Hứa Thị Khánh Huyền
Giới thiệu về bản thân
Câu1 : - Quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ” được tác giả triển khai bằng cách nhấn mạnh vai trò của lao động nghệ thuật với ngôn từ. Tác giả cho rằng con đường thơ của mỗi người là riêng biệt, nhưng dù theo hướng nào, nhà thơ cũng phải dùi mài, cúc cung tận tụy với chữ, biến ngôn ngữ chung của mọi người thành ngôn ngữ đặc sắc, độc nhất của riêng mình. Nhờ lao động chữ nghĩa nghiêm túc ấy, người nghệ sĩ mới thật sự được “chữ bầu lên” – nghĩa là được ngôn từ thừa nhận, tôn vinh như một nhà thơ đích thực.
Câu 1:
- Trong phần 2, tác giả lập luận rằng mỗi nhà thơ có một con đường sáng tạo riêng, không ai giống ai. Tuy nhiên, dù đi theo hướng nào, họ vẫn phải hết lòng lao động nghệ thuật, “cúc cung tận tụy, dùi mài chữ nghĩa” để biến ngôn ngữ chung thành tiếng nói độc đáo của riêng mình. Hình ảnh “lão bộc trung thành của ngôn ngữ” là dẫn chứng giàu sức gợi, thể hiện thái độ khiêm nhường và cống hiến của người nghệ sĩ. Lập luận của tác giả sâu sắc, chặt chẽ và giàu cảm xúc, cho thấy quan niệm đúng đắn về lao động nghệ thuật trong thơ ca.
Câu 1 :
- Ý kiến “nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ” gợi ra một quan niệm sâu sắc về lao động nghệ thuật của người làm thơ. Sáng tạo thi ca không chỉ là phút ngẫu hứng của tâm hồn mà còn là một quá trình lao động nghiêm túc, cần mẫn và đầy gian khổ. Nhà thơ giống như người nông dân cần cù cày xới cánh đồng ngôn từ, gieo hạt cảm xúc để gặt hái từng “hạt chữ” quý giá. Mỗi vần thơ hay đều là kết tinh của mồ hôi, nước mắt và trí tuệ. Vì thế, thơ ca đích thực không chỉ đẹp ở ý tưởng mà còn quý ở sự khổ luyện, ở tấm lòng hết mình vì nghệ thuật và tiếng nói của dân tộc.
câu 1 :
- tác giả rất ghét:
+ cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm.
+ không mê những nhà thơ thần đồng.
- Ngược lại tác giả ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hỡi lấy từng hạt chữ.
Câu 1:
- Các đoạn nói về trẻ em và tuổi thơ: + “Về mặt này chúng ta không thể không ca tụng các em bé…” +“Chúng hồn nhiên trò chuyện với chó mèo, hồn nhiên hôn lên hoa cỏ…” +“Bởi vậy bản chất của trẻ thơ là nghệ thuật.” +“Tuổi thơ quả là thời hoàng kim trong đời người!...” - Tác giả nhắc nhiều đến trẻ em và tuổi thơ vì: muốn khẳng định trẻ em có tâm hồn trong sáng, chân thật, giàu lòng đồng cảm, đó chính là gốc rễ của tâm hồn nghệ sĩ. Qua đó, tác giả kêu gọi con người hãy giữ lại sự hồn nhiên, nhân hậu và cảm xúc nghệ thuật trong mình.
Câu 2: -Điểm tương đồng giữa trẻ em và nghệ sĩ: +Cả hai đều giàu lòng đồng cảm, nhạy cảm với cái đẹp, và thấu hiểu vạn vật. +Họ đều hồn nhiên, chân thành, có khả năng phát hiện cái đẹp trong những điều nhỏ bé. -Sự khâm phục và trân trọng của tác giả bắt nguồn từ việc trẻ em sống thật với cảm xúc, có tâm hồn nghệ thuật tự nhiên, biểu hiện cao nhất của sự đồng cảm và nhân ái mà người lớn và người nghệ sĩ đều mong giữ được.
Câu 1:
- Theo tác giả, góc nhìn riêng về sự vật được thể hiện như sau ở những người có nghề nghiệp khác nhau:
+ Nhà khoa học thấy được tính chất và trạng thái của nó.
+ Bác làm vườn thấy sức sống của nó.
+ Chú thợ mộc thấy chất liệu.
+ Anh hoạ sĩ thấy dáng vẻ của nó.
Câu 2:
- Cái nhìn của người họa sĩ với mọi sự vật trong thế giới như sau: cái nhìn của anh hoạ sĩ lại khác hẳn ba người kia,ba người kia đều có mục đích, đều nghĩ tới quan hệ nhân quả của cái cây, còn anh họa sĩ lại chỉ thưởng thức dáng vẻ của cái cây hiện tại, không còn mục đích gì khác,thế nên anh hoạ sĩ thường nhìn thấy khía cạnh hình thức, chứ không phải khía cạnh thực tiễn
Câu 1:
- Một đứa bé đến phòng người kể chuyện và tự nhiên sắp xếp lại đồ đạc: lật ngửa đồng hồ, chuyển chén trà ra trước ấm, chỉnh lại giày, giấu dây treo tranh. Khi được khen là chăm, nó nói làm vậy vì “thấy chúng như thế, cháu bứt rứt không yên”. Đứa bé coi đồ vật như có cảm xúc, nên muốn để chúng “dễ chịu”. Người kể chuyện cảm phục và nhận ra: từ lòng đồng cảm ấy nảy sinh cảm nhận về cái đẹp – đó chính là tâm hồn của người nghệ sĩ, biết đồng cảm với cả những vật vô tri.
Câu 2:
- Theo người nghệ sĩ thì sự đồng cảm khác với những người khác ở đây là:
+ Đồng cảm thường được con người sử dụng đối với con người với nhau.
+ Còn ở đây cậu bé không chỉ đồng cảm con người với con người mà còn đồng cảm với những đồ vật.
Câu 3:
- Việc đặt vấn đề của văn bản nghị luận bằng cách kể lại một câu chuyện có tác dụng rất hay và sâu sắc: +Gây hứng thú cho người đọc: Câu chuyện gần gũi, sinh động giúp người đọc dễ tiếp cận, không cảm thấy khô khan như một bài nghị luận thuần túy.
+Làm rõ và cụ thể hoá vấn đề nghị luận: Qua câu chuyện về chú bé biết đồng cảm với đồ vật, người đọc dễ hiểu hơn ý nghĩa của “sự đồng cảm” – nền tảng của tâm hồn nghệ sĩ. + Tăng sức thuyết phục: Thay vì nêu lí lẽ trừu tượng, câu chuyện thực tế giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của lòng đồng cảm một cách tự nhiên và chân thật. +Tạo chiều sâu nghệ thuật: Cách mở đầu bằng tự sự cho thấy người viết vừa có lí lẽ, vừa có cảm xúc – điều khiến bài nghị luận vừa “có lí” vừa “có tình”.