Bàn Thị Quỳnh Diễm
Giới thiệu về bản thân
- Văn bản “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” có cách lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu thuyết phục. Mở đầu, tác giả đưa ra khái niệm “hiền tài”, khẳng định hiền tài có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh dân tộc thông qua cách trọng dụng, đối đãi của những đấng thánh đế minh vương và cuối cùng là nêu lên tác dụng to lớn của việc được khắc tên lên bia tiến sĩ đối với người đương thời và các thế hệ sau. Các luận điểm có mối liên hệ chặt chẽ, luận điểm trước là tiền đề để luận điểm sau phát triển.
Quan điểm "chữ bầu lên nhà thơ" được tác giả Lê Đạt triển khai bằng cách nhấn mạnh sự lao động sáng tạo và trách nhiệm của nhà thơ. Tác giả cho rằng một nhà thơ chân chính không phải do danh xưng mà do chính những con chữ độc đáo, có sức gợi cảm và thể hiện phong cách riêng của họ tạo nên.
Trong phần hai của bài “Chữ bầu lên nhà thơ”, Lê Đạt đưa ra nhiều lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục để khẳng định thơ ca là kết quả của quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc chứ không chỉ là sự ngẫu hứng. Ông phê phán quan niệm coi thơ là sản phẩm của cảm hứng bột phát, dẫn chứng việc các nhà văn, nhà thơ như Tôn-xtôi, Phlô-be, Lý Bạch, Gớt, Ta-go đều đạt thành tựu nhờ khổ luyện. Hình ảnh “nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy” thể hiện rõ quan niệm coi trọng lao động chữ nghĩa.Lập luận của tác giả chặt chẽ, kết hợp nhiều dẫn chứng cụ thể, giàu sức gợi, giúp người đọc nhận ra giá trị thật của sự sáng tạo và trách nhiệm trong nghề thơ.
Ý kiến “nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lục điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ” là một cách nói ẩn dụ sâu sắc. Lê Đạt ví công việc sáng tạo thơ ca như lao động của người nông dân, phải cần mẫn, kiên trì, đổ bao công sức mới thu được “hạt chữ” quý giá. Qua đó, tác giả muốn khẳng định rằng làm thơ là một lao động nghệ thuật nghiêm túc và vất vả, đòi hỏi tâm huyết, tài năng và sự rèn luyện không ngừng.
Trong bài “Chữ bầu lên nhà thơ”, tác giả Lê Đạt bộc lộ thái độ “rất ghét” những lời thơ giả tạo, trau chuốt rỗng tuếch, theo khuôn mẫu trời cho. Ngược lại, ông “ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bât mồ hôi lấy từng hạt chữ”.Điều đó thể hiện quan niệm: thơ ca phải bắt đầu từ lao động nghệ thuật nghiêm túc và tấm lòng chân thành.
Câu 1:
-Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn
Câu 2:
-Ngôi kể được tác giả sử dụng là ngôi thứ ba.
-Câu văn thể hiện ngôi kể đó: “Theo cái gậy tre dò đường, bà lão rờ rẫm tưng bước về phía cửa ga”. Qua đó,giúp tác giả có thể bộc lộ suy nghĩ,linh hoạt miêu tả từng nhân vật. Đồng thời,thể hiện sự đồng cảm giữa hai con người cùng cảnh ngộ.
Câu 3:
Trong câu văn: “Một tia nắng lọt qua cái chóp thủng, xiên thẳng xuống đất, như đóng đinh bà lão xuống nền đường.”, tác giả sử dụng biện pháp tu từ so sánh “như đóng đinh bà lão xuống nền đường”.Biện pháp này gợi hình ảnh tia nắng chói chang, gay gắt, như một lực vô hình ghim chặt người đàn bà mù già nua vào mặt đất. Qua đó, nhà văn khắc họa rõ nỗi khổ, sự bế tắc và cảm giác bị dồn ép, tù túng của nhân vật trong hoàn cảnh khốn cùng. Hình ảnh ấy cũng gợi sự đồng cảm sâu sắc cho thân phận nhỏ bé, bất hạnh giữa cuộc đời.
Câu 4:
Nhan đề “Đồng vọng ngược chiều” có ý nghĩa rất sâu sắc.“Đồng vọng” là sự đồng cảm, tiếng lòng giống nhau; còn “ngược chiều” là trái hướng, không gặp được nhau.Hai con người trong truyện,bà lão và bé Chi, đều nghèo khổ, đều mù loà muốn giúp đỡ nhau nhưng lại không thể nhận ra nhau. Vì thế, sự “đồng cảm” của họ trở thành “ngược chiều”,đành bỏ lỡ. Nhan đề truyện đã gợi lên nỗi buồn và sự trớ trêu của số phận.
Câu 5:
Qua văn bản, tác giả thể hiện tư tưởng và thông điệp nhân văn sâu sắc.Trước hết, đó là niềm cảm thông, trân trọng những số phận nghèo khổ,những con người dù ở đáy xã hội vẫn giữ được lòng nhân hậu và khao khát được sẻ chia. Đồng thời, truyện còn gửi gắm lời nhắn nhủ về tình người: giữa cuộc sống nhiều nghịch cảnh, con người cần mở lòng, thấu hiểu và yêu thương nhau hơn, để sự đồng cảm không trở thành “ngược chiều”.