Đinh Thanh Tân

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đinh Thanh Tân
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Tác giả “rất ghét” định kiến cho rằng “nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm”, và “không mê những nhà thơ thần đồng” – những người chỉ dựa vào năng khiếu trời cho, viết thơ trong phút ngẫu hứng mà thiếu rèn luyện, lao động nghệ thuật. Ngược lại, ông “ưa” những nhà thơ cần cù, bền bỉ, “một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy”, suốt đời trau dồi, rèn chữ, lao động nghiêm túc để tạo ra những vần thơ có giá trị lâu dài.

Câu 1:

Trong văn bản, tác giả nhắc đến nhiều câu, đoạn nói về trẻ em và tuổi thơ: “Về mặt này chúng ta không thể không ca tụng các em bé. Bởi trẻ em phần lớn rất giàu lòng đồng cảm.” “Chúng không chỉ đồng cảm với con người mà bằng một cách hết sức tự nhiên, còn đồng cảm với hết thảy sự vật như chó mèo, hoa cỏ, chim cá, bướm sâu,...” “Chúng hồn nhiên trò chuyện với chó mèo, hồn nhiên hôn lên hoa cỏ, hồn nhiên chơi với búp bê, tấm lòng chúng chân thành mà tự nhiên hơn nghệ sĩ nhiều!” “Tuổi thơ quả là thời hoàng kim trong đời người!” Ông nhắc nhiều đến trẻ em vì muốn khẳng định trẻ em có tâm hồn trong sáng, đồng cảm tự nhiên với vạn vật, nhắc người lớn hãy giữ lại phần hồn trẻ thơ để sống nhân ái và biết rung động trước cái đẹp.

Câu 2:

Tác giả đã phát hiện ra những điểm tương đồng giữa trẻ em và người nghệ sĩ:

- Cả hai đều giàu lòng đồng cảm với thế giới xung quanh, có thể cảm nhận, rung động trước hình dạng, màu sắc, âm thanh của vạn vật. - Họ đều có tâm hồn trong sáng, chân thành, biết yêu thương và gắn bó tự nhiên với sự sống. - Trẻ em cũng như nghệ sĩ đều có khả năng phát hiện cái đẹp trong những điều bình thường, nhìn thế giới bằng con mắt yêu thương và sáng tạo.

Sự khâm phục, trân trọng trẻ em của tác giả được hình thành trên cơ sở :

trẻ em sống hồn nhiên, chân thành, không bị chi phối bởi lí trí hay định kiến xã hội, điều đó khiến chúng trở nên gần gũi với bản chất nghệ thuật nhất. Tác giả cho rằng trẻ thơ là “bản chất của nghệ thuật”, bởi chúng biết yêu, biết rung động, biết “đặt tình cảm vào” thế giới quanh mình — điều mà người lớn nhiều khi đã đánh mất.

Câu 1: Theo tác giả, mỗi người thuộc ngành nghề khác nhau sẽ có góc nhìn riêng về cùng một sự vật: - Nhà khoa học nhìn thấy tính chất và trạng thái của vật. - Bác làm vườn chú ý đến sức sống của nó. - Chú thợ mộc quan tâm đến chất liệu mà nó tạo nên. - Người hoạ sĩ lại cảm nhận dáng vẻ, hình thức, vẻ đẹp của sự vật.

Câu 2: Theo tác giả, người họa sĩ nhìn thế giới bằng con mắt của cái đẹp (thế giới của Mĩ). - Họ không quan tâm đến giá trị thực tiễn hay mục đích sử dụng, mà chỉ say mê thưởng thức dáng vẻ, màu sắc, hình dạng của sự vật. - Trong mắt họ, mọi vật đều bình đẳng và đáng yêu, dù là gốc cây khô, tảng đá lạ hay bông hoa dại vô danh cũng đều có thể trở thành nguồn cảm hứng nghệ thuật. - Tấm lòng của họ đầy đồng cảm và nhiệt thành với vạn vật, nhìn đâu cũng thấy cái đẹp, cái đáng trân trọng.

Câu 1:

Một cậu bé vào phòng giúp tác giả sắp xếp đồ đạc. Cậu để ý đến từng chi tiết nhỏ như lật ngửa mặt đồng hồ, chuyển vị trí chén trà, chỉnh lại đôi giày, hay giấu dây treo tranh. Khi tác giả cảm ơn, cậu nói rằng mình làm vậy chỉ vì thấy mọi thứ để sai vị trí khiến cậu “bứt rứt không yên”.

Câu 2:

Theo tác giả, người nghệ sĩ có sự đồng cảm khác người thường ở chỗ :Người thường chỉ biết đồng cảm với con người hoặc đôi khi với động vật,còn người nghệ sĩ có khả năng đồng cảm rộng lớn hơn – họ cảm nhận được tâm hồn, cảm xúc của cả những vật vô tri vô giác. Họ thấy trong từng đồ vật, cảnh vật một sự sống, một mối liên hệ tinh tế với con người và thế giới.

Câu 3:

Theo em, việc đặt vấn đề của văn bản nghị luận bằng cách kể lại một câu chuyện có tác dụng : - Làm cho vấn đề trở nên gần gũi, tự nhiên, dễ tiếp nhận; - Gợi cảm xúc, tạo hứng thú cho người đọc trước khi đi vào lý lẽ; - Giúp minh họa cụ thể cho luận điểm về sự đồng cảm nghệ sĩ, khiến bài viết vừa có lý vừa có tình, thuyết phục hơn.


Câu 1:

Thể loại của văn bản Đồng vọng ngược chiều: truyện ngắn.

Câu 2:

- Ngôi kể được tác giả sử dụng trong văn bản là ngôi kể thứ 3.

- Câu văn thể hiện ngôi kể: " Bà lão tiếp tục van vỉ ".

Câu 3:

trong câu văn sau: "Một tia nắng lọt qua cái chóp thủng, xiên thẳng xuống đất, như đóng đinh bà lão xuống nền đường."

- sử dụng biện pháp tu từ so sánh " như "

- Tác dụng :

+, làm cho câu văn thêm sinh động, hấp dẫn tăng tính gợi hình gợi cảm.

+,Nhấn mạnh “xiên thẳng” và “đóng đinh” khiến người đọc cảm nhận rõ sức nặng, sự chói chang và dữ dội của cái nắng,gợi ra một khung cảnh trưa nắng gay gắt, ánh nắng như những mũi nhọn đâm xiên xuống đất.

+, Qua việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh vào trong câu văn, nhà văn không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn gửi gắm cảm xúc xót xa, thương cảm trước số phận con người nghèo khổ.

Câu 4 :

Ý nghĩa của nhan đề: Nhan đề “Đồng vọng ngược chiều” thể hiện sự đồng cảm giữa những con người cùng khổ dù khác cảnh ngộ, như bé Chi và bà lão mù trong truyện. Nhan đề qua đó bộc lộ chủ đề nhân đạo sâu sắc, ca ngợi lòng thương người và khát vọng được thấu hiểu giữa cuộc đời còn nhiều nghịch cảnh. Niềm tin rằng dù cuộc sống khắc nghiệt, con người vẫn có thể tìm thấy tiếng nói chung của tình thương.

Câu 5:

Qua văn bản “Đồng vọng ngược chiều”, tác giả thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc dù cuộc sống còn nhiều khổ đau, nghịch cảnh và cách biệt, con người vẫn có thể gặp nhau ở tiếng nói của lòng nhân ái và sự đồng cảm. Tác giả muốn gửi gắm thông điệp rằng: chỉ cần biết yêu thương, sẻ chia và trân trọng nhau, thì ngay cả trong “ngược chiều” cuộc đời, ta vẫn có thể tìm thấy sự hòa điệu của những tâm hồn thiện lương.