TRẦN PHƯƠNG THẢO
Giới thiệu về bản thân
câu 1
Trong thơ ca ,tình yêu quê hương luôn là nguồn cảm hứng dạt dào được nhà thơ gửi gắm vào các nhân vật trữ tình.Đó là nỗi nhớ da diết về nơi mình sinh ra, lớn lên, gắn bó với những cảnh vật quen thuộc như cánh đồng lúa, dòng sông êm đềm hay mái nhà đơn sơ. Quê hương không chỉ hiện lên qua thiên nhiên bình dị mà còn là nơi lưu giữ kỉ niệm, nâng đỡ tâm hồn và hình thành nhân cách con người. Từ tình cảm gắn bó ấy, nhân vật trữ tình bộc lộ lòng biết ơn, sự trân trọng và niềm tự hào đối với mảnh đất đã nuôi dưỡng mình. Hơn thế, tình yêu quê hương còn mở rộng thành tình yêu đất nước, trở thành động lực để mỗi người sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, biết cống hiến và gìn giữ những giá trị tốt đẹp. Chính tình cảm thiêng liêng này đã góp phần làm nên chiều sâu nhân văn và sức lay động bền bỉ của thơ ca trong lòng người đọc.
câu 2
Có những thứ trong cuộc sống tưởng như rất bình thường nhưng lại gắn bó sâu sắc với mỗi con người, và quê hương là một điều như thế. Rasul Gamzatov từng nói: “Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương, chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người.” Câu nói nghe đơn giản nhưng lại gợi ra nhiều suy nghĩ.
Ta có thể hiểu một cách gần gũi, con người có thể vì nhiều lí do mà rời xa quê hương như học tập, làm việc, hay mưu sinh. Nhưng dù đi đâu, quê hương vẫn luôn ở trong mỗi người, từ kí ức đến tình cảm. Đó là nơi mình sinh ra, lớn lên, gắn với những điều quen thuộc như con đường nhỏ, mái nhà, hay những người thân yêu. Những thứ đó không dễ gì quên được.
Thực tế cho thấy, rất nhiều người dù sống xa quê lâu năm nhưng vẫn luôn nhớ về nơi mình từng gắn bó. Đó có thể là nỗi nhớ rất đơn giản, như nhớ bữa cơm gia đình, nhớ tiếng nói quen thuộc, hay chỉ là cảm giác bình yên khi ở nhà. Chính những điều nhỏ bé ấy lại khiến quê hương trở thành một phần không thể thiếu trong tâm hồn mỗi người.
Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại, cũng có không ít người dần thờ ơ với quê hương, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân. Đây là điều đáng suy nghĩ, bởi khi đánh mất sự gắn bó với quê hương, con người cũng phần nào mất đi điểm tựa tinh thần của mình.
Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết trân trọng quê hương, dù đang ở đâu cũng không nên quên nguồn cội. Tình cảm ấy không cần phải thể hiện bằng những điều lớn lao, mà đôi khi chỉ là sự nhớ nhung, quan tâm, hay mong muốn đóng góp điều gì đó cho nơi mình sinh ra. Câu nói của Gamzatov vì thế vẫn luôn đúng và nhắc nhở mỗi người về giá trị bền vững của quê hương trong cuộc đời.
câu 1; Thể thơ được sử dụng trong bài thơ trên là thơ tự do
câu 2 ; Phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ trên gồm: Miêu tả ,tự sự,biểu cảm
câu 3:Nhan đề của bài thơ đã gợi cho em cảm nhận về quê hương ,sự gần gũi ,gợi lên sự thiêng liêng,khẳng định tình yêu quê hương thiên nhiên sâu sắc
Tác dụng của nhan đề trong việc thể hiện nội dung bài thơ :Tạo sự đồng cảm sâu sắc: Nhan đề gợi nhắc đến một mẫu số chung trong tâm thức của mỗi người Việt Nam. Ai cũng có một "tên làng" để nhớ, để thương và để trở về. Qua đó, nhà thơ đã nâng tầm tình cảm cá nhân thành tình cảm cộng đồng bền vững, thiêng liêng.
câu 4:
Tác dụng khi lặp lại “Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ”. Nhằm nhấn mạnh nguồn gốc xuất thân và khẳng định căn tính của nhân vật trữ tình. Điệp ngữ này như một lời tự nhắc nhở sâu sắc về quê hương cội nguồn, đồng thời thể hiện niềm tự hào, tình yêu quê hương đất nước và lòng biết ơn đối với mảnh đất đã nuôi dưỡng mình.
câu 5
Nội dung của bài thơ :Niềm tự hào về quê hương và tình yêu quê hương thiên nhiên,nguồn cội và sự trưởng thành trong nhận thức của người đàn ông khi nhận ra giá trị thiêng liêng của quê hương ,là lời tự sự sâu lắng của người lính trở về quê hương
Các nhân tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quan trọng tới phát triển và phân bố nông nghiệp.
Dân số và nguồn lao động: Cung cấp lực lượng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Khu vực đông dân thường phát triển nông nghiệp thâm canh, cần nhiều lao động.
Thị trường: Định hướng sản xuất, thúc đẩy chuyên môn hóa nông nghiệp. Nhu cầu của thị trường quyết định loại cây trồng, vật nuôi và quy mô sản xuất.
Khoa học công nghệ: Ứng dụng giống mới, kỹ thuật canh tác tiên tiến, máy móc giúp tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Cơ sở vật chất, hạ tầng: Hệ thống thủy lợi, giao thông, kho tàng, cơ sở chế biến hỗ trợ quá trình sản xuất, bảo quản và tiêu thụ nông sản.
Chính sách phát triển nông nghiệp: Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ về vốn, đất đai, thị trường của nhà nước có vai trò điều tiết, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững.
Các nguồn lực phát triển kinh tế bao gồm các loại chủ yếu sau: nguồn lực vị trí địa lí, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực kinh tế - xã hội.
Vị trí địa lí có tác động rất lớn và đa dạng đến sự phát triển kinh tế, cả mặt thuận lợi và khó khăn:
Thuận lợi:
Vị trí gần các tuyến đường giao thông huyết mạch (biển, hàng không, đường bộ) tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, thương mại quốc tế, thu hút đầu tư và phát triển du lịch.
Vị trí địa lí thuận lợi giúp giảm chi phí vận chuyển, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Vị trí tiếp giáp với các quốc gia có nền kinh tế phát triển có thể thúc đẩy sự hợp tác, học hỏi kinh nghiệm và tiếp nhận công nghệ mới.
Khó khăn:
Vị trí địa lí không thuận lợi (ví dụ: nằm sâu trong nội địa, không giáp biển) có thể gây khó khăn trong việc tiếp cận thị trường quốc tế và tăng chi phí vận tải.
Vị trí nằm ở khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai (bão, lũ lụt, động đất) có thể gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở sự phát triển bền vững.