Hoàng Yến Nhi
Giới thiệu về bản thân
cách tác giả triển khai quan điểm như sau:
- Chiều tóc bạc vẫn thu hoạch mùa thơ dậy thì, sức trẻ từ nội lực của chữ: Lí Bạch, Gớt, Ta-go.
+ Ét-mông Gia-bét nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ.+ Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ.
+ "Nhà thơ” không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.Câu “nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ” là một hình ảnh ẩn dụ sâu sắc mà Lê Đạt dùng để nói về lao động nghệ thuật nghiêm túc, bền bỉ và khổ công của người làm thơ.
- “Một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy”: so sánh người làm thơ với người nông dân cần cù, vất vả, ngày ngày dãi nắng dầm sương để gieo trồng, chăm bón trên “cánh đồng” – ở đây là trang giấy, ngôn ngữ, chữ nghĩa. Hình ảnh này nhấn mạnh sự kiên trì, nhẫn nại, âm thầm và miệt mài trong lao động nghệ thuật.
- “Đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”: cho thấy mỗi chữ, mỗi câu thơ đều là kết quả của mồ hôi công sức, của quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc và khổ luyện, chứ không phải sản phẩm của cảm hứng bốc đồng hay “trời cho”.
Ý nghĩa chung:
Lê Đạt đề cao lao động nghệ thuật chân chính, nghiêm túc, kiên trì và sáng tạo của người làm thơ. Ông phê phán quan niệm cho rằng làm thơ chỉ cần “thiên phú” hay “cảm hứng bất chợt”. Đồng thời, ông khẳng định giá trị của chữ nghĩa, của công phu rèn giũa ngôn từ – bởi thơ không chỉ là cảm xúc, mà còn là kết tinh của trí tuệ và lao động nghệ thuật bền bỉ
“nhà thơ một nắng hai sương…” là hình ảnh biểu tượng cho người nghệ sĩ tận tụy, kiên trì, dốc toàn tâm sức để lao động sáng tạo, coi thơ ca là nghề cần khổ luyện và gắn bó như người nông dân trên cánh đồng chữ nghĩa.
Câu “nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ” là một hình ảnh ẩn dụ sâu sắc mà Lê Đạt dùng để nói về lao động nghệ thuật nghiêm túc, bền bỉ và khổ công của người làm thơ
- “Một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy”: so sánh người làm thơ với người nông dân cần cù, vất vả, ngày ngày dãi nắng dầm sương để gieo trồng, chăm bón trên “cánh đồng” – ở đây là trang giấy, ngôn ngữ, chữ nghĩa. Hình ảnh này nhấn mạnh sự kiên trì, nhẫn nại, âm thầm và miệt mài trong lao động nghệ thuật.
- “Đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”: cho thấy mỗi chữ, mỗi câu thơ đều là kết quả của mồ hôi công sức, của quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc và khổ luyện, chứ không phải sản phẩm của cảm hứng bốc đồng hay “trời cho”.
Ý nghĩa chung:
Lê Đạt đề cao lao động nghệ thuật chân chính, nghiêm túc, kiên trì và sáng tạo của người làm thơ. Ông phê phán quan niệm cho rằng làm thơ chỉ cần “thiên phú” hay “cảm hứng bất chợt”. Đồng thời, ông khẳng định giá trị của chữ nghĩa, của công phu rèn giũa ngôn từ – bởi thơ không chỉ là cảm xúc, mà còn là kết tinh của trí tuệ và lao động nghệ thuật bền bỉ
“Nhà thơ một nắng hai sương…” là hình ảnh biểu tượng cho người nghệ sĩ tận tụy, kiên trì, dốc toàn tâm sức để lao động sáng tạo, coi thơ ca là nghề cần khổ luyện và gắn bó như người nông dân trên cánh đồng chữ nghĩa.
câu 1 :
ong văn bản, tác giả nhiều lần nói đến trẻ em và tuổi thơ, đặc biệt ở đoạn đầu và đoạn cuối. Ở phần đầu, tác giả kể về một cậu bé có tấm lòng đồng cảm sâu sắc, biết “bứt rứt không yên” khi thấy đồ vật đặt sai vị trí và luôn muốn sắp xếp lại cho chúng “dễ chịu”. Ở phần cuối, tác giả viết rằng trẻ em rất giàu lòng đồng cảm, chúng không chỉ đồng cảm với con người mà còn với mọi vật xung quanh như chó mèo, hoa cỏ, chim cá, bướm sâu. Trẻ em hồn nhiên trò chuyện với động vật, hôn lên hoa cỏ, chơi với búp bê – tấm lòng của chúng chân thành và tự nhiên hơn cả người nghệ sĩ. Tác giả cũng nói rằng con người bẩm sinh vốn giàu lòng đồng cảm, nhưng khi lớn lên, cách nghĩ của người đời khiến tấm lòng ấy dần bị che lấp, chỉ có người thông minh mới giữ được, và những người ấy chính là nghệ sĩ.
Tác giả nhắc nhiều đến trẻ em và tuổi thơ vì trong mắt ông, tuổi thơ là thời kỳ trong sáng, hồn nhiên và giàu cảm xúc nhất của đời người. Trẻ em là hình ảnh tượng trưng cho bản chất nghệ thuật nguyên sơ, cho tấm lòng đồng cảm tự nhiên mà con người lớn lên thường đánh mất. Nhắc đến trẻ em, tác giả muốn khơi dậy trong mỗi người tình yêu cái đẹp, lòng đồng cảm và sự nhân hậu vốn có trong tâm hồn con người
câu 2 :
Tác giả nhận thấy giữa trẻ em và người nghệ sĩ có nhiều điểm tương đồng. Cả hai đều có tấm lòng đồng cảm sâu sắc, có khả năng rung động tinh tế trước vẻ đẹp của thế giới xung quanh, và đều có thể cảm nhận, trò chuyện với cả những vật vô tri vô giác. Họ cùng nhìn thế giới bằng con mắt yêu thương, hồn nhiên và sáng tạo. Người nghệ sĩ, muốn sáng tạo ra cái đẹp, phải có tâm hồn trong trẻo như trẻ nhỏ, biết đồng cảm và hòa mình vào vạn vật.
Sự khâm phục và trân trọng trẻ em của tác giả được hình thành trên cơ sở nhận ra ở trẻ em những phẩm chất cao quý mà người nghệ sĩ cần có: lòng đồng cảm, sự hồn nhiên, sự chân thành và khả năng cảm thụ cái đẹp một cách tự nhiên. Chính điều đó khiến ông coi bản chất của trẻ thơ là nghệ thuật và xem tuổi thơ là thời kỳ hoàng kim của đời người.
câu 1 :
Theo tác giả, cùng một sự vật nhưng mỗi người ở nghề nghiệp khác nhau sẽ có góc nhìn riêng. Nhà khoa học nhìn sự vật ở phương diện tính chất và trạng thái, bác làm vườn nhìn thấy sức sống của nó, chú thợ mộc chú ý đến chất liệu, còn người họa sĩ lại nhìn vào dáng vẻ, hình thức bên ngoài. Mỗi người quan sát sự vật theo mục đích và nhu cầu nghề nghiệp của mình, vì thế góc nhìn cũng khác nhau
câu 2 :
Cái nhìn của người họa sĩ đối với mọi sự vật trong thế giới mang tính cảm thụ và thẩm mỹ. Họa sĩ không quan tâm đến giá trị thực tiễn hay quan hệ nhân quả của sự vật, mà chỉ chú trọng đến vẻ đẹp hình thức, màu sắc, dáng vẻ của chúng. Trong mắt người họa sĩ, cả những thứ tưởng như vô dụng như gốc cây khô hay tảng đá lạ cũng trở nên có giá trị nghệ thuật. Họ nhìn thế giới bằng tâm hồn yêu cái đẹp, đồng cảm và trân trọng mọi sự vật xung quanh.
1. Tóm tắt câu chuyện :
Tác giả kể lại câu chuyện về một cậu bé vào phòng giúp mình sắp xếp đồ đạc. Khi thấy chiếc đồng hồ quả quýt bị úp mặt xuống bàn, cậu liền lật ngửa lại; thấy chén trà đặt phía sau quai ấm, cậu chuyển ra trước vòi; thấy đôi giày dưới gầm giường một chiếc xuôi, một chiếc ngược, cậu xếp lại ngay ngắn; thấy dây treo tranh buông thõng ra ngoài, cậu trèo lên giấu vào trong cho gọn. Khi tác giả cảm ơn vì cậu bé quá chăm, cậu trả lời rằng không phải vì muốn giúp, mà chỉ vì “thấy chúng như thế cháu cứ bứt rứt không yên”. Cậu còn nói rằng đồng hồ bị úp thì “bực bội lắm”, chén trà “nấp sau lưng mẹ thì làm sao uống sữa được”, giày “chiếc xuôi chiếc ngược làm sao nói chuyện được với nhau”, và dây tranh “thòng ra trước trông như con ma vậy”. Nghe vậy, tác giả vô cùng cảm phục trước tấm lòng đồng cảm tinh tế của cậu bé, từ đó bắt đầu chú ý hơn đến vị trí, sự hài hòa của đồ vật xung quanh để mọi thứ trở nên dễ chịu, cân đối. Qua câu chuyện nhỏ ấy, tác giả nhận ra rằng sự đồng cảm ấy chính là tâm hồn hướng tới cái đẹp, là cảm xúc nền tảng trong nghệ thuật. Người nghệ sĩ cũng chính là người có khả năng cảm nhận sâu sắc như thế, họ có thể rung động và đồng cảm với cả những vật vô tri vô giác.
Câu 2:
Theo tác giả, người nghệ sĩ có sự đồng cảm khác với người bình thường ở chỗ: người bình thường chỉ có thể đồng cảm với con người hoặc cùng lắm là với động vật, còn người nghệ sĩ lại có lòng đồng cảm bao la và rộng lớn như trời đất. Họ có thể cảm nhận được tình cảm, linh hồn của cả những vật vô tri vô giác, thấy được cái đẹp và cái tình trong mọi sự vật xung quanh. Chính sự đồng cảm sâu sắc đó giúp người nghệ sĩ sáng tạo ra nghệ thuật và lan tỏa cảm xúc đến người khác.
Câu 3 ;
Việc đặt vấn đề của văn bản nghị luận bằng cách kể lại một câu chuyện có tác dụng làm cho nội dung trở nên gần gũi, tự nhiên và dễ tiếp nhận hơn. Câu chuyện cụ thể, sinh động giúp người đọc dễ hình dung, từ đó hiểu rõ hơn luận điểm mà tác giả muốn nêu ra. Cách mở đầu này cũng tạo được sự hứng thú, gợi cảm xúc và làm cho lập luận của bài viết trở nên thuyết phục, sâu sắc hơn, vì người đọc không chỉ tiếp nhận lý lẽ mà còn cảm nhận được ý nghĩa qua hình ảnh và cảm xúc của câu chuyện.
a, Lỗi mạch lạc : đoạn văn không có sự thống nhất về chủ đề . Ban đầu đoạn văn nói về thói quen của đọc sách sau đó lại chuyển sang lợi ích của điên thoại thông minh
b, Dấu hiệu của lỗi liên kết trong văn bản : lỗi dùng từ thế không rõ ràng : từ nó không xác định là chỉ đối tượng nào
- Thiếu từ nối giữa các câu
c, cách sửa đảm bảo liên kết mạch lạc rõ ràng :thay vì cầm một cuốn sách để đọc, nhiều người bây giờ chỉ chăm chú vào chiếc điện thoại thông minh. Không ít người có nhận thức rất mơ hồ về ích lợi của việc đọc sách trong việc bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ. Chính vì thế, họ đã dần vứt bỏ thói quen đọc sách. Trong khi điện thoại tuy rất tiện lợi trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu của con người trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại khó giúp ta tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn.
a, Lý do đoạn van vẫn rời rạc vì : mỗi câu nói về một nội dung không cùng chủ đề
b, Lỗi mạch lạc văn bản
- Đoạn văn sử dụng phép liên kết chưa phù hợp
- Các câu không tập trung hướng về chủ đề
a, Được coi là một đoạn văn vì có một chủ đề thống nhất : bàn về lòng đồng cảm của con người và tác giả
b,Mạch lạc thể hiện ở chỗ các câu được sắp xếp theo trình tự hợp lý và logic
- Câu đầu nêu luận điểm khái quát: con người vốn có lòng đồng cảm.
- Câu thứ hai giải thích nguyên nhân vì sao lòng đồng cảm ấy bị mất đi.
- Câu thứ ba nêu ngoại lệ chỉ những người thông minh mới giữ được lòng đồng cảm ấy.
- Câu cuối cùng kết luận :những người như thế chính là nghệ sĩ.
- Văn bản có mạch lạc, chặt chẽ rõ rằng các ý được triển khai theo trình tựu hợp lý
- Mở đầu nêu luận điểm chính Hiền tài là nguyên khí quốc gia
- Tiếp theo giải thích luận chứng và chúng minh cho luận điểm đó: hiền tài làm cho quốc gia thịnh trị, mất hiền tài thì đất nước suy yếu.
- Cuối cùng, tác giả rút ra bài học và hành động cụ thể: phải trọng dụng, khuyến khích và tôn vinh người hiền tài.
-về liên kết - Các câu và đoạn văn có liên kế chặt chẽ bằng nhiều phép liên kết:
- Phép lặp: lặp lại từ “hiền tài”, “nguyên khí”, “quốc gia” để nhấn mạnh nội dung trung tâm.
- Phép thế: dùng “người hiền”, “kẻ sĩ”, “nhân tài” thay thế cho “hiền tài” để tránh lặp đơn điệu.
- Phép nối: sử dụng các từ nối logic như vì thế, cho nên, do đó để làm rõ quan hệ nhân – quả.
- Các ý được chuyển tiếp tự nhiên, bổ sung và làm sáng tỏ cho nhau, tạo nên một văn bản thống nhất và gắn bó