Nguyễn Thị Kim Ngân
Giới thiệu về bản thân
Nơi diễn ra
Pha sáng : màng tilacoit của lục lạp
Pha tối: chất nền ( stroma) của lục lạp
Điều kiện ánh sáng
Pha sáng: cần ánh sáng
Pha tối: không cần ánh sáng, nhưng phụ thuộc vào sản phẩm của pha sáng
Nguyên liệu
Pha sáng: nước,ADP,pi,NADP+
Pha tối: Co2,ATP,NADPH
Sản phẩm
Pha sáng:O2,ATP,NADPH
pha tối:chất hữu cơ,ADP,Pi,NADP+
Người ta sử dụng nước muối sinh lí để súc miệng vì:
- Nước muối khác nước thông thường vì các phân tử muối có tính hấp thụ nước nên là môi trường nước muối khiến vi khuẩn không thể sống và phát triển trong đó được vì điều kiện thiếu nước.
- Nước muối sẽ nâng nồng độ pH trong khoang miệng lên, ngăn chặn và kìm hãm sự phát triển của các vi khuẩn gây hại.
- Loại bỏ các vi khuẩn gây hôi miệng, sâu răng.
- Làm tăng lưu lượng máu đến miệng, có tác dụng làm nhanh lành các vết thương, vết loét trong khoang miệng.
- Làm dịu cơn đau họng.
- Ngăn ngừa 1 số bệnh như viêm nướu, viêm họng, đau chân răng,...
Người ta sử dụng nước muối sinh lí để súc miệng vì:
- Nước muối khác nước thông thường vì các phân tử muối có tính hấp thụ nước nên là môi trường nước muối khiến vi khuẩn không thể sống và phát triển trong đó được vì điều kiện thiếu nước.
- Nước muối sẽ nâng nồng độ pH trong khoang miệng lên, ngăn chặn và kìm hãm sự phát triển của các vi khuẩn gây hại.
- Loại bỏ các vi khuẩn gây hôi miệng, sâu răng.
- Làm tăng lưu lượng máu đến miệng, có tác dụng làm nhanh lành các vết thương, vết loét trong khoang miệng.
- Làm dịu cơn đau họng.
- Ngăn ngừa 1 số bệnh như viêm nướu, viêm họng, đau chân răng,...
Câu 1 :
Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, logic và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu lên một luận điểm mang tính khái quát: muốn đất nước thịnh trị thì phải trọng dụng hiền tài. Từ đó, ông đưa ra những dẫn chứng lịch sử tiêu biểu ở các triều đại trước như thời Hán, thời Đường để chứng minh rằng các bậc minh quân đều biết tiến cử và sử dụng người tài. Việc nêu dẫn chứng cụ thể, xác thực đã làm cho lập luận trở nên rõ ràng và đáng tin cậy. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn kết hợp lí lẽ với thực tiễn của đất nước lúc bấy giờ, cho thấy sự cấp thiết của việc tìm kiếm và sử dụng nhân tài. Ông không chỉ kêu gọi các quan lại tiến cử người hiền mà còn khuyến khích những người có tài tự mình ra giúp nước. Cách lập luận vừa mềm mỏng, vừa tha thiết đã thể hiện tầm nhìn rộng mở và tinh thần trọng dụng nhân tài của người viết. Nhờ vậy, văn bản không chỉ có giá trị chính trị mà còn thể hiện tư tưởng tiến bộ về vai trò của hiền tài đối với sự phát triển của quốc gia.
Câu 2 :
Trong thời đại hội nhập và phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam đang xuất hiện một hiện tượng đáng chú ý là “chảy máu chất xám”. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng giỏi lựa chọn ra nước ngoài học tập, làm việc và sinh sống thay vì cống hiến lâu dài cho đất nước.
Thực tế cho thấy ngày càng nhiều sinh viên, nhà khoa học và người lao động có trình độ cao lựa chọn làm việc tại các quốc gia phát triển. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, ở các nước phát triển, họ có điều kiện làm việc tốt hơn, môi trường nghiên cứu hiện đại, cơ hội phát triển nghề nghiệp rộng mở và mức thu nhập hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó, một số nơi trong nước vẫn còn tồn tại những hạn chế như môi trường làm việc chưa thật sự thuận lợi, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với năng lực, cơ hội thăng tiến còn hạn chế. Ngoài ra, tâm lý muốn trải nghiệm môi trường quốc tế và phát triển bản thân cũng khiến nhiều người lựa chọn ra nước ngoài. Hiện tượng “chảy máu chất xám” gây ra không ít hệ lụy. Khi nhiều người tài rời khỏi đất nước, nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước sẽ bị thiếu hụt, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế. Đất nước có thể mất đi những người có khả năng sáng tạo, nghiên cứu và đóng góp cho xã hội. Về lâu dài, điều này có thể làm giảm sức cạnh tranh của quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, nếu có chính sách phù hợp thì những người ra nước ngoài học tập và làm việc cũng có thể trở thành cầu nối tri thức, mang kinh nghiệm và kiến thức trở về phục vụ đất nước. Để hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám”, cần có sự chung tay của cả Nhà nước và xã hội. Trước hết, cần xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch và tạo điều kiện để người tài phát huy năng lực. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ hợp lý, khuyến khích và tôn vinh những cá nhân có đóng góp cho đất nước. Việc đầu tư vào giáo dục, khoa học – công nghệ và tạo cơ hội nghiên cứu cũng là yếu tố quan trọng giúp giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, mỗi người trẻ cũng cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước, không chỉ phát triển bản thân mà còn đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội.
Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong xã hội hiện nay. Để đất nước phát triển bền vững, cần có những chính sách phù hợp nhằm thu hút và giữ chân người tài. Khi mỗi cá nhân đều có ý thức cống hiến và đất nước biết trân trọng, tạo điều kiện cho nhân tài phát triển, nguồn lực trí tuệ sẽ trở thành động lực mạnh mẽ đưa Việt Nam tiến xa hơn trong tương lai.
Câu 1 :
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2 :
Chủ thể bài viết: Vua Lê Lợi (người ban bố chiếu cầu hiền).
Câu 3 :
Mục đích chính của văn bản: Kêu gọi và khuyến khích người hiền tài ra giúp nước, đồng thời yêu cầu các quan tiến cử nhân tài. Những đường lối tiến cử người hiền tài được nêu trong văn bản: Các quan văn võ từ tam phẩm trở lên tiến cử người hiền tài. Người có tài tự mình ra trình diện để giúp nước.
Câu 4 :
Dẫn chứng được đưa ra:
Người viết dẫn chứng từ thời Hán và thời Đường: Tiêu Hà tiến cử Hàn Tín. Ngụy Vô Tri tiến cử Trần Bình. Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh. Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu. Nhận xét cách nêu dẫn chứng: Dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu, có thật trong lịch sử, làm cho lập luận thuyết phục và chặt chẽ hơn.
Câu 5 :
Thông qua văn bản, có thể thấy chủ thể bài viết (vua Lê Lợi) là người trọng dụng hiền tài, có tầm nhìn và trách nhiệm với đất nước. Nhà vua nhận thức rõ rằng việc tìm kiếm và sử dụng người tài là yếu tố quan trọng để xây dựng và phát triển quốc gia. Đồng thời, ông cũng thể hiện tấm lòng khiêm nhường, tha thiết mong cầu nhân tài, sẵn sàng mở rộng con đường để người tài ra giúp nước. Điều đó cho thấy tư tưởng tiến bộ và tinh thần vì dân vì nước của vị vua đứng đầu đất nước.
câu 1: Trong cuộc sống hiện đại đầy biến động hôm nay, lối sống chủ động giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi con người, đặc biệt là người trẻ. Sống chủ động là biết tự xác định mục tiêu, tự nỗ lực hành động và chịu trách nhiệm với lựa chọn của bản thân thay vì trông chờ, ỷ lại vào người khác. Người có lối sống chủ động luôn sẵn sàng học hỏi, không ngại thay đổi và biết tận dụng cơ hội để phát triển chính mình. Trong học tập, sự chủ động giúp học sinh tích cực tìm tòi kiến thức, rèn luyện tư duy và nâng cao năng lực cá nhân. Trong cuộc sống, lối sống ấy giúp con người tự tin hơn, bản lĩnh hơn trước khó khăn và thử thách. Ngược lại, lối sống thụ động dễ khiến con người trở nên mờ nhạt, mất phương hướng và tụt hậu so với xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh gay gắt hiện nay, nếu không chủ động vươn lên, con người rất dễ bị bỏ lại phía sau. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện lối sống chủ động từ những việc nhỏ nhất như quản lí thời gian, lập kế hoạch học tập, dám nghĩ dám làm. Sống chủ động chính là chìa khóa giúp con người làm chủ cuộc đời và hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.
câu 2: Đoạn thơ trích từ Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) của Nguyễn Trãi là một bức tranh mùa hè rực rỡ, sinh động, đồng thời thể hiện sâu sắc tấm lòng yêu nước, thương dân cùng nhân cách cao đẹp của nhà thơ. Qua từng câu thơ, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên mà còn thấu hiểu lý tưởng sống nhân nghĩa của một bậc hiền tài suốt đời vì dân vì nước. Trước hết, bức tranh mùa hè hiện lên với những gam màu tươi sáng và tràn đầy sức sống. Màu xanh của “hòe lục đùn đùn tán rợp trường” gợi cảm giác sum suê, rậm rạp, thể hiện sức sống mãnh liệt của cây cối giữa mùa hè. Sắc đỏ của “thạch lựu hiên còn phun thức đỏ” lại tạo điểm nhấn nổi bật, rực rỡ, khiến cảnh vật trở nên sinh động và có chiều sâu. Bên cạnh đó, hương thơm dịu nhẹ của “hồng liên trì đã tịn mùi hương” mang đến cảm giác thanh khiết, tinh tế. Những hình ảnh ấy không chỉ được miêu tả bằng thị giác mà còn được cảm nhận bằng khứu giác, cho thấy sự quan sát tinh tế và tâm hồn nhạy cảm của Nguyễn Trãi trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Không chỉ có màu sắc và hương thơm, bức tranh mùa hè còn rộn ràng bởi âm thanh của đời sống con người. Âm thanh “lao xao chợ cá làng ngư phủ” gợi lên nhịp sống sinh hoạt đông vui, yên bình của người dân lao động. Đó là âm thanh của cuộc sống no ấm, đủ đầy, phản ánh một xã hội ổn định và hài hòa. Bên cạnh đó, tiếng đàn “cầm ve” vang lên nhẹ nhàng, sâu lắng, góp phần làm cho bức tranh thiên nhiên và con người thêm phần hòa quyện. Thiên nhiên không tách rời con người mà trở thành không gian sống thân thuộc, gần gũi. Đặc biệt, hai câu thơ cuối đã bộc lộ rõ tư tưởng và tấm lòng của Nguyễn Trãi. Câu thơ “Dân giàu đủ khắp đòi phương” thể hiện ước mong cao đẹp của tác giả: mong cho nhân dân muôn nơi được ấm no, hạnh phúc. Đó chính là biểu hiện sâu sắc của tư tưởng nhân nghĩa – lấy dân làm gốc – vốn xuyên suốt trong sự nghiệp và cuộc đời Nguyễn Trãi. Dù đang sống trong cảnh nhàn tản, hòa mình với thiên nhiên, nhưng trái tim ông vẫn luôn hướng về nhân dân, về cuộc sống của muôn dân trăm họ. Niềm vui của nhà thơ không phải là thú vui cá nhân mà là niềm vui lớn lao khi thấy dân giàu, nước mạnh. Qua đoạn thơ, ta thấy Nguyễn Trãi là người có tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết, đồng thời là một nhà tư tưởng lớn với lý tưởng sống cao đẹp. Bức tranh mùa hè không chỉ đẹp ở cảnh sắc rực rỡ mà còn đẹp ở chiều sâu nhân văn, ở tấm lòng vì dân vì nước của tác giả. Chính điều đó đã làm nên giá trị bền vững cho đoạn thơ nói riêng và cho thơ văn Nguyễn Trãi nói chung.
Câu 1 : Xác định thể thơ của văn bản trên.
→ Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật (thơ Nôm, 8 câu, mỗi câu 7 chữ).
Câu 2 : Chỉ ra những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả.
→ Các hình ảnh: một mai, một cuốc, một cần câu; thơ thẩn; thu ăn măng trúc, đông ăn giá; xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao; rượu đến cội cây ta sẽ uống… (cuộc sống giản dị, hòa hợp thiên nhiên, không bon chen).
Câu 3 : Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong hai câu: "Một mai, một cuốc, một cần câu / Thơ thẩn dầu ai vui thú nào".
→ Biện pháp liệt kê (điệp từ "một")
→ Nhấn mạnh cuộc sống đơn sơ, thanh đạm nhưng tự do, ung dung; tạo nhịp điệu khoan thai, thể hiện tâm thế "thơ thẩn" bất chấp người đời.
Câu 4 : Quan niệm dại – khôn của tác giả trong hai câu: "Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao"
→ Đặc biệt ở chỗ: tác giả tự nhận mình "dại" (tìm nơi vắng vẻ, ẩn dật), còn người đời cho là "khôn" (đến chốn lao xao – bon chen danh lợi). Nhưng thực chất đây là nghịch lý: "dại" mới là khôn ngoan thực sự (giữ nhân cách, tránh thị phi), "khôn" mới là dại (đuổi theo phù du).
Câu 5 : Cảm nhận về ông: Ông là bậc đại trí ẩn dật, coi thường phú quý (như giấc chiêm bao), sống thanh cao, đạm bạc, hòa mình với thiên nhiên, giữ gìn nhân cách trong thời loạn lạc, thể hiện khí phách nhà nho chân chính.