Bùi Thị Thúy Hằng
Giới thiệu về bản thân
Nước muối sinh lý được sử dụng để súc miệng nhờ khả năng sát khuẩn, làm sạch khoang miệng, giảm viêm họng và cân bằng pH mà không gây kích ứng niêm mạc. Nó hoạt động như một dung dịch đẳng trương, diệt khuẩn hiệu quả, hỗ trợ loại bỏ mảng bám, ngăn ngừa sâu răng và viêm nướu, đồng thời làm dịu cổ họng
Nước muối sinh lý được sử dụng để súc miệng nhờ khả năng sát khuẩn, làm sạch khoang miệng, giảm viêm họng và cân bằng pH mà không gây kích ứng niêm mạc. Nó hoạt động như một dung dịch đẳng trương, diệt khuẩn hiệu quả, hỗ trợ loại bỏ mảng bám, ngăn ngừa sâu răng và viêm nướu, đồng thời làm dịu cổ họng
- Nơi diễn ra: Xảy ra tại màng thylakoid (trong các hạt grana) của lục lạp .
- Điều kiện ánh sáng: Bắt buộc phải có ánh sáng trực tiếp để kích hoạt các phản ứng .
- Nguyên liệu tham gia: Nước (H2O ), năng lượng ánh sáng, các phân tử mang năng lượng và lực khử dạng tiền chất như ADP,...
- Sản phẩm tạo thành: Khí Oxy , ATP và NADPH (hai sản phẩm sau sẽ được dùng làm nguyên liệu cho pha tối) .
- Nơi diễn ra: Xảy ra tại chất nền (stroma) của lục lạp .
- Điều kiện ánh sáng: Không cần ánh sáng trực tiếp, nhưng phụ thuộc gián tiếp vào pha sáng vì cần các sản phẩm từ pha sáng .
- Nguyên liệu tham gia: Khí Co2 , cùng với ATP và NADPH lấy từ pha sáng .
- Sản phẩm tạo thành: Hợp chất hữu cơ (đường Glucose ), cùng các sản phẩm trả lại cho pha sáng là ADP và NADP+
Câu 1:
Nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong Chiếu cầu hiền tài đạt đến trình độ bậc thầy, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý lẽ sắc bén và tình cảm chân thành. Đầu tiên, ông xây dựng hệ thống lập luận đi từ nguyên lý chung về việc trị quốc làm tiền đề vững chãi. Tiếp đó, tác giả sử dụng phương pháp soi chiếu lịch sử, đưa ra các dẫn chứng điển hình về các vị vua và hiền thần để tạo sức thuyết phục tuyệt đối. Điểm đặc sắc nhất chính là ngôn ngữ đối thoại vừa mang tính quyền lực của một vị vua, vừa có sự khiêm nhường, cầu thị của một người đang khát khao tìm kiếm hiền tài. Cách đặt vấn đề trực diện, gỡ bỏ mọi rào cản tâm lý đã biến một văn bản hành chính khô khan thành một lời hiệu triệu lay động lòng người. Tổng thể bài chiếu là một cấu trúc mẫu mực có lý, có tình và có giải pháp thực tiễn, khẳng định tài năng của Nguyễn Trãi trong văn chương nghị luận.
Câu 2:
Thân thế của một quốc gia được gây dựng dựa trên nền tảng tri thức, đúng như câu nói nổi tiếng: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với một thực trạng đáng báo động: hiện tượng “chảy máu chất xám”. Đây là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng các cá nhân có trình độ chuyên môn cao, những trí thức ưu tú – nguồn vốn quý giá của đất nước – có xu hướng di cư, định cư và làm việc lâu dài tại nước ngoài thay vì trở về cống hiến cho quê hương.
Câu chuyện về những quán quân chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” đa số quyết định ở lại Australia sau khi du học là một ví dụ điển hình gây tranh luận gay gắt trong dư luận. Nó đặt ra một dấu hỏi lớn: Tại sao chúng ta có thể đào tạo ra nhân tài nhưng lại không thể giữ chân họ?
Nguyên nhân của tình trạng này đến từ cả hai phía: chủ quan và khách quan. Về mặt chủ quan, một bộ phận trí thức trẻ đôi khi quá chú trọng đến sự phát triển cá nhân, sự hưởng thụ và những giá trị vật chất trước mắt mà quên đi trách nhiệm đạo đức đối với cộng đồng, nơi đã nuôi dưỡng mình. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn nhận khách quan rằng môi trường làm việc trong nước còn nhiều bất cập. Chế độ đãi ngộ tại Việt Nam thường chưa tương xứng với năng lực và đóng góp của nhân tài. Thêm vào đó, cơ sở vật chất thiếu thốn, quy trình làm việc còn nặng tính hành chính và những tư duy quản lý lạc hậu đã vô tình tạo ra bức tường ngăn cách, khiến người tài cảm thấy không có "đất diễn" để vẫy vùng sáng tạo.
Hậu quả của “chảy máu chất xám” là vô cùng nặng nề. Khi những bộ óc ưu tú nhất ra đi, đất nước không chỉ mất đi nguồn lực lao động trình độ cao mà còn đối mặt với nguy cơ tụt hậu về kinh tế và công nghệ. Ngân sách quốc gia đầu tư cho giáo dục phổ thông nhưng thành quả lao động lại phục vụ cho sự thịnh vượng của các cường quốc khác, tạo nên một sự lãng phí nguồn lực xã hội khổng lồ.
Dẫu biết rằng các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp... sở hữu môi trường học tập và nghiên cứu lý tưởng, nhưng mỗi người con đất Việt cần khắc cốt ghi tâm rằng quê hương chính là gốc rễ. Trách nhiệm của chúng ta không chỉ là tiếp thu tinh hoa thế giới mà còn là mang những kiến thức ấy về làm giàu cho mảnh đất hình chữ S. Về phía Nhà nước, cần có những chính sách "trải thảm đỏ" thực chất, không chỉ là lương thưởng mà là tạo ra một môi trường dân chủ, minh bạch để người tài được tôn trọng và tự do cống hiến.
Tóm lại, hiền tài chỉ có thể trở thành sức mạnh khi họ được đặt đúng vị trí và có tâm thế hướng về nguồn cội. Chỉ khi kết hợp hài hòa giữa tham vọng cá nhân và lý tưởng dân tộc, Việt Nam mới có thể bứt phá, thực hiện hóa khát vọng trở thành cường quốc năm châu như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong mỏi.
Câu 1:
Nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong Chiếu cầu hiền tài đạt đến trình độ bậc thầy, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý lẽ sắc bén và tình cảm chân thành. Đầu tiên, ông xây dựng hệ thống lập luận đi từ nguyên lý chung về việc trị quốc làm tiền đề vững chãi. Tiếp đó, tác giả sử dụng phương pháp soi chiếu lịch sử, đưa ra các dẫn chứng điển hình về các vị vua và hiền thần để tạo sức thuyết phục tuyệt đối. Điểm đặc sắc nhất chính là ngôn ngữ đối thoại vừa mang tính quyền lực của một vị vua, vừa có sự khiêm nhường, cầu thị của một người đang khát khao tìm kiếm hiền tài. Cách đặt vấn đề trực diện, gỡ bỏ mọi rào cản tâm lý đã biến một văn bản hành chính khô khan thành một lời hiệu triệu lay động lòng người. Tổng thể bài chiếu là một cấu trúc mẫu mực có lý, có tình và có giải pháp thực tiễn, khẳng định tài năng của Nguyễn Trãi trong văn chương nghị luận.
Câu 2:
Thân thế của một quốc gia được gây dựng dựa trên nền tảng tri thức, đúng như câu nói nổi tiếng: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với một thực trạng đáng báo động: hiện tượng “chảy máu chất xám”. Đây là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng các cá nhân có trình độ chuyên môn cao, những trí thức ưu tú – nguồn vốn quý giá của đất nước – có xu hướng di cư, định cư và làm việc lâu dài tại nước ngoài thay vì trở về cống hiến cho quê hương.
Câu chuyện về những quán quân chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” đa số quyết định ở lại Australia sau khi du học là một ví dụ điển hình gây tranh luận gay gắt trong dư luận. Nó đặt ra một dấu hỏi lớn: Tại sao chúng ta có thể đào tạo ra nhân tài nhưng lại không thể giữ chân họ?
Nguyên nhân của tình trạng này đến từ cả hai phía: chủ quan và khách quan. Về mặt chủ quan, một bộ phận trí thức trẻ đôi khi quá chú trọng đến sự phát triển cá nhân, sự hưởng thụ và những giá trị vật chất trước mắt mà quên đi trách nhiệm đạo đức đối với cộng đồng, nơi đã nuôi dưỡng mình. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn nhận khách quan rằng môi trường làm việc trong nước còn nhiều bất cập. Chế độ đãi ngộ tại Việt Nam thường chưa tương xứng với năng lực và đóng góp của nhân tài. Thêm vào đó, cơ sở vật chất thiếu thốn, quy trình làm việc còn nặng tính hành chính và những tư duy quản lý lạc hậu đã vô tình tạo ra bức tường ngăn cách, khiến người tài cảm thấy không có "đất diễn" để vẫy vùng sáng tạo.
Hậu quả của “chảy máu chất xám” là vô cùng nặng nề. Khi những bộ óc ưu tú nhất ra đi, đất nước không chỉ mất đi nguồn lực lao động trình độ cao mà còn đối mặt với nguy cơ tụt hậu về kinh tế và công nghệ. Ngân sách quốc gia đầu tư cho giáo dục phổ thông nhưng thành quả lao động lại phục vụ cho sự thịnh vượng của các cường quốc khác, tạo nên một sự lãng phí nguồn lực xã hội khổng lồ.
Dẫu biết rằng các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp... sở hữu môi trường học tập và nghiên cứu lý tưởng, nhưng mỗi người con đất Việt cần khắc cốt ghi tâm rằng quê hương chính là gốc rễ. Trách nhiệm của chúng ta không chỉ là tiếp thu tinh hoa thế giới mà còn là mang những kiến thức ấy về làm giàu cho mảnh đất hình chữ S. Về phía Nhà nước, cần có những chính sách "trải thảm đỏ" thực chất, không chỉ là lương thưởng mà là tạo ra một môi trường dân chủ, minh bạch để người tài được tôn trọng và tự do cống hiến.
Tóm lại, hiền tài chỉ có thể trở thành sức mạnh khi họ được đặt đúng vị trí và có tâm thế hướng về nguồn cội. Chỉ khi kết hợp hài hòa giữa tham vọng cá nhân và lý tưởng dân tộc, Việt Nam mới có thể bứt phá, thực hiện hóa khát vọng trở thành cường quốc năm châu như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong mỏi.
Câu 1:
Có khi nào bạn tự hỏi điều gì là quan trọng và cần thiết cho hành trang bước vào đời? Với tôi. Tôi muốn đề cập đến một hành trang đặc biệt: lối sống chủ động. Sống chủ động là sống dám nghĩ dám làm, sẵn sàng học hỏi, rèn luyện và hành động, tạo tâm thế ứng biến linh hoạt trước mọi tình huống: Chủ động dấn thân chủ động đề nghị chủ động tìm tòi,... Sống chủ động giúp con người hành động độc lập với hoàn cảnh xung quanh, không bị tác động hay ảnh hưởng bởi những tình huống khôn lường. Bởi lẽ, cuộc sống luôn đặt con người vào những tình huống thử thách, buộc con người phải tự tìm cách giải quyết. Những người thụ động sẽ luôn rơi vào tình trạng bị đánh úp bất ngờ khó xoay xở được tình thế. Ngược lại, những người chủ động sẽ luôn đầy đủ tâm thế, hành trang để ứng phó với những khó khăn, thay đổi đang mắc phải để tiếp tục con đường của mình. Ta còn nhớ khi giặc Mỹ đổ bộ núi rừng Trường Sơn, hàng loạt quân đội của ta rơi vào tình thế khó khăn. Thế nhưng với tinh thần chủ động, ta nhanh chóng ứng biến với khó khăn bằng nhiều cách. Ta đã hoàn cảnh và góp phần làm nên chiến thắng vang dội của dân tộc. Xã hội biến đổi không ngừng, sống chủ động giúp con người hòa nhập với nhịp sống hiện đại, thích ứng với những điều mới mẻ. Cuộc sống nhiều bên cạnh những con người mang tinh thần chủ động, còn có những người sống thụ động, lười nhác và dựa dẫm vào người khác để rồi dễ dàng bị hoàn cảnh tác động, dễ thất bại. Là người trẻ , nắm trong tay vận mệnh của đất nước, chúng ta cần có tinh thần dũng cảm, xả thân để học hỏi, phát hiện và phát triển bản thân mình, góp công sức nhỏ bé cho sự phát triển lớn lao của dân tộc.
Câu 2:
thủ tướng Phạm Văn đồng đã viết:"về thơ của Nguyễn Trãi chúng ta nên quý trọng hơn hơn nữa thơ chữ nôm,tiếng ta,của Nguyễn Trãi,đó là vốn rất quý của dân tộc".quả thật với những nôm thanh thoát tài hoa đã được người nhào nặn làm cho nó có sức hấp dẫn đến như thế tác phẩm bảo kính cảnh giới là minh chứng cho điều đó, đặc biệt là bài thơ số 43
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Trãi phác họa một tư thế thảnh thơi hiếm hoi giữa cuộc đời đầy biến động:
"Rồi hóng mát thuở ngày trường"
Từ "rồi" đặt ở đầu câu không chỉ đơn thuần là thời gian mà còn tâm trạng rảnh rỗi gác lại mọi thị phi để hòa mình vào thiên nhiên giữa cái ngày dài ấy,thi nhân không tìm thấy sự buồn tẻ mà ngược lại ông đón nhận sức sống cuồn cuộn của cảnh vật
"Hoè đục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng Liên trì đã tịn mùi hương"
Bức tranh nghề hè dưới nhãn quan của bức trai hiện lên đầy sống động qua những động từ mạnh như"đùn đùn","phun", "giương".Màu xanh của lá huề không tĩnh lặng như đang trào dâng nhựa sống, che rợp cả một khoảng không. Sắc đỏ của hoa thạch lựu như đang "phun" trào luồng nhiệt huyết từ bên trong , điểm thêm vào đó là hương sen hồng thanh khiết lan tỏa khắp mặt hồ. Thiên nhiên ở đây không hề heo hắt mà tràn đầy động lực ,phản chiếu một tâm hồn yêu đời,yêu cuộc sống tha thiết của nhà thơ . không chỉ dừng lại ở cảnh vật,Nguyễn Trãi còn hướng lòng mình đến nhịp sống của con người:
"lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng rỏi cầm ve lầu tịch dương"
Âm thanh"lao xao"từ làng chài và tiếng ve "dắng rỏi"như tiếng đàn đã tạo nên một bản giao hưởng của cuộc sống đời thường.Dù đang ở đâu" lầu tịch dương",nhưng tâm hồn nhà thơ không hề nhuộm màu sầu muộn.Ông vui cái vui của dân chài,nghe tiếng ve mà tưởng tiếng nhạc mừng cho sự yên bình. Điểm sáng chói nhất của bài thơ nằm ở hai câu kết,nơi kết tinh lý tưởng sống của một bậc hiền triết:
"lẽ có ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khách đòi Phương"
Mượn điển tích về cây đàn của vua Ngu Thuấn, Nguyễn Trãi bộc lộ khát vọng nhân văn cao cả: mong sao có được cây đàn để gẩy lên khúc hát cầu mong cho nhân dân khắp mọi miền được ấm no,hạnh phúc.Dù đã từ quan về ở ẩn,từng bị nịnh thần hãm hại,nhưng trái tim ông vẫn chưa bao giờ rời xa nhân dân.Chữ"dân"trong thơ ông luôn đặt ở vị trí quan trọng nhất.
Như vậy qua bài thơ,ta có thể cảm nhận được tâm hồn thanh bạch,tâm thế tự do tự tại của nhà thơ Nguyễn Trãi trước cảnh sắc ngày hè tươi đẹp nơi dân dã.nhưng ta cũng thấy được nét đẹp trong tâm hồn của nhà thơ này đó là dù có lui về ở ẩn thì tấm lòng nhân nghĩa của ông vẫn luôn hướng về nhân dân đó là ước mơ đầy nhân văn khi mong mỏi cho mọi người dân có cuộc sống tốt đẹp.
Câu 1:
Có khi nào bạn tự hỏi điều gì là quan trọng và cần thiết cho hành trang bước vào đời? Với tôi. Tôi muốn đề cập đến một hành trang đặc biệt: lối sống chủ động. Sống chủ động là sống dám nghĩ dám làm, sẵn sàng học hỏi, rèn luyện và hành động, tạo tâm thế ứng biến linh hoạt trước mọi tình huống: Chủ động dấn thân chủ động đề nghị chủ động tìm tòi,... Sống chủ động giúp con người hành động độc lập với hoàn cảnh xung quanh, không bị tác động hay ảnh hưởng bởi những tình huống khôn lường. Bởi lẽ, cuộc sống luôn đặt con người vào những tình huống thử thách, buộc con người phải tự tìm cách giải quyết. Những người thụ động sẽ luôn rơi vào tình trạng bị đánh úp bất ngờ khó xoay xở được tình thế. Ngược lại, những người chủ động sẽ luôn đầy đủ tâm thế, hành trang để ứng phó với những khó khăn, thay đổi đang mắc phải để tiếp tục con đường của mình. Ta còn nhớ khi giặc Mỹ đổ bộ núi rừng Trường Sơn, hàng loạt quân đội của ta rơi vào tình thế khó khăn. Thế nhưng với tinh thần chủ động, ta nhanh chóng ứng biến với khó khăn bằng nhiều cách. Ta đã hoàn cảnh và góp phần làm nên chiến thắng vang dội của dân tộc. Xã hội biến đổi không ngừng, sống chủ động giúp con người hòa nhập với nhịp sống hiện đại, thích ứng với những điều mới mẻ. Cuộc sống nhiều bên cạnh những con người mang tinh thần chủ động, còn có những người sống thụ động, lười nhác và dựa dẫm vào người khác để rồi dễ dàng bị hoàn cảnh tác động, dễ thất bại. Là người trẻ , nắm trong tay vận mệnh của đất nước, chúng ta cần có tinh thần dũng cảm, xả thân để học hỏi, phát hiện và phát triển bản thân mình, góp công sức nhỏ bé cho sự phát triển lớn lao của dân tộc.
Câu 2:
thủ tướng Phạm Văn đồng đã viết:"về thơ của Nguyễn Trãi chúng ta nên quý trọng hơn hơn nữa thơ chữ nôm,tiếng ta,của Nguyễn Trãi,đó là vốn rất quý của dân tộc".quả thật với những nôm thanh thoát tài hoa đã được người nhào nặn làm cho nó có sức hấp dẫn đến như thế tác phẩm bảo kính cảnh giới là minh chứng cho điều đó, đặc biệt là bài thơ số 43
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Trãi phác họa một tư thế thảnh thơi hiếm hoi giữa cuộc đời đầy biến động:
"Rồi hóng mát thuở ngày trường"
Từ "rồi" đặt ở đầu câu không chỉ đơn thuần là thời gian mà còn tâm trạng rảnh rỗi gác lại mọi thị phi để hòa mình vào thiên nhiên giữa cái ngày dài ấy,thi nhân không tìm thấy sự buồn tẻ mà ngược lại ông đón nhận sức sống cuồn cuộn của cảnh vật
"Hoè đục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng Liên trì đã tịn mùi hương"
Bức tranh nghề hè dưới nhãn quan của bức trai hiện lên đầy sống động qua những động từ mạnh như"đùn đùn","phun", "giương".Màu xanh của lá huề không tĩnh lặng như đang trào dâng nhựa sống, che rợp cả một khoảng không. Sắc đỏ của hoa thạch lựu như đang "phun" trào luồng nhiệt huyết từ bên trong , điểm thêm vào đó là hương sen hồng thanh khiết lan tỏa khắp mặt hồ. Thiên nhiên ở đây không hề heo hắt mà tràn đầy động lực ,phản chiếu một tâm hồn yêu đời,yêu cuộc sống tha thiết của nhà thơ . không chỉ dừng lại ở cảnh vật,Nguyễn Trãi còn hướng lòng mình đến nhịp sống của con người:
"lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng rỏi cầm ve lầu tịch dương"
Âm thanh"lao xao"từ làng chài và tiếng ve "dắng rỏi"như tiếng đàn đã tạo nên một bản giao hưởng của cuộc sống đời thường.Dù đang ở đâu" lầu tịch dương",nhưng tâm hồn nhà thơ không hề nhuộm màu sầu muộn.Ông vui cái vui của dân chài,nghe tiếng ve mà tưởng tiếng nhạc mừng cho sự yên bình. Điểm sáng chói nhất của bài thơ nằm ở hai câu kết,nơi kết tinh lý tưởng sống của một bậc hiền triết:
"lẽ có ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khách đòi Phương"
Mượn điển tích về cây đàn của vua Ngu Thuấn, Nguyễn Trãi bộc lộ khát vọng nhân văn cao cả: mong sao có được cây đàn để gẩy lên khúc hát cầu mong cho nhân dân khắp mọi miền được ấm no,hạnh phúc.Dù đã từ quan về ở ẩn,từng bị nịnh thần hãm hại,nhưng trái tim ông vẫn chưa bao giờ rời xa nhân dân.Chữ"dân"trong thơ ông luôn đặt ở vị trí quan trọng nhất.
Như vậy qua bài thơ,ta có thể cảm nhận được tâm hồn thanh bạch,tâm thế tự do tự tại của nhà thơ Nguyễn Trãi trước cảnh sắc ngày hè tươi đẹp nơi dân dã.nhưng ta cũng thấy được nét đẹp trong tâm hồn của nhà thơ này đó là dù có lui về ở ẩn thì tấm lòng nhân nghĩa của ông vẫn luôn hướng về nhân dân đó là ước mơ đầy nhân văn khi mong mỏi cho mọi người dân có cuộc sống tốt đẹp.