Lê Thanh Thảo
Giới thiệu về bản thân
câu1:
Đoạn trích trong Truyện Kiều đã tái hiện đầy ám ảnh tâm trạng Kim Trọng khi trở lại chốn xưa sau nửa năm xa cách. Cảnh cũ mà người đâu, không gian vườn Thúy hiện lên tiêu điều, hoang phế: “Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa”, “cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày”, “vách mưa rã rời”… Những hình ảnh giàu sức gợi ấy không chỉ cho thấy sự đổi thay của ngoại cảnh mà còn phản chiếu nỗi tan tác trong lòng người. Bút pháp tả cảnh ngụ tình được vận dụng tinh tế: cảnh vật càng quạnh quẽ, nỗi đau càng thấm thía. Câu thơ “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” gợi sự đối lập giữa quá khứ tươi vui và hiện tại lạnh lẽo, làm bật lên bi kịch của một mối tình vừa chớm nở đã vội lìa tan. Đặc biệt, câu hỏi tu từ “Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?” câu hỏi tu từ như một tiếng nghẹn ngào, chất chứa cô đơn, tuyệt vọng. Nhịp thơ chậm, giọng điệu trầm buồn đã khắc sâu nỗi bàng hoàng, đau đớn của Kim Trọng trước sự thật phũ phàng. Qua đó, Nguyễn Du thể hiện cái nhìn nhân đạo đầy xót thương đối với số phận con người trong vòng xoáy nghiệt ngã của cuộc đời.
câu2:
bài làm
Trong khu rừng già, có một thân cây cổ thụ đứng lặng giữa nắng gió. Người ta chỉ trầm trồ trước những tán lá xanh mướt, những chùm hoa rực rỡ trên cành, nhưng ít ai nghĩ đến bộ rễ nằm sâu trong lòng đất. Những chiếc rễ ấy âm thầm hút từng giọt nước, chắt chiu từng mạch dinh dưỡng, chịu đựng bóng tối và sự chèn ép của đất đá để nuôi cả thân cây vươn cao. Khi bão đến, chính bộ rễ ấy ghì chặt vào lòng đất, giữ cho cây không bật gốc. Không ai nhìn thấy rễ, cũng chẳng ai ngợi ca, nhưng nếu thiếu chúng, mọi vẻ đẹp phía trên sẽ sụp đổ. Trong tự nhiên, có những hi sinh lặng lẽ như thế – không cần ánh sáng, không cần lời khen, nhưng lại là nền tảng cho sự sống nảy nở.Từ câu chuyện của bộ rễ âm thầm ấy, ta nhận ra trong cuộc sống hôm nay, “sự hi sinh thầm lặng” vẫn luôn là giá trị bền bỉ nâng đỡ con người và cộng đồng.
Có người từng nói “chúng ta không được chọn nơi mình sinh ra nhưng chúng ta có thể chọn cách sống cho riêng mình” cách sống của chính chúng ta sẽ quyết định đến cuộc đời chúng ta. Thế nên, ý kiến đã gợi dẫn một cách sống đẹp, sống có ích cho cuộc đời, đây là một ý kiến vô cùng đúng đắn. "Hi sinh" được hiểu là sự quên mình vì người khác, đặt lợi ích của người khác lên trên bản thân mình. “Thầm lặng” là âm thầm, lặng lẽ hành động, ít nguoi biết đến. “Sự hi sinh thầm lặng” là hành động tốt đẹp, sẵn sàng cho đi yêu thương chân thành, giúp đỡ người khác từ những việc nhỏ nhất mà không mong cầu được đền đáp. Đây là một cách sống vô cùng hữu ích và tốt đẹp cho mọi người, nhất là giới trẻ trong thời đại ngày nay, trong đó có tôi.
Vậy vì sao “ sự hi sinh thầm lặng” lại có ý nghĩa đến vậy? Trong lời bài hát "Khát vọng tuổi trẻ" của nhạc sĩ Vũ Hoàng có câu: "Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà hãy thử hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay". Câu hát đã trở thành kim chỉ nam của nhiều người: Sống cống hiến, đóng góp sức lực, trí tuệ của bản thân vào lợi ích chung của tập thế, cộng đồng, rộng ra là của quê hương, đất nước.Góp một phần sức lực chính là lúc chúng ta không vụ lợi, trên tinh thần tự nguyện mong muốn cống hiến cho xã hội. "Hy sinh" quả cảm nhất chính là cho đi mà không mưu cầu nhận lại, dành chút tốt đẹp nhất tạo nên những kí ức đẹp.Chẳng có sự cống hiến nào là vô nghĩa. Đẹp hơn cả là lẽ sống cống hiến âm thầm, lặng lẽ không ồn ào khoa trương: "Lặng lẽ dâng cho đời(Thanh Hải). Trong mỗi gia đình là bóng hình những người bà, người mẹ hi sinh tuổi thanh xuân để lo lắng, chăm sóc con cháu mình. Là bóng dáng người cha tần tảo, một nắng hai sương làm bờ vai vững chắc cho con cái. Cha hi sinh cả sức khoẻ, thời gian để lao động kiếm tiền nuôi con cái. Là bóng những người anh, người chị bỏ dở chuyện học hành vì nhà nghèo, gắng làm lụng kiếm tiền gửi về cho ba mẹ nuôi em, cho em được đến trường bằng bè bằng bạn. Mỗi thành viên trong gia đình họ hi sinh cho nhau, lo lắng cho nhau chẳng cần ai nhắc nhở, cũng chẳng mong báo đền. Tất cả đều xuất phát từ tình yêu thương. Ngoài xã hội, đó là bóng hình của những y bác sĩ đêm ngày trực bệnh viện, lo lắng cho bệnh nhân từng hơi thở, là những người lính tình nguyện vào vùng tâm dịch hỗ trợ nhân dân. Là những thầy cô ngày đêm miệt mài bên trang giáo án, hi sinh cả thời gian cho gia đình vì học sinh thân yêu, truyền đạt các con những bài học bổ ích, dạy các con những điều hay lẽ phải. Là những mạnh thường quân chăm lo cho trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, ...Tất cả đều thật đẹp và thấm đẫm sự hi sinh.
Sự hi sinh thầm lặng có ý nghĩa bởi nó giống như bộ rễ âm thầm giữ lấy đất cho cây, không phô trương nhưng là nền móng để cả thân cây vươn lên đón ánh sáng. Một xã hội cũng vậy: phía sau những thành tựu được ca ngợi luôn có những con người lặng lẽ cống hiến, bền bỉ như dòng chảy ngầm nuôi dưỡng mạch nguồn chung. Chính họ tạo nên sự ổn định và bền vững cho cộng đồng, đồng thời thắp lên niềm tin rằng những giá trị tốt đẹp vẫn hiện hữu giữa đời thường. Hình ảnh Đặng Thuỳ Trâm – nữ bác sĩ trẻ đã sống và hi sinh nơi chiến trường, để lại những trang nhật kí thấm đẫm yêu thương – là minh chứng cảm động cho một đời dâng hiến không cần ánh hào quang. Hay như Nguyễn Ngọc Ký —người thầy viết chữ bằng chân, lặng lẽ vượt lên nghịch cảnh để gieo tri thức và nghị lực cho bao thế hệ học trò. Họ không chọn ồn ào, nhưng chính sự lặng thầm ấy lại trở thành điểm tựa tinh thần cho xã hội, như ngọn lửa nhỏ âm ỉ mà đủ sức sưởi ấm cả một vùng lạnh giá. “Những người hy sinh vì đại nghĩa chẳng bao giờ thất bại.”
“Mục đích của cuộc sống không phải là hạnh phúc. Đó là để hữu ích, đáng tôn trọng, có đạo đức, biết cảm thông và trên hết là cống hiến.” (Ralph Waldo). Nếu thiếu đi sự hi sinh thầm lặng, xã hội sẽ trở nên rời rạc và lạnh lẽo. Khi ai cũng chỉ nghĩ đến lợi ích và sự ghi nhận cho bản thân, các mối quan hệ sẽ bị chi phối bởi toan tính, niềm tin giữa người với người dần phai nhạt. Một cộng đồng không có những “bộ rễ” âm thầm nâng đỡ sẽ giống như cây lớn thiếu nền móng – có thể vươn cao nhất thời nhưng dễ gục ngã trước thử thách. Khi ấy, con người không chỉ đánh mất sự gắn kết mà còn đánh mất chính chiều sâu nhân cách của mình.
Làm thế nào để nuôi dưỡng và phát huy sự hi sinh thầm lặng trong cuộc sống? Trước hết mỗi người cần rèn cho mình một tấm lòng biết yêu thương và đặt mình vào vị trí của người khác. Khi hiểu được nỗi vất vả, thiếu thốn hay hi sinh của người xung quanh, ta sẽ biết sống trách nhiệm và sẵn sàng sẻ chia hơn. Bên cạnh đó, cần bắt đầu từ những việc nhỏ nhưng thiết thực: giúp đỡ gia đình, hỗ trợ bạn bè, nghiêm túc với bổn phận học tập và công việc của mình. Đồng thời, xã hội cũng cần trân trọng và lan tỏa những tấm gương cống hiến âm thầm để khơi dậy niềm tin vào giá trị của lòng vị tha. Khi mỗi cá nhân biết sống không chỉ cho mình mà còn vì người khác, sự hi sinh thầm lặng sẽ trở thành nền tảng bền vững cho cộng đồng.
“Sự hi sinh thầm lặng” trong cuộc sống là một cách sống vô cùng cao quý và thiêng liên, đề cao tinh thần đoàn kết, sự cống hiến đóng góp cho xã hội. Tuy nhiên, xã hội cũng không thiếu những kẻ ích kỉ, sống chỉ vì lợi ích cá nhân, sẵn sàng chà đạp lên người khác để đạt mục đích. Những hành vi tham ô, gian dối trong thi cử hay kinh doanh trục lợi là minh chứng cho lối sống đặt cái tôi lên trên cộng đồng. Chính sự thiếu vắng tinh thần cống hiến và trách nhiệm ấy làm suy giảm niềm tin xã hội.Vì vậy, hi sinh thầm lặng chỉ thực sự có ý nghĩa khi xuất phát từ ý thức đúng đắn và đi cùng sự tỉnh táo, bản lĩnh — biết cho đi nhưng không đánh mất giá trị của bản thân.
Càng đi sâu vào vấn đề, tôi- một người trẻ trong thời đại ngày nay càng có thêm động lực và niềm tin để cống hiến, hi sinh vì mọi người mà không màng đến lợi ích cá nhân. Tôi sẽ nỗ lực để học tập, sống có trách nhiệm với gia đình và cộng đồng, sẵn sàng chia sẻ bởi lẽ sự hi sinh thầm lặng là lò sưởi ấm những trái tim trong đêm đông giá lạnh
“ Con người sinh ra đã cất tiếng khóc nên cả đời đi tìm tiếng cười“ khi biết sống không chỉ cho riêng mình mà còn nghĩ đến người khác, mỗi cá nhân sẽ góp một viên gạch nhỏ bé nhưng bền chắc xây dựng nền móng một xã hội nhân ái, đoàn kết.
câu 1: văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm
câu 2: văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện ( tác giả) và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật ( Kim Trọng và ông bà Vương)
câu 3:tóm tắt văn bản :
Sau khi chịu tang chú, Kim Trọng trở lại vườn Thúy – nơi từng gắn bó với Thúy Kiều.Cảnh vật hoang vắng, tiêu điều, không còn bóng người.Kim Trọng hỏi thăm hàng xóm và biết tin:Gia đình Kiều gặp biến cố.Kiều đã bán mình chuộc cha và em. Gia đình sa sút, phải dời đi nơi khác.Kim Trọng đau đớn, vội tìm đến nơi ở mới của gia đình Kiều.Gặp ông bà Vương, chàng nghe kể lại toàn bộ sự việc Kiều bán mình và nhờ Thúy Vân thay lời hẹn ước.Kim Trọng vô cùng đau khổ, tuyệt vọng.
câu 4: em hiểu hình ảnh “ Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” là: câu thơ ẩn dụ, mượn ý thơ Đường , thể hiện sự đối lập giữa cảnh vật (vẫn tươi đẹp) và con người (đã biến mất/thay đổi).
+) trước hết là bức tranh tả thực: hoa đào vẫn nở tươi thắm, vẫn rung rinh trước gió xuân như năm nào. Cách nhân hoá “cười gió đông” làm cho cảnh vật trở nên có hồn, sống động. Tuy nhiên, đằng sau vẻ đẹp ấy là một ý nghĩa sâu xa: thiên nhiên vẫn như cũ nhưng con người đã đổi thay. Hoa đào vẫn còn đó, còn Thúy Kiều thì đã xa vắng. Chính sự “vẫn còn” của cảnh vật lại càng làm nổi bật cái “mất” của con người.
Qua hình ảnh ấy, Nguyễn Du đã khắc họa nỗi đau, sự hụt hẫng và nuối tiếc của Kim Trọng khi trở về chốn cũ mà không còn gặp người xưa. Câu thơ thể hiện quy luật nghiệt ngã của cuộc đời: cảnh còn người mất, hạnh phúc xưa chỉ còn trong kỷ niệm. Đồng thời, nó góp phần làm nổi bật bi kịch tình yêu tan vỡ và tâm trạng cô đơn, đau đớn của nhân vật.
câu 5: tác dụng của biện pháp ngụ tình trong đoạn trích :
Trong đoạn trích, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình rất đặc sắc. Cảnh vườn Thúy hiện lên hoang vắng, tiêu điều: “cỏ mọc lau thưa”, “song trăng quạnh quẽ”, “lầu không”, “rêu phong dấu giày”, “chung quanh lặng ngắt như tờ”… Những hình ảnh ấy không chỉ miêu tả cảnh vật bên ngoài mà còn phản chiếu tâm trạng bên trong của Kim Trọng.
Cảnh càng vắng lặng bao nhiêu thì nỗi cô đơn, trống trải của nhân vật càng hiện rõ bấy nhiêu. Sự tiêu điều của thiên nhiên gợi sự tan tác của tình yêu; cái lạnh lẽo của không gian diễn tả nỗi đau, sự hụt hẫng khi người xưa không còn. Nhờ bút pháp tả cảnh ngụ tình, tâm trạng Kim Trọng được thể hiện một cách tinh tế, sâu sắc mà không cần nói trực tiếp. Đồng thời, biện pháp này còn làm tăng giá trị biểu cảm, tạo âm hưởng buồn thương, góp phần khắc họa bi kịch tình yêu và tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Du.
câu 1: văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm
câu 2: văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện ( tác giả) và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật ( Kim Trọng và ông bà Vương)
câu 3:tóm tắt văn bản :
Sau khi chịu tang chú, Kim Trọng trở lại vườn Thúy – nơi từng gắn bó với Thúy Kiều.Cảnh vật hoang vắng, tiêu điều, không còn bóng người.Kim Trọng hỏi thăm hàng xóm và biết tin:Gia đình Kiều gặp biến cố.Kiều đã bán mình chuộc cha và em. Gia đình sa sút, phải dời đi nơi khác.Kim Trọng đau đớn, vội tìm đến nơi ở mới của gia đình Kiều.Gặp ông bà Vương, chàng nghe kể lại toàn bộ sự việc Kiều bán mình và nhờ Thúy Vân thay lời hẹn ước.Kim Trọng vô cùng đau khổ, tuyệt vọng.
câu 4: em hiểu hình ảnh “ Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” là: câu thơ ẩn dụ, mượn ý thơ Đường , thể hiện sự đối lập giữa cảnh vật (vẫn tươi đẹp) và con người (đã biến mất/thay đổi).
+) trước hết là bức tranh tả thực: hoa đào vẫn nở tươi thắm, vẫn rung rinh trước gió xuân như năm nào. Cách nhân hoá “cười gió đông” làm cho cảnh vật trở nên có hồn, sống động. Tuy nhiên, đằng sau vẻ đẹp ấy là một ý nghĩa sâu xa: thiên nhiên vẫn như cũ nhưng con người đã đổi thay. Hoa đào vẫn còn đó, còn Thúy Kiều thì đã xa vắng. Chính sự “vẫn còn” của cảnh vật lại càng làm nổi bật cái “mất” của con người.
Qua hình ảnh ấy, Nguyễn Du đã khắc họa nỗi đau, sự hụt hẫng và nuối tiếc của Kim Trọng khi trở về chốn cũ mà không còn gặp người xưa. Câu thơ thể hiện quy luật nghiệt ngã của cuộc đời: cảnh còn người mất, hạnh phúc xưa chỉ còn trong kỷ niệm. Đồng thời, nó góp phần làm nổi bật bi kịch tình yêu tan vỡ và tâm trạng cô đơn, đau đớn của nhân vật.
câu 5: tác dụng của biện pháp ngụ tình trong đoạn trích :
Trong đoạn trích, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình rất đặc sắc. Cảnh vườn Thúy hiện lên hoang vắng, tiêu điều: “cỏ mọc lau thưa”, “song trăng quạnh quẽ”, “lầu không”, “rêu phong dấu giày”, “chung quanh lặng ngắt như tờ”… Những hình ảnh ấy không chỉ miêu tả cảnh vật bên ngoài mà còn phản chiếu tâm trạng bên trong của Kim Trọng.
Tác dụng: giúp cho câu thơ thêm sinh động, hấp dẫn, tạo nhịp điệu cho câu th. Nhấn mạnh Cảnh càng vắng lặng bao nhiêu thì nỗi cô đơn, trống trải của nhân vật càng hiện rõ bấy nhiêu. Sự tiêu điều của thiên nhiên gợi sự tan tác của tình yêu; cái lạnh lẽo của không gian diễn tả nỗi đau, sự hụt hẫng khi người xưa không còn. Nhờ bút pháp tả cảnh ngụ tình, qua đó tâm trạng Kim Trọng được thể hiện một cách tinh tế, sâu sắc mà không cần nói trực tiếp. Đồng thời, biện pháp này còn làm tăng giá trị biểu cảm, tạo âm hưởng buồn thương, góp phần khắc họa bi kịch tình yêu và tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Du.