Nguyễn Tuấn Kiệt
Giới thiệu về bản thân
Cách mạng công nghiệp lần thứ ba và thứ tư đã thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, tăng năng suất lao động và hiện đại hóa sản xuất. Đồng thời, chúng làm thay đổi đời sống xã hội, tạo nhiều ngành nghề mới, giúp con người kết nối dễ dàng hơn và làm cho văn hóa giao lưu rộng rãi trên toàn thế giới.
1.
Thể chế chính trị: Xây dựng nhà nước quân chủ trung ương tập quyền hoàn chỉnh (đỉnh cao là cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông). Luật pháp: Ban hành các bộ luật thành văn quy củ, tiêu biểu là Luật Hồng Đức mang tính nhân văn và bảo vệ chủ quyền cao. Chính sách đối nội: Gắn kết dân tộc với các dân tộc thiểu số và thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông" (vừa làm ruộng vừa luyện binh). Chính sách đối ngoại: Khôn khéo nhưng kiên quyết (vừa mềm dẻo ngoại giao, vừa giữ vững chủ quyền lãnh thổ).
2.
Về xã hội: Nông nghiệp phát triển giúp ổn định đời sống nhân dân, tăng quy mô dân số và củng cố quyền lực nhà nước. Về đô thị & giao lưu: Thương nghiệp phát triển hình thành các đô thị sầm uất (Thăng Long, Phố Hiến, Hội An), thúc đẩy giao thương và tiếp thu văn hóa bên ngoài. Về văn hóa - giáo dục: Kinh tế dư dả tạo điều kiện xây dựng chùa chiền, cung điện và phát triển giáo dục, khoa cử, nghệ thuật. Về quốc phòng: Nền kinh tế tự chủ cung cấp dồi dào lương thảo, vũ khí, giúp quốc gia đủ tiềm lực đánh thắng các cuộc ngoại xâm.
1.
1076: Lập Quốc Tử Giám — trường đại học đầu tiên. 1075: Mở khoa thi đầu tiên. Thời Lê sơ, quy chế thi định kỳ 3 năm/lần (Hương - Hội - Đình). Khuyến học: Tổ chức vinh quy bái tổ, ban danh hiệu "Tam khôi" và khắc bia Tiến sĩ tại Văn Miếu. Nội dung: Chủ yếu là Nho giáo.
2.
Đào tạo nhân tài: Là trung tâm giá dục lớn nhất, nơi đào tạo đội ngũ quan lại, trí thức cho đất nước. Tôn vinh đạo học: Thúc đẩy truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của người Việt. Khẳng định vị thế: Biểu tượng cho nền văn hiến, giáo dục phát triển cao và độc lập của Đại Việt.