Nguyễn Vân Anh
Giới thiệu về bản thân
-Nơi diễn ra:
Pha sáng: Màng thylakoid của lục lạp
Pha tối: Chất nền của lục lạp
-Điều kiện ánh sáng:
Pha sáng: Cần ánh sáng
Pha tối: Không cần ánh sáng
-Nguyên liệu tham gia:
Pha sáng: H2O, NADP+, ADP
Pha tối: ATP, CO2, NADPH
-Sản phẩm tạo thành:
Pha sáng: NADPH, ATP, O2
Pha tối: Chất hữu cơ (C6H12O6), ADP, NADP+
Nước muối NaCl 0,09% được gọi là nước muối sinh lí vì là dung dịch đẳng trương với các tế bào ở người. Do vậy, khi ta súc miệng bằng nước muối sinh lí, các tế bào niêm mạc miệng không bị ảnh hưởng. Trong khi đó, nước muối là môi trường ưu trương với vi khuẩn nên các vi khuẩn có hại trong khoang miệng sẽ bị mất nước khiến quá trình phân chia của vi khuẩn bị hạn chế, thậm chí ngừng lại. Do vậy, nước muối sinh lí có thể ngăn chặn được vi sinh vật gây bệnh phát triển trong miệng mà không làm tổn hại đến các tế bào niêm mạc miệng.
a. Cấu tạo của phân tử ATP:
ATP là một nucleoside triphosphate, bao gồm:
Adenine: Một base nitơ (adenine).
Đường Ribose: Đường 5 carbon (pentose).
Ba nhóm phosphate: Liên kết với nhau theo thứ tự, tạo thành 2 liên kết cao năng.
b, Liên kết giữa các nhóm phosphate được gọi là liên kết cao năng là do khi phá vỡ các liên kết này sẽ giải phóng một lượng lớn năng lượng.
Câu 1:
Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận sắc bén, chặt chẽ và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu lên một luận điểm mang tính khái quát: muốn đất nước thịnh trị thì phải biết trọng dụng hiền tài. Từ luận điểm đó, ông triển khai lập luận theo trình tự logic, vừa giải thích vừa chứng minh. Để làm rõ vấn đề, tác giả đưa ra nhiều dẫn chứng tiêu biểu trong lịch sử như Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, Ngụy Vô Tri tiến cử Trần Bình, hay Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh. Những dẫn chứng cụ thể, quen thuộc giúp lập luận trở nên rõ ràng và có sức thuyết phục cao. Bên cạnh đó, tác giả còn kết hợp lí lẽ với cảm xúc khi bày tỏ nỗi lo lắng của nhà vua trước trách nhiệm trị nước và khát vọng tìm được người hiền giúp sức. Giọng văn khiêm nhường, chân thành nhưng cũng đầy quyết tâm đã tạo nên sức lay động mạnh mẽ đối với người đọc. Nhờ cách lập luận logic, dẫn chứng xác đáng và giọng điệu thuyết phục, văn bản đã thể hiện sâu sắc tư tưởng coi trọng hiền tài và khát vọng xây dựng đất nước thịnh trị.
Câu 2 :
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam đang phải đối mặt với một hiện tượng đáng quan tâm, đó là “chảy máu chất xám”. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng và tri thức lựa chọn học tập, làm việc và sinh sống lâu dài ở nước ngoài thay vì trở về cống hiến cho đất nước.
“Chảy máu chất xám” được hiểu là sự dịch chuyển nguồn nhân lực trí tuệ từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc sinh viên hay các nhà khoa học ra nước ngoài học tập, nghiên cứu là điều bình thường và cần thiết. Tuy nhiên, khi nhiều người sau khi được đào tạo lại không quay trở về, điều này có thể gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của đất nước, đặc biệt đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này. Trước hết là do môi trường làm việc ở một số quốc gia phát triển thường hấp dẫn hơn với điều kiện nghiên cứu hiện đại, cơ sở vật chất đầy đủ và chế độ đãi ngộ cao. Bên cạnh đó, trong nước đôi khi vẫn còn những hạn chế như mức lương chưa thật sự tương xứng với năng lực, cơ hội phát triển còn hạn chế hoặc cơ chế sử dụng nhân tài chưa thật sự hiệu quả. Ngoài ra, mong muốn được tiếp cận tri thức mới, mở rộng tầm nhìn và trải nghiệm môi trường quốc tế cũng khiến nhiều người trẻ lựa chọn ở lại nước ngoài.
Hiện tượng “chảy máu chất xám” có thể gây ra nhiều hệ lụy đáng lo ngại. Trước hết, đất nước có thể mất đi nguồn nhân lực trí tuệ quý giá – những con người có khả năng đóng góp lớn cho sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế. Điều này có thể làm chậm quá trình đổi mới sáng tạo và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của quốc gia trong thời đại tri thức. Bên cạnh đó, việc đầu tư cho giáo dục và đào tạo nhưng không giữ được người tài cũng gây ra sự lãng phí nguồn lực của xã hội.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng không nên nhìn nhận “chảy máu chất xám” hoàn toàn theo hướng tiêu cực. Trong thời đại toàn cầu hóa, việc người Việt học tập và làm việc ở nước ngoài là cơ hội để tiếp cận tri thức mới, công nghệ hiện đại và những phương pháp làm việc tiên tiến. Nhiều người dù sinh sống ở nước ngoài nhưng vẫn đóng góp cho quê hương thông qua việc hợp tác nghiên cứu, đầu tư, chuyển giao công nghệ hoặc hỗ trợ các dự án trong nước. Vì vậy, nếu biết tận dụng tốt nguồn lực trí thức ở nước ngoài thì đây vẫn có thể trở thành một lợi thế cho sự phát triển của đất nước
Để hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám”, Việt Nam cần xây dựng môi trường làm việc thuận lợi và minh bạch, tạo điều kiện để người tài có thể phát huy năng lực. Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ hợp lý, đầu tư mạnh vào khoa học – công nghệ và giáo dục. Đồng thời, cần có những chương trình thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài trở về đóng góp cho đất nước. Bên cạnh đó, mỗi người trẻ cũng cần ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với sự phát triển của quê hương.
Có thể thấy, “chảy máu chất xám” là một hiện tượng đáng quan tâm trong xã hội hiện nay. Việc giữ chân và phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Khi tạo được môi trường tốt cho người tài phát triển và cống hiến, Việt Nam sẽ có thêm nhiều cơ hội để vươn lên mạnh mẽ trong tương lai.
Câu 1 :
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận.
Câu 2 :
Chủ thể bài viết là vua Lê Lợi.
Câu 3 :
Mục đích chính của văn bản là kêu gọi và khuyến khích việc tìm kiếm, tiến cử và trọng dụng người hiền tài để giúp vua quản lí đất nước, xây dựng triều đại thịnh trị. Trong văn bản, tác giả đã nêu ra những con đường để tiến cử người hiền tài như: yêu cầu các quan văn võ từ tam phẩm trở lên phải tiến cử người có tài; triều đình sẽ ban thưởng, thăng chức cho người tiến cử đúng hiền tài; đồng thời cho phép những người có tài nhưng chưa được ai tiến cử có thể tự mình ra trình bày tài năng để được trọng dụng.
Câu 4 :
Để chứng minh rằng muốn đất nước thịnh trị thì trước hết phải biết trọng dụng hiền tài, người viết đã đưa ra nhiều dẫn chứng trong lịch sử như: Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, Ngụy Vô Tri tiến cử Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh, hay Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu. Những dẫn chứng này đều là những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử, được nêu ra một cách cụ thể và tiêu biểu, làm cho lập luận trở nên rõ ràng, có sức thuyết phục và giúp khẳng định vai trò quan trọng của việc tiến cử hiền tài đối với sự hưng thịnh của đất nước.
Câu 5 :
Thông qua văn bản, có thể thấy chủ thể bài viết là Lê Lợi – vị vua sáng lập triều Nhà Lê sơ – là người rất coi trọng hiền tài và luôn mong muốn tìm được người tài để giúp việc cho đất nước. Ông thể hiện sự khiêm tốn, cầu thị khi thừa nhận mình luôn lo lắng trong việc tìm người hiền giúp nước. Đồng thời, ông cũng là người có trách nhiệm với vận mệnh quốc gia, có tầm nhìn xa khi đề ra nhiều con đường khác nhau để phát hiện và trọng dụng nhân tài, từ việc tiến cử của quan lại đến việc cho phép người tài tự tiến cử. Qua đó cho thấy ông là vị vua anh minh, biết đặt lợi ích của đất nước lên trên hết.
Câu 1:
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, lối sống chủ động giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người. Sống chủ động là tự giác, tích cực trong học tập, công việc và các mối quan hệ, biết tự quyết định và chịu trách nhiệm về cuộc đời mình thay vì trông chờ, phụ thuộc vào người khác. Trong bối cảnh xã hội không ngừng biến đổi, sự cạnh tranh ngày càng cao và tri thức liên tục đổi mới đã khiến lối sống chủ động trở thành yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, sống thụ động, thiếu mục tiêu, dễ nản chí trước khó khăn nên bỏ lỡ nhiều cơ hội quý giá. Lối sống chủ động giúp con người làm chủ thời gian, không ngừng học hỏi, rèn luyện bản thân, từ đó hình thành sự tự tin, bản lĩnh và đạt được thành công trong cuộc sống. Vì vậy, mỗi người cần xây dựng mục tiêu rõ ràng, tích cực học tập, rèn luyện kỹ năng và không ngại thử thách để hoàn thiện bản thân. Tuy nhiên, cần hiểu rằng chủ động không đồng nghĩa với hấp tấp, vội vàng mà phải gắn với suy nghĩ chín chắn và hành động đúng đắn. Như vậy, sống chủ động chính là chìa khóa giúp con người khẳng định giá trị bản thân và thích ứng với sự phát triển của xã hội.
Câu 2:
Bài thơ Bảo Kính Cảnh Giới của Nguyễn Trãi không chỉ vẽ nên bức tranh thiên nhiên mùa hè rực rỡ, giàu sức sống mà còn thể hiện tâm hồn thanh cao cùng tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc của tác giả. Qua đó, ta thấy rõ vẻ đẹp nhân cách lớn lao của một bậc anh hùng dân tộc.
Trước hết, bức tranh thiên nhiên mùa hè được khắc họa sinh động, tràn đầy sức sống. Mở đầu bài thơ, tác giả thể hiện tư thế ung dung, tự tại:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường.”
Câu thơ gợi hình ảnh con người sống hòa hợp với thiên nhiên, tận hưởng những ngày hè dài trong trạng thái thư thái. Đây là phong thái của một tâm hồn thanh thản sau những biến động cuộc đời.
Thiên nhiên mùa hè hiện lên với màu sắc rực rỡ và sức sống mãnh liệt:
“Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ.”
Màu xanh của cây hòe, màu đỏ của hoa lựu tạo nên bức tranh đầy màu sắc. Các từ láy và động từ mạnh như “đùn đùn”, “phun” diễn tả sự sinh sôi mạnh mẽ, căng tràn nhựa sống của thiên nhiên. Cảnh vật không tĩnh lặng mà luôn vận động, thể hiện cảm nhận tinh tế và tình yêu thiên nhiên sâu sắc của tác giả.
Không chỉ có màu sắc, bức tranh còn có hương thơm thanh khiết:
“Hồng liên trì đã tịn mùi hương.”
Hình ảnh hoa sen vừa mang vẻ đẹp giản dị vừa tượng trưng cho phẩm chất thanh cao. Qua đó, ta thấy tâm hồn Nguyễn Trãi cũng thanh khiết, trong sạch như chính thiên nhiên mà ông chiêm ngưỡng.
Bức tranh mùa hè không chỉ có thiên nhiên mà còn có âm thanh đời sống con người:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”
Tiếng “lao xao” của chợ cá và tiếng ve “dắng dỏi” làm cho bức tranh trở nên sống động, giàu nhịp điệu. Âm thanh sinh hoạt bình dị thể hiện cuộc sống yên vui, ấm no của nhân dân. Điều này cho thấy Nguyễn Trãi không chỉ yêu thiên nhiên mà còn gắn bó sâu sắc với cuộc sống của nhân dân lao động.
Đặc biệt, hai câu thơ cuối thể hiện tư tưởng và khát vọng cao đẹp của tác giả:
“Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”
Tác giả mong có cây đàn của vua Nghiêu Thuấn để gảy lên khúc nhạc thái bình, cầu mong nhân dân khắp nơi được ấm no, hạnh phúc. Ước nguyện ấy thể hiện rõ lý tưởng chính trị cao đẹp và tấm lòng “vì dân” sâu sắc của Nguyễn Trãi. Dù sống ẩn dật, ông vẫn luôn lo cho đời sống nhân dân, thể hiện tư tưởng nhân nghĩa lớn lao.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, từ láy gợi cảm, động từ mạnh cùng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh thiên nhiên và đời sống được miêu tả tinh tế để thể hiện tâm hồn và lý tưởng của tác giả.
Như vậy, bài thơ vừa là bức tranh thiên nhiên mùa hè rực rỡ, vừa là lời bộc lộ tâm hồn thanh cao và tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc của Nguyễn Trãi. Tác phẩm góp phần khẳng định vẻ đẹp nhân cách lớn lao của ông và giá trị nhân văn cao đẹp của văn học trung đại Việt Nam.
Câu 1:
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, lối sống chủ động giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người. Sống chủ động là tự giác, tích cực trong học tập, công việc và các mối quan hệ, biết tự quyết định và chịu trách nhiệm về cuộc đời mình thay vì trông chờ, phụ thuộc vào người khác. Trong bối cảnh xã hội không ngừng biến đổi, sự cạnh tranh ngày càng cao và tri thức liên tục đổi mới đã khiến lối sống chủ động trở thành yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, sống thụ động, thiếu mục tiêu, dễ nản chí trước khó khăn nên bỏ lỡ nhiều cơ hội quý giá. Lối sống chủ động giúp con người làm chủ thời gian, không ngừng học hỏi, rèn luyện bản thân, từ đó hình thành sự tự tin, bản lĩnh và đạt được thành công trong cuộc sống. Vì vậy, mỗi người cần xây dựng mục tiêu rõ ràng, tích cực học tập, rèn luyện kỹ năng và không ngại thử thách để hoàn thiện bản thân. Tuy nhiên, cần hiểu rằng chủ động không đồng nghĩa với hấp tấp, vội vàng mà phải gắn với suy nghĩ chín chắn và hành động đúng đắn. Như vậy, sống chủ động chính là chìa khóa giúp con người khẳng định giá trị bản thân và thích ứng với sự phát triển của xã hội.
Câu 2:
Bài thơ Bảo Kính Cảnh Giới của Nguyễn Trãi không chỉ vẽ nên bức tranh thiên nhiên mùa hè rực rỡ, giàu sức sống mà còn thể hiện tâm hồn thanh cao cùng tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc của tác giả. Qua đó, ta thấy rõ vẻ đẹp nhân cách lớn lao của một bậc anh hùng dân tộc.
Trước hết, bức tranh thiên nhiên mùa hè được khắc họa sinh động, tràn đầy sức sống. Mở đầu bài thơ, tác giả thể hiện tư thế ung dung, tự tại:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường.”
Câu thơ gợi hình ảnh con người sống hòa hợp với thiên nhiên, tận hưởng những ngày hè dài trong trạng thái thư thái. Đây là phong thái của một tâm hồn thanh thản sau những biến động cuộc đời.
Thiên nhiên mùa hè hiện lên với màu sắc rực rỡ và sức sống mãnh liệt:
“Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ.”
Màu xanh của cây hòe, màu đỏ của hoa lựu tạo nên bức tranh đầy màu sắc. Các từ láy và động từ mạnh như “đùn đùn”, “phun” diễn tả sự sinh sôi mạnh mẽ, căng tràn nhựa sống của thiên nhiên. Cảnh vật không tĩnh lặng mà luôn vận động, thể hiện cảm nhận tinh tế và tình yêu thiên nhiên sâu sắc của tác giả.
Không chỉ có màu sắc, bức tranh còn có hương thơm thanh khiết:
“Hồng liên trì đã tịn mùi hương.”
Hình ảnh hoa sen vừa mang vẻ đẹp giản dị vừa tượng trưng cho phẩm chất thanh cao. Qua đó, ta thấy tâm hồn Nguyễn Trãi cũng thanh khiết, trong sạch như chính thiên nhiên mà ông chiêm ngưỡng.
Bức tranh mùa hè không chỉ có thiên nhiên mà còn có âm thanh đời sống con người:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”
Tiếng “lao xao” của chợ cá và tiếng ve “dắng dỏi” làm cho bức tranh trở nên sống động, giàu nhịp điệu. Âm thanh sinh hoạt bình dị thể hiện cuộc sống yên vui, ấm no của nhân dân. Điều này cho thấy Nguyễn Trãi không chỉ yêu thiên nhiên mà còn gắn bó sâu sắc với cuộc sống của nhân dân lao động.
Đặc biệt, hai câu thơ cuối thể hiện tư tưởng và khát vọng cao đẹp của tác giả:
“Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”
Tác giả mong có cây đàn của vua Nghiêu Thuấn để gảy lên khúc nhạc thái bình, cầu mong nhân dân khắp nơi được ấm no, hạnh phúc. Ước nguyện ấy thể hiện rõ lý tưởng chính trị cao đẹp và tấm lòng “vì dân” sâu sắc của Nguyễn Trãi. Dù sống ẩn dật, ông vẫn luôn lo cho đời sống nhân dân, thể hiện tư tưởng nhân nghĩa lớn lao.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, từ láy gợi cảm, động từ mạnh cùng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh thiên nhiên và đời sống được miêu tả tinh tế để thể hiện tâm hồn và lý tưởng của tác giả.
Như vậy, bài thơ vừa là bức tranh thiên nhiên mùa hè rực rỡ, vừa là lời bộc lộ tâm hồn thanh cao và tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc của Nguyễn Trãi. Tác phẩm góp phần khẳng định vẻ đẹp nhân cách lớn lao của ông và giá trị nhân văn cao đẹp của văn học trung đại Việt Nam.
Câu 1 (0,5 điểm):
Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật .
Câu 2 (0,75 điểm):
Những hình ảnh thể hiện nét sinh hoạt hằng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả:
“một mai, một cuốc, một cần câu”: cuộc sống lao động giản dị.
“thu ăn măng trúc, đông ăn giá”: ăn uống thanh đạm, thuận theo tự nhiên.
“xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”: sinh hoạt hòa hợp với thiên nhiên.
“rượu, đến cội cây, ta sẽ uống”: thú vui thanh nhàn, đơn sơ.
Câu 3 (0,75 điểm):
- Biện pháp tu từ: liệt kê (“một mai, một cuốc, một cần câu”).
Tác dụng:Nhấn mạnh những vật dụng lao động quen thuộc, giản dị của nhà nông.Thể hiện cuộc sống thanh đạm, tự cung tự cấp.Đồng thời, gợi phong thái ung dung, nhàn tản, không màng danh lợi của tác giả.
Câu 4 (1,0 điểm):
Quan niệm “dại – khôn” của tác giả rất đặc biệt>Theo lẽ thường, “khôn” là chọn nơi đông vui, danh lợi; “dại” là tránh xa.Nhưng tác giả tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ, sống thanh nhàn; còn “người khôn” lại tìm chốn “lao xao”.Đây là cách nói ngược để khẳng định quan niệm sống của tác giả: tránh danh lợi, giữ tâm hồn thanh cao, hòa hợp với thiên nhiên; đồng thời thể hiện thái độ phê phán cuộc sống bon chen, tranh đoạt.
Câu 5 :
Qua bài thơ Nhàn, em cảm nhận được vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một con người sống thanh cao, giản dị và không màng danh lợi. Ông lựa chọn cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, tìm niềm vui trong lao động và sinh hoạt đạm bạc. Đồng thời, tác giả thể hiện thái độ coi thường phú quý, xem danh lợi chỉ như giấc chiêm bao. Qua đó, ta thấy ông có tâm hồn ung dung, trí tuệ sáng suốt và nhân cách đáng kính, tiêu biểu cho lối sống thanh cao của người trí thức xưa.