Đỗ Trí Dũng

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đỗ Trí Dũng
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (2.0 điểm)

     Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đạm Tiên trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Nhân vật Đạm Tiên trong đoạn trích Truyện Kiều hiện lên như một số phận hồng nhan bạc mệnh, gợi nhiều xót xa, thương cảm. Nàng vốn là một ca nhi nổi tiếng “tài sắc một thì”, từng được nhiều người ngưỡng mộ, tìm đến. Thế nhưng cuộc đời Đạm Tiên lại ngắn ngủi và bất hạnh: đang độ xuân thì đã “thoắt gãy cành thiên hương”, chết trong cô quạnh, mồ mả hoang lạnh, không người hương khói. Hình ảnh nấm mồ “vùi nông một nấm”, “mồ vô chủ” giữa cảnh Thanh minh nhấn mạnh sự cô đơn, lẻ loi đến đau lòng của nàng. Qua nhân vật Đạm Tiên, Nguyễn Du không chỉ khắc họa một kiếp người tài hoa nhưng bạc phận, mà còn bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc đối với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đạm Tiên trở thành lời cảnh báo về sự mong manh của kiếp hồng nhan, đồng thời là chiếc gương dự báo cho số phận đầy sóng gió của Thúy Kiều sau này.


Câu 2. (4.0 điểm)

     Nhiều học sinh hiện nay có thói quen sử dụng mạng xã hội quá nhiều, dẫn đến tình trạng sao nhãng trong học tập và thiếu trách nhiệm trong cuộc sống. Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề: Làm thế nào để sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả?
Mạng xã hội đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống của học sinh hiện nay. Tuy nhiên, việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều và thiếu kiểm soát đang khiến không ít bạn sao nhãng học tập, sống thiếu trách nhiệm và lệ thuộc vào thế giới “ảo”. Vì vậy, sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả là vấn đề cần được mỗi học sinh nghiêm túc nhìn nhận.

Trước hết, để sử dụng mạng xã hội hiệu quả, học sinh cần biết kiểm soát thời gian. Việc dành quá nhiều giờ lướt mạng sẽ làm giảm khả năng tập trung, ảnh hưởng đến kết quả học tập và sức khỏe. Mỗi người nên đặt giới hạn thời gian sử dụng mỗi ngày, ưu tiên hoàn thành việc học và sinh hoạt cần thiết trước khi giải trí trên mạng. Bên cạnh đó, cần xác định mục đích sử dụng rõ ràng, dùng mạng xã hội để học tập, trao đổi kiến thức, cập nhật thông tin hữu ích thay vì chỉ xem nội dung giải trí vô bổ.

Ngoài ra, học sinh cần biết chọn lọc thông tin. Mạng xã hội chứa nhiều thông tin sai lệch, tiêu cực, dễ gây ảnh hưởng xấu đến suy nghĩ và hành vi. Vì vậy, mỗi người cần tỉnh táo, không tin và chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng, đồng thời tránh xa các nội dung độc hại. Việc xây dựng thái độ văn minh khi sử dụng mạng xã hội, tôn trọng người khác, không nói xấu hay công kích cũng là biểu hiện của lối sống lành mạnh.

Cuối cùng, để mạng xã hội không chi phối cuộc sống, học sinh cần cân bằng giữa thế giới ảo và đời sống thực. Tham gia các hoạt động thể thao, đọc sách, giao tiếp trực tiếp với gia đình và bạn bè sẽ giúp chúng ta phát triển toàn diện hơn.

Tóm lại, mạng xã hội chỉ thực sự có ích khi con người làm chủ được nó. Sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả chính là biết kiểm soát bản thân, hướng tới những giá trị tích cực cho học tập và cuộc sống.

Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2.
Rằng: “Sao trong tiết thanh minh,

Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”
Hai dòng thơ trên sử dụng lời thoại trực tiếp (lời đối thoại của nhân vật, có dấu ngoặc kép).

Câu 3.
Hệ thống từ láy trong đoạn trích như sè sè, dầu dầu, vắng tanh, dầm dầm, đầm đầm được sử dụng giàu giá trị gợi hình, gợi cảm. Các từ láy ấy vừa khắc họa cảnh vật hoang vắng, hiu hắt nơi mộ Đạm Tiên, vừa góp phần diễn tả nhịp cảm xúc buồn thương, xót xa lan dần trong lòng Thúy Kiều, tạo nên sự hòa quyện giữa cảnh và tình.

Câu 4.
Trước hoàn cảnh cô độc, bạc mệnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều mang tâm trạng xót thương sâu sắc, đau đớn và đồng cảm. Nàng rơi nước mắt, thốt lên lời than cho “phận đàn bà” bạc mệnh. Điều đó cho thấy Thúy Kiều là người con gái đa cảm, giàu lòng nhân ái, biết rung động trước nỗi đau của người khác và sớm ý thức về số phận mong manh của người phụ nữ trong xã hội xưa.

Câu 5.
Từ văn bản, em rút ra bài học cần biết trân trọng con người, đặc biệt là những số phận bất hạnh, sống nhân hậu và giàu yêu thương. Bởi lẽ, sự cảm thông và lòng nhân ái giúp con người gắn bó với nhau hơn, đồng thời nhắc mỗi người sống ý nghĩa, không vô tình trước nỗi đau của người khác.

câu 1: viết đoạn văn 200 phân tích nhân vật Mai trong doạn trích trên
Nhân vật Mai trong đoạn trích Người bán mai vàng hiện lên là một người con hiếu thảo, giàu tình nghĩa và có trách nhiệm với gia đình. Sinh ra trong nghèo khó, lớn lên bên vườn mai vàng của cha, Mai thấm thía giá trị lao động và tình yêu nghề. Anh giàu lòng nhân ái khi cưu mang Lan – cô bé mồ côi – trong lúc khốn cùng, rồi cùng cô xây dựng một gia đình ấm áp. Trước những năm tháng thiên tai, mất mùa liên tiếp, Mai không buông xuôi mà trăn trở tìm con đường mưu sinh mới, dám đi, dám nghĩ để thoát khỏi cảnh cam chịu. Sự day dứt của Mai trước thực tế “chẳng ai sống được bằng vườn mai” cho thấy anh là người thực tế, biết nhìn thẳng vào khó khăn. Tình yêu thương cha, vợ và con trở thành động lực thôi thúc Mai thay đổi, học hỏi cách làm ăn mới. Qua Mai, tác giả khắc họa vẻ đẹp của người lao động nghèo: nhân hậu, biết hi sinh, có khát vọng vươn lên vì hạnh phúc gia đình.
câu 2:  Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo”
những thứ không thuộc về mình của một bộ phận giới trẻ hiện nay.
BÀI LÀM
Trong đời sống hiện đại, đặc biệt với sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, một bộ phận giới trẻ xuất hiện lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo” những thứ không thuộc về mình. Đây là hiện tượng đáng suy ngẫm bởi nó để lại nhiều hệ lụy tiêu cực cho cá nhân và xã hội.

Khoe khoang “ảo” là việc tạo dựng hình ảnh hào nhoáng, mượn đồ, mượn không gian, thậm chí thêu dệt thành tích để đăng tải lên mạng nhằm gây chú ý, tìm kiếm sự ngưỡng mộ. Nguyên nhân của hiện tượng này trước hết đến từ tâm lí muốn được công nhận, sợ bị tụt lại phía sau trong môi trường so sánh liên tục. Bên cạnh đó, tác động của mạng xã hội với những lượt thích, lượt theo dõi đã vô tình cổ vũ cho việc đánh giá con người qua vẻ ngoài hơn là giá trị thật. Sự thiếu bản lĩnh, thiếu định hướng giá trị sống cũng khiến một số bạn trẻ dễ chạy theo hào nhoáng bề nổi.

Hậu quả của lối sống ấy không hề nhỏ. Trước hết, nó làm con người xa rời giá trị chân thật, sống trong áp lực phải “diễn” cho vừa mắt người khác. Lâu dần, cá nhân có thể đánh mất sự tự tin và lòng tự trọng khi nhận ra hình ảnh mình xây dựng chỉ là giả tạo. Về mặt xã hội, thói khoe khoang “ảo” góp phần nuôi dưỡng lối sống thực dụng, so sánh, khiến các mối quan hệ trở nên hời hợt, thiếu tin cậy.

Để khắc phục, mỗi bạn trẻ cần xây dựng cho mình hệ giá trị đúng đắn: trân trọng năng lực, nỗ lực và thành quả thật của bản thân. Mạng xã hội nên được dùng như công cụ chia sẻ tích cực, không phải sân khấu phô trương. Gia đình và nhà trường cần giáo dục kĩ năng sống, giúp người trẻ hiểu rằng giá trị con người nằm ở nhân cách, tri thức và đóng góp, chứ không ở những hình ảnh “ảo”.

Sống chân thật, khiêm tốn và nỗ lực từng ngày chính là cách để người trẻ khẳng định mình bền vững trong xã hội hiện đại.

Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thú ba

Câu 2.
Hai cha con ông già mù sống bằng vườn mai vàng ở chân núi Ngũ Tây, gắn bó với cây mai như máu thịt. Trong một lần bán mai, Mai cưu mang cô bé mồ côi Lan về nuôi, sau này nên vợ chồng. Gia đình nghèo nhưng chan chứa yêu thương, vượt qua nhiều năm thiên tai, mất mùa. Nhận ra chỉ trồng mai cây thì khó sống, Mai trăn trở tìm hướng đi mới. Thương con cháu, ông già Mai chấp nhận cho cưa nửa vườn mai làm vốn. Sự hi sinh ấy giúp gia đình bắt nhịp cuộc sống mới.

Câu 3.
Ông già Mai là người yêu nghề, yêu mai, giàu trải nghiệm; nhân hậu, giàu tình thương, luôn nghĩ cho con cháu; hi sinh thầm lặng, dám chịu đau đớn khi cưa mai để con có vốn làm ăn.

Câu 4.
Em thích chi tiết ông già Mai chấp nhận cho cưa nửa vườn mai vì đó là đỉnh điểm của sự hi sinh: đau xót nhưng đặt hạnh phúc và tương lai con cháu lên trên tình yêu gắn bó cả đời với vườn mai.

Câu 5.
“Tình cảm gia đình” là động lực tinh thần giúp Mai vượt nghèo khó, thôi thúc anh suy nghĩ, đổi mới cách làm ăn và có trách nhiệm hơn; đồng thời tạo chỗ dựa để anh dám bước sang con đường mới vì hạnh phúc chung của gia đình.