Bàn Thị Quỳnh Diễm
Giới thiệu về bản thân
-Cách lập luận rõ ràng, logic: Tác giả trình bày vấn đề theo trình tự hợp lí – nêu hiện tượng, phân tích nguyên nhân, kể trải nghiệm cá nhân, rồi rút ra kết luận và lời khuyên.
-Dẫn chứng thực tế, gần gũi: Những ví dụ và câu chuyện thật về thói quen dùng điện thoại khiến người đọc dễ đồng cảm và tin tưởng.
-Giọng điệu chân thành, giàu cảm xúc: Tác giả xưng “tôi” – “bạn” tạo cảm giác gần gũi như đang tâm sự, chia sẻ kinh nghiệm thật.
-Ngôn ngữ tự nhiên, sinh động: Cách dùng từ giản dị, pha chút hài hước giúp bài viết hấp dẫn, dễ hiểu
-Bài viết nêu lên thực trạng nhiều người, nhất là giới trẻ, đang nghiện điện thoại thông minh. Tác giả trước hết thừa nhận lợi ích của điện thoại thông minh trong việc kết nối và giải trí, sau đó kể lại trải nghiệm bản thân khi bị nghiện, qua đó chỉ ra những tác hại như ảnh hưởng học tập, sức khỏe, các mối quan hệ và tinh thần. Cuối cùng, tác giả khẳng định con người cần làm chủ công nghệ, sử dụng điện thoại hợp lý để cuộc sống hài hòa và ý nghĩa hơn.
-Nhận xét về trình tự sắp xếp các luận điểm:
• Các luận điểm được sắp xếp hợp lí, tự nhiên và logic theo trình tự:
1. Nêu hiện tượng nghiện điện thoại thông minh.
2. Thừa nhận mặt tích cực của điện thoại để nhìn nhận khách quan.
3. Trình bày tác hại và trải nghiệm cá nhân, tạo sức thuyết phục.
4. Đưa ra lời khuyên, kết luận, khẳng định con người phải làm chủ công nghệ.
Văn bản đặt ra vấn đề con người cần sử dụng điện thoại thông minh một cách chủ động, đúng mức, không để bị lệ thuộc và mất đi quyền làm chủ bản thân
1:
- Những đoạn văn nói về trẻ thơ, tuổi thơ: đoạn 1, 5, 6
- Những câu nói về trẻ thơ:
+ Trẻ em phần lớn rất giàu lòng đồng cảm
+ Chúng không chỉ đồng cảm với con người mà bằng một cách hệt sức tự nhiên, còn đồng cảm với hết thảy sự vật như chó mèo, hoa cỏ, chim cá, bướm sâu,.... Tấm lòng chúng chân thành mà tự nhiên hơn nghệ sĩ nhiều. Chúng thường để ý đến những việc mà người lớn không chú tâm đến, phát hiện ra những điểm mà người lớn không phát hiện được.
+ Bản chất của trẻ em là nghệ thuật
+ Tuổi thơ quả là thời hoàng kim trong đời người
- Tác giả nhắc nhiều đến trẻ em và tuổi thơ như vậy nhằm nhấn mạnh nghệ thuật qua cái nhìn của trẻ em là nghệ thuật chân thật, chân chính nhất và tuổi thơ là lúc chúng ta có thể dễ dàng cảm nhận tư vị của cái đẹp.
2:
- Điểm tương đồng giữa trẻ em và người nghệ sĩ là giàu lòng đồng cảm.
- Sự khâm phục, trân trọng trẻ em của tác giả được hình thành trên cơ sở tác giả phát hiện “bản chất của trẻ thơ là nghệ thuật”. Trẻ em không chỉ đồng cảm với con người mà bằng một cách hết sức tự nhiên, còn đồng cảm với hết thành sự vật như chó mèo, hoa cỏ, chim cá, bướm sâu. Chúng hồn nhiên trò chuyện với chó mèo, hồn nhiên hồn nhiên cây cỏ, hồn nhiên chơi với búp bê, tấm lòng chung chân thành mà tự nhiên hơn nghệ sĩ nhiều.
1.
Theo tác giả, mỗi người có nghề nghiệp khác nhau sẽ có cách nhìn sự vật không giống nhau. Cùng nhìn một gốc cây, nhà khoa học thì thấy tính chất và trạng thái của nó, bác làm vườn thấy sức sống, người thợ mộc chú ý đến chất liệu, còn họa sĩ lại thấy dáng vẻ của cây. Như vậy, góc nhìn của mỗi người phụ thuộc vào công việc và mục đích riêng. Tác giả muốn nói rằng, khi biết nhìn sự vật dưới nhiều góc độ khác nhau, chúng ta sẽ hiểu cuộc sống phong phú và thú vị hơn.
2.
Theo tác giả, người họa sĩ có cách nhìn rất đặc biệt với mọi sự vật xung quanh. Họ không quan tâm đến việc cái đó có ích gì, mà chỉ chú ý đến vẻ đẹp của nó. Trong mắt người nghệ sĩ, một gốc cây khô, tảng đá lạ hay bông hoa dại đều có thể trở thành điều đáng quý. Họ nhìn thế giới bằng con mắt yêu cái đẹp và luôn đồng cảm với mọi thứ. Chính vì vậy, thế giới trong mắt người nghệ sĩ lúc nào cũng tươi đẹp và đầy cảm xúc.
1.
Tác giả kể chuyện một cậu bé vào phòng giúp ông sắp xếp lại đồ vật: lật đồng hồ, xoay chén trà, chỉnh giày dép, giấu dây treo tranh… Khi được hỏi, cậu nói làm vậy vì thấy “chúng” bứt rứt, khó chịu. Qua câu chuyện ấy, tác giả nhận ra cậu bé có lòng đồng cảm tinh tế với cả những vật vô tri, và từ đó hiểu rằng đó chính là tâm hồn hướng tới cái đẹp – đặc trưng của người nghệ sĩ.
2.
Theo tác giả, người thường chỉ đồng cảm với con người hoặc động vật, còn người nghệ sĩ có khả năng đồng cảm sâu rộng hơn, cảm nhận được “tâm hồn”, “cảm xúc” của cả vạn vật, dù có tình hay vô tri. Chính sự đồng cảm rộng lớn ấy giúp họ sáng tạo ra cái đẹp trong nghệ thuật.
3.
Việc mở đầu văn bản bằng câu chuyện ngắn gọn, sinh động giúp gợi hứng thú cho người đọc, đồng thời làm nổi bật vấn đề nghị luận một cách tự nhiên, dễ hiểu. Qua câu chuyện cụ thể, tác giả giúp người đọc cảm nhận rõ hơn ý nghĩa của sự đồng cảm trong tâm hồn nghệ sĩ, khiến lập luận trở nên thuyết phục và giàu cảm xúc hơn.
a. Dấu hiệu nổi bật giúp nhận ra lỗi về mạch lạc là lỗi dùng từ liên kết: mặc dù ... nên
b. Các lỗi liên kết trong đoạn văn
- Về nội dung
+ câu 1: đề cập việc con người sử dụng điện thoại thay sách
+ câu 2: con người vứt bỏ thói quen đọc sách
+ câu 3: nó khó giúp con người tìm được yên tĩnh trong tâm hồn
=> Các câu không có mối quan hệ triển khai, bổ sung ý nghĩa cho nhau
- Về phép liên kết
+ Sử dụng từ nối không phù hợp: mặc dù ... nên
+ Sử dụng phép thế không phù hợp: Từ “nó” ở câu thứ 3 là điện thoại, nhưng lại được đặt sau câu 2 nói về sách sẽ khiến bạn đọc hiểu “nó” thay cho “sách” dẫn đến hiểu sai ý văn bản.
c. Cách sửa
Bởi vì không thấy được lợi ích của sách trong việc bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ nên không ít người hầu như đã vứt bỏ thói quen đọc sách. Thay vì cầm một cuốn sách để đọc, nhiều người bây giờ chỉ biết lăm lăm trong tay một chiếc điện thoại thông minh. Nó tuy rất tiện lợi trong việc đáp ứng nhu cầu của con người trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại khó giúp ta tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn”.
a. Phép lặp từ được sử dụng nhưng các câu kề nhau nhưng đoan văn vẫn rời rạc vì phương tiện nối giữa các câu không phù hợp và các câu chưa thống nhất cùng một chủ đề.
b.
-Đoạn văn chưa có phương tiện kết nối hợp lí, các câu không nói về cùng một chủ đề.
-Câu 1 nói về việc nước ta rất trọng hiền tài. Câu 2 giải thích về người hiền tài. Vì vậy cần có phép nối phù hợp: Nhà nước ta rất coi trọng hiền tài. Bởi người hiền tài có những năng lực vượt trội so với người bình thường và có thể làm được nhiều việc lớn.
-Câu 3 và câu 4 không cùng chủ đề với câu 1. Câu 3 đề cập đến việc hiền tài đời nào cũng có và câu 4 khẳng định tên tuổi, sự nghiệp của họ được nhân dân ghi nhớ. Để thống nhất, mạch lạc, câu 3 và 4 nên giải thích việc “nhà nước ta rất trọng người hiền tài” như thế nào.
a. Về hình thức, đoạn văn bắt đầu bằng chữ cái viết hoa, thụt đầu hàng, là sự gắn kết của các câu văn và kết thúc bằng dấu ngắt câu.
Về nội dung, đoạn văn đã diễn đạt một ý hoàn chỉnh: quan niệm về người nghệ sĩ.
b. Mạch lạc về nội dung giữa các câu trong đoạn văn:
- Câu 1: khẳng định bản chất nghệ thuật của con người
- Câu 2: chỉ ra những tác động đến bản chất nghệ thuật ấy
- Câu 3: chỉ ra tinh thần không khuất phục những tác động trên
- Câu 4: khẳng định đó là nghệ sĩ
=> Mỗi câu văn đều phải dựa vào câu văn trước đó làm tiền đề để nêu ý nghĩa.
Mạch lạc trong phép liên kết:
- Phép lặp: chỉ, đồng cảm
- Phép thế: tấm lòng ấy, những người ấy
- Phép nối: Nói cách khác
c. Dấu hiệu cho thấy mạch lạc giữa đoạn văn này và các đoạn văn khác của văn bản “Yêu và đồng cảm” là có từ nối: “Nói cách khác”. Điều này cho thấy đoạn văn trước đó tác giả đã đề cập đến nội dung về người nghệ sĩ.
d. Trong đoạn văn, từ ngữ “người”, “đồng cảm”, “chỉ” được lặp lại nhiều lần. Việc lặp như vậy nhằm tạo ra mạch liên kết trong văn bản, giúp các câu trong đoạn văn cùng thống nhất một chủ đề.