Trãi vẫn không nguôi nghĩ về nhân dân. Câu thơ kết đã thể hiện lý tưởng nhân nghĩa mà bao năm Nguyễn Trãi phấn đấu. Suốt cả cuộc đời ông chỉ có một ước mong: mong cho quốc thái dân an:

“Sách một hai phiên làm bầu bạn ;
Rượu năm ba chén đổi công danh.
Ngoài chưng phần ấy cầu đâu nữa ?
Cầu một ngồi coi đời thái bình”.

Về phương diện nghệ thuật, “Cảnh ngày hè” cho thấy tài năng sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Trãi trong tiến trình thơ Nôm dân tộc. Trước hết, việc xen kẽ câu lục ngôn trong thể thất ngôn đã phá vỡ sự đăng đối quen thuộc của thi luật Đường, tạo nên nhịp điệu linh hoạt, tự nhiên, phù hợp với mạch cảm xúc đang tuôn chảy. Ngôn ngữ thơ giàu tính dân tộc với hàng loạt từ thuần Việt giàu sức gợi như “đùn đùn”, “phun”, “lao xao”, “dắng dỏi” khiến cảnh vật không còn ước lệ mà trở nên sống động, cụ thể. Bút pháp tả thực kết hợp với cảm hứng trữ tình đã làm nên một bức tranh thiên nhiên đa sắc, đa thanh, có chiều sâu không gian và nhịp điệu thời gian. Đặc biệt, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đạt đến độ nhuần nhị: cảnh không chỉ để thưởng ngoạn mà còn là nơi gửi gắm lý tưởng nhân nghĩa. So với vẻ đẹp cổ điển, ước lệ trong thơ Đường hay sắc thái tĩnh lặng, u hoài của thơ thu Nguyễn Khuyến, bức tranh hè của Nguyễn Trãi mang sức sống khỏe khoắn, đậm hơi thở đời thường. Điều đó cho thấy ông không chỉ là nhà tư tưởng lớn mà còn là người đặt nền móng quan trọng cho sự phát triển của thơ Nôm, góp phần khẳng định bản sắc riêng của văn học dân tộc.

Khép lại bài thơ, người đọc không chỉ còn ấn tượng về sắc đỏ hoa lựu hay tiếng ve ngân vang trong buổi “tịch dương”, mà sâu xa hơn là âm hưởng của một tấm lòng luôn hướng về nhân dân. Thiên nhiên trong “Cảnh ngày hè” đẹp bởi được soi chiếu qua trái tim yêu đời, yêu người; và trái tim ấy càng cao quý hơn khi ước nguyện cuối cùng vẫn là “dân giàu đủ khắp đòi phương”. Bởi vậy, giá trị của thi phẩm không chỉ nằm ở bức tranh mùa hạ rực rỡ mà còn ở chiều sâu nhân văn bền vững. Trải qua bao thế kỉ, tiếng thơ của Ức Trai vẫn vang vọng như lời nhắc nhở rằng mọi vẻ đẹp của cuộc sống – dù là thiên nhiên hay nghệ thuật – chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với hạnh phúc của con người. Và có lẽ chính vì thế, “Cảnh ngày hè” vẫn tiếp tục sống, tiếp tục tỏa sáng trong tâm hồn bao thế hệ độc giả hôm nay và mai sau.