Trần Thị Hồng Nhung

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Thị Hồng Nhung
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Trong xã hội hiện đại, khi giá trị vật chất ngày càng được đề cao, đồng tiền dần trở thành thước đo đánh giá thành công của nhiều người. Chính vì thế, quan niệm “Có tiền là có tất cả” đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến suy nghĩ, lối sống của không ít cá nhân. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách toàn diện, đây là một quan niệm lệch lạc, tiềm ẩn nhiều hệ lụy tiêu cực đối với con người và xã hội. Trước hết, quan niệm “Có tiền là có tất cả” xuất phát từ việc tuyệt đối hóa vai trò của tiền bạc trong đời sống. Không thể phủ nhận rằng tiền giúp con người đáp ứng các nhu cầu vật chất, tạo điều kiện thuận lợi trong học tập, làm việc và sinh hoạt. Tuy nhiên, tiền chỉ là công cụ phục vụ con người chứ không thể thay thế những giá trị tinh thần cốt lõi. Khi con người tin rằng tiền có thể giải quyết mọi vấn đề, họ dễ xem nhẹ tình cảm gia đình, tình bạn, đạo đức và nhân cách sống – những yếu tố làm nên giá trị đích thực của một con người. Nguy hại hơn, quan niệm này khiến con người rơi vào lối sống thực dụng, sẵn sàng đánh đổi nhân phẩm và tình nghĩa để đạt được lợi ích vật chất. Nhiều người vì tiền mà gian dối trong học tập, bất chấp pháp luật trong làm ăn, thậm chí chà đạp lên quyền lợi của người khác. Lối sống ấy không chỉ làm tha hóa con người mà còn khiến các mối quan hệ xã hội trở nên lạnh lẽo, thiếu niềm tin. Đồng thời, việc chạy theo tiền bạc một cách mù quáng còn tạo ra áp lực tinh thần nặng nề, khiến con người luôn sống trong lo âu, mệt mỏi, dù bề ngoài có thể giàu sang. Thực tế cho thấy tiền bạc không phải là chiếc chìa khóa vạn năng cho hạnh phúc. Steve Jobs – nhà sáng lập Apple – từng sở hữu khối tài sản khổng lồ nhưng không thể dùng tiền để kéo dài sự sống khi mắc bệnh ung thư. Trước khi qua đời, ông thừa nhận rằng những điều quý giá nhất trong đời là tình yêu thương và các mối quan hệ chứ không phải của cải vật chất. Dẫn chứng ấy khẳng định rằng tiền bạc có giới hạn và không thể quyết định toàn bộ giá trị của đời người. Vì vậy, mỗi người cần nhận thức đúng đắn về vai trò của đồng tiền trong cuộc sống. Chúng ta phải biết trân trọng đồng tiền do lao động chân chính tạo ra, sử dụng nó một cách hợp lý và có trách nhiệm. Quan trọng hơn, con người cần nuôi dưỡng đời sống tinh thần, giữ gìn đạo đức, tình cảm và các mối quan hệ tốt đẹp, bởi đó mới là nền tảng bền vững của hạnh phúc. Tóm lại, tiền bạc là yếu tố cần thiết nhưng không phải là tất cả. Chỉ khi con người biết đặt tiền đúng vị trí và sống hài hòa giữa vật chất và tinh thần, cuộc sống mới thật sự có ý nghĩa và giá trị lâu dài.

 Câu 2:

Cuộc đời con người từ xưa đến nay vốn không bao giờ đứng yên. Thời gian trôi đi kéo theo sự đổi thay của cảnh vật, của hoàn cảnh sống và cả lòng người. Chính trong những biến thiên ấy, bản chất thật của con người và xã hội dần bộc lộ rõ ràng nhất. Bởi vậy, từ rất sớm, các bậc hiền triết đã dành nhiều suy ngẫm để lí giải nhân tình thế thái, nhằm giúp con người sống tỉnh táo và đúng đắn hơn. Nguyễn Bỉnh Khiêm – một trí thức lớn của văn học trung đại Việt Nam – đã gửi gắm những chiêm nghiệm sâu sắc ấy trong bài thơ “Thế gian biến đổi”, một tác phẩm ngắn gọn mà giàu ý nghĩa triết lí.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585), hiệu Bạch Vân cư sĩ, sống trong giai đoạn xã hội phong kiến đầy biến động, triều chính rối ren, đạo đức suy thoái. Tuy từng làm quan, nhưng không chấp nhận cảnh tranh quyền đoạt lợi, ông sớm cáo quan về ở ẩn, giữ trọn nhân cách thanh cao. Thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm vì thế thường mang giọng điệu điềm tĩnh, sâu sắc, thể hiện cái nhìn tỉnh táo trước cuộc đời và con người.

Bài thơ “Thế gian biến đổi” là bức tranh khái quát về sự đổi thay của thế gian và sự bạc bẽo của lòng người trước tiền tài, danh lợi. Qua việc phản ánh thực trạng xã hội thực dụng, bài thơ đồng thời khẳng định những giá trị đạo đức bền vững và gửi gắm lời cảnh tỉnh sâu sắc đối với con người ở mọi thời đại.

Ngay hai câu đầu tiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khái quát quy luật biến đổi không ngừng của cuộc đời:
“Thế gian biến cải vũng nên đồi,
Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi.”
Hình ảnh “vũng nên đồi” mang tính ẩn dụ sâu sắc, gợi sự đổi thay lớn lao, bất ngờ, khẳng định rằng không có gì là bất biến. Từ sự biến đổi của cảnh vật, nhà thơ mở rộng sang trải nghiệm đời người: cuộc sống là tổng hòa của đủ vị mặn – ngọt – chua – cay, buộc con người phải đi qua thử thách mới thấu hiểu lẽ đời.

Nếu hai câu đầu mang tính khái quát thì hai câu sau lại đưa người đọc đối diện trực tiếp với một thực tế phũ phàng của xã hội:
“Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử,
Hết cơm, hết bạn, hết ông tôi.”
Bằng phép liệt kê kết hợp nghệ thuật đối, tác giả phơi bày sự thật cay đắng: tiền bạc trở thành thước đo cho các mối quan hệ. Khi còn giàu có, con người được tôn trọng, vây quanh; khi túng thiếu, tình nghĩa cũng theo đó mà tan biến. Những quan hệ vốn được xem là thiêng liêng như thầy – trò, bạn bè, người thân cũng không thoát khỏi sự chi phối của vật chất. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện thái độ phê phán sâu sắc đối với xã hội thực dụng, nơi đồng tiền lấn át đạo lí.

Từ việc phản ánh hiện thực, nhà thơ tiếp tục chuyển sang khẳng định chuẩn mực đạo đức truyền thống:
“Xưa nay đều trọng người chân thật,
Ai nấy nào ưa kẻ đãi buôi.”
Ở đây, Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cao giá trị của sự chân thật và lên án thói giả dối. Tuy nhiên, đặt trong mạch cảm xúc toàn bài, lời khẳng định ấy mang sắc thái trầm lắng, như một sự đối chiếu giữa đạo lí vốn có và thực trạng xã hội đang ngày càng suy đồi.

Khép lại bài thơ, nhà thơ đã đúc kết thấm thía về nhân tình thế thái:
“Ở thế mới hay người bạc ác,
Giàu thì tìm đến, khó thì lui.”
Giọng thơ bình thản nhưng sâu cay đã khắc họa rõ sự bạc bẽo của lòng người, đồng thời thể hiện cái nhìn tỉnh táo, không ảo tưởng của tác giả trước cuộc đời. Đây vừa là lời tổng kết, vừa là lời cảnh tỉnh giàu giá trị nhân sinh.

Bên cạnh nội dung sâu sắc, bài thơ còn đặc sắc về nghệ thuật. Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật được vận dụng linh hoạt, kết cấu chặt chẽ. Nghệ thuật đối và liệt kê tạo nên sự tương phản rõ nét giữa giàu – nghèo, còn – hết, đến – lui. Ngôn ngữ thơ giản dị nhưng giàu sức khái quát, giọng điệu điềm tĩnh mà thấm thía, đậm chất triết lí.

Có thể nói, “Thế gian biến đổi” không chỉ phản ánh một xã hội đầy biến động mà còn gửi gắm những suy ngẫm sâu xa về cách sống của con người. Trải qua nhiều thế kỉ, những chiêm nghiệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở con người hôm nay biết tỉnh táo trước danh lợi, trân trọng những giá trị chân thật và giữ vững nhân cách giữa dòng đời không ngừng đổi thay.

Câu 1:

Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận

Câu 2:

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là: Nghị luận kết lợp với tự sự và biểu cảm.

Câu 3:

Mục đích của tác giả qua văn bản là:

- Giúp người đọc nhận thức đúng bản chất của đồng tiền: tiền chỉ là công cụ trao đổi, không phải thước đo tuyệt đối của giá trị con người.

- Phê phán việc đề cao hoặc quy kết tội lỗi cho đồng tiền một cách cực đoan.

- Nhắc nhở con người cần biết trân trọng, đánh giá đúng các giá trị tinh thần như tình yêu, hạnh phúc, danh dự, nhân cách, tránh để tham vọng sai lệch chi phối cuộc sống.

Câu 4:

Cách lập luận, dẫn dắt của tác giả trong văn bản chặt chẽ, tự nhiên và thuyết phục.

- Tác giả bắt đầu từ câu ca dao quen thuộc để gợi vấn đề, sau đó đối chiếu với thực tế đời sống.

- Lập luận được triển khai qua nhiều dẫn chứng cụ thể: trải nghiệm cá nhân, câu chuyện người quen, ý kiến danh nhân, ca khúc, quảng cáo…

- Giọng văn gần gũi, chân thành, giàu suy ngẫm giúp người đọc dễ đồng cảm và bị thuyết phục.

Câu 5:

Đoạn văn thể hiện một quan điểm đúng đắn và sâu sắc về đồng tiền. Đồng tiền tự nó không xấu cũng không tốt, nó chỉ là công cụ để trao đổi giá trị. Điều khiến con người sa ngã không phải là bản thân tiền bạc mà là lòng tham và những tham vọng không chính đáng. Khi con người muốn có được những thứ vượt quá khả năng, công sức hay đạo đức của mình, đồng tiền trở thành phương tiện dẫn đến sai lầm và bi kịch. Đoạn văn nhắc nhở mỗi người cần tỉnh táo, biết giới hạn, biết trân trọng những giá trị tinh thần và sống đúng với khả năng, nhân cách của bản thân để không đánh mất những điều quý giá trong cuộc đời.

 

Câu 1:

Trong “Truyền kì mạn lục”, Nguyễn Dữ đã dựng nên nhiều câu chuyện li kì nhằm phản ánh những vấn đề đạo đức và số phận con người trong xã hội phong kiến. “Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu” là một truyện tiêu biểu, thể hiện rõ tư tưởng nhân văn của tác giả qua bi kịch gia đình và số phận người phụ nữ. Trước hết, truyện ca ngợi người phụ nữ sống nghĩa tình, chính trực, đồng thời phê phán thói bạc nhược, vô trách nhiệm của người đàn ông, qua đó khẳng định quan niệm “theo chính nghĩa” và đề cao trách nhiệm cá nhân trong đời sống gia đình. Chủ đề ấy xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, được thể hiện tập trung qua số phận và hành động của các nhân vật chính. Hình tượng Nhị Khanh là điểm sáng nổi bật thể hiện chủ đề của truyện. Nàng là người vợ hiền, dâu thảo, khéo cư xử và giàu đức hi sinh. Dù chồng ăn chơi, cờ bạc, Nhị Khanh vẫn nhẫn nhịn khuyên can. Khi bị đem ra đánh cược, bị chà đạp nhân phẩm và danh tiết, nàng đã lựa chọn cái chết để bảo toàn đạo lí. Hành động ấy không phải sự cam chịu mù quáng mà là sự khẳng định nhân cách, cho thấy “theo chồng” không phải là theo thói xấu mà là theo chính nghĩa và lẽ phải. Trái ngược với Nhị Khanh là Trọng Quỳ – người chồng bạc nhược, thiếu bản lĩnh và trách nhiệm. Vì ham mê cờ bạc, Trọng Quỳ đánh mất đạo làm chồng, làm cha, đẩy vợ vào bi kịch. Lời bình cuối truyện với giọng điệu phê phán gay gắt thể hiện thái độ dứt khoát của Nguyễn Dữ trước sự suy đồi đạo đức ấy, đồng thời gửi gắm thông điệp sâu sắc về việc con người phải biết “tự sửa mình” nếu muốn giữ được gia đình và nhân cách. Bên cạnh đó, yếu tố kì ảo trong truyện góp phần củng cố chủ đề. Việc Nhị Khanh sau khi chết được minh oan và giao phó công việc nơi đền Trưng Vương thể hiện niềm tin vào công lí, cho thấy khát vọng công bằng của con người khi hiện thực trần gian không bảo vệ được người lương thiện. Như vậy, “Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu” là truyện truyền kì giàu giá trị nhân văn, ca ngợi phẩm chất chính trực của người phụ nữ, phê phán lối sống sa đọa và khẳng định bài học đạo đức sâu sắc về trách nhiệm và chính nghĩa trong cuộc sống.

 Câu 2:

Trong xã hội hiện đại, nhiều người, trong đó có không ít người thân của em, vẫn giữ thói quen thức khuya để học tập, làm việc hoặc sử dụng điện thoại. Nhiều người cho rằng thức khuya là cần thiết để hoàn thành công việc, nhưng thực tế, đây là một thói quen gây hại nhiều hơn lợi. Vì vậy, em muốn thuyết phục người thân của mình từ bỏ thói quen thức khuya để bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Trước hết, thức khuya là việc đi ngủ sau 23 giờ – thời điểm cơ thể con người cần được nghỉ ngơi để phục hồi năng lượng. Theo các chuyên gia y tế, người trưởng thành cần ngủ từ 7 đến 8 tiếng mỗi ngày. Tuy nhiên, nhiều người vì học bài, làm việc muộn hoặc lướt mạng xã hội mà thường xuyên ngủ sau nửa đêm, khiến cơ thể không được nghỉ ngơi đầy đủ.

Về tác hại đối với sức khỏe, thức khuya gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), rối loạn giấc ngủ kéo dài làm tăng nguy cơ suy giảm trí nhớ, stress, tim mạch và suy nhược cơ thể. Thực tế, em từng chứng kiến một người anh họ vì thường xuyên thức đến 1–2 giờ sáng để làm việc trên máy tính nên luôn trong tình trạng mệt mỏi, đau đầu, hay cáu gắt. Sau một thời gian, anh phải đi khám vì suy nhược thần kinh và được bác sĩ yêu cầu điều chỉnh lại giờ ngủ. Dẫn chứng này cho thấy tác hại của thức khuya là hoàn toàn có thật, không phải điều xa vời.

Không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, thức khuya còn làm giảm hiệu quả học tập và công việc. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng não bộ hoạt động kém hiệu quả khi thiếu ngủ, khả năng tập trung và ghi nhớ giảm rõ rệt. Thực tế trong học tập, có nhiều học sinh thức khuya để học bài nhưng sáng hôm sau lại buồn ngủ, không tiếp thu được bài giảng trên lớp. Kết quả là phải học lại từ đầu, vừa tốn thời gian vừa kém hiệu quả. Như vậy, thức khuya tưởng là “cố gắng” nhưng thực chất lại phản tác dụng.

Bên cạnh đó, thức khuya còn ảnh hưởng đến tinh thần và các mối quan hệ gia đình. Người ngủ muộn thường dậy muộn, bỏ bữa sáng hoặc sinh hoạt thất thường. Em từng thấy người thân của mình vì thức khuya mà sáng nào cũng uể oải, ít nói chuyện với gia đình, tâm trạng căng thẳng. Lâu dần, không khí gia đình cũng trở nên nặng nề hơn. Ngược lại, khi ngủ đúng giờ, tinh thần thoải mái, con người dễ chia sẻ, quan tâm và gắn bó với người thân hơn.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng việc từ bỏ thói quen thức khuya không đồng nghĩa với lười biếng mà là biết sắp xếp thời gian khoa học. Nhiều người thành công như các vận động viên hay doanh nhân đều duy trì thói quen ngủ đúng giờ để đảm bảo sức khỏe và hiệu suất làm việc. Thay vì thức khuya, mỗi người có thể lập kế hoạch học tập, làm việc hợp lí, hạn chế sử dụng điện thoại trước khi ngủ và ưu tiên hoàn thành công việc vào ban ngày.

Vì vậy, mỗi người cần ý thức rằng sức khỏe là tài sản quý giá nhất. Không có sức khỏe, mọi thành công trong học tập và công việc đều trở nên mong manh. Ngủ đủ giấc, đúng giờ chính là cách tự bảo vệ bản thân và những người mình yêu thương.

Tóm lại, thức khuya là một thói quen gây nhiều tác hại cho sức khỏe, tinh thần và hiệu quả học tập, làm việc. Em mong người thân của mình sẽ sớm từ bỏ thói quen ngủ muộn, xây dựng lối sống khoa học và lành mạnh hơn. Bởi chỉ khi có một cơ thể khỏe mạnh và tinh thần tỉnh táo, chúng ta mới có thể học tập, làm việc tốt và sống hạnh phúc trọn vẹn.

 

Câu 1:

Truyện viết về đề tài người phụ nữ tiết nghĩa, đức hạnh trong xã hội phong kiến, qua đó phê phán thói ăn chơi, vô trách nhiệm của người đàn ông và đề cao đạo lí làm người.

 Câu 2:

Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn là liệt kê: “bóng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân, năm ba tiếng quạ kêu…”.

Phép liệt kê làm cho hình ảnh được miêu tả cụ thể, sinh động, tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu văn.

Đồng thời, phép liệt kê cũng gợi lên khung cảnh hoang vắng, tiêu điều, lạnh lẽo của ngôi đền lúc chiều tà, qua đó thể hiện tâm trạng buồn bã, cô đơn, rợn ngợp của Trọng Quỳ trước cuộc gặp gỡ mang màu sắc âm – dương cách biệt.

Câu 3:

Chi tiết hoang đường, kì ảo: Nhị Khanh sau khi chết hiện hồn về gặp Trọng Quỳ, nói chuyện và cho biết mình được lệ thuộc ở đền Trưng Vương.

Chi tiết hoang đường, kì ảo làm tăng sức hấp dẫn, màu sắc li kì cho truyện truyền kì.

Đồng thời, nó còn thể hiện niềm tin của người xưa vào thế giới linh hồn, công lí siêu nhiên.

Qua đó khẳng định phẩm chất cao đẹp và nỗi oan khuất của Nhị Khanh, đồng thời bộc lộ thái độ cảm thương của tác giả.

 Câu 4:

Chủ đề của truyện: Ca ngợi người phụ nữ nghĩa tình, chính nghĩa; phê phán người chồng bạc nhược, sa đọa; đề cao đạo đức, trách nhiệm và lẽ công bằng ở đời.

Tác phẩm cùng chủ đề: “Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn Dữ), “Truyện Kiều” (Nguyễn Du)

 Câu 5:

Thông điệp “tự sửa mình” trong lời bình mang ý nghĩa sâu sắc:

- Nhấn mạnh rằng muốn giữ được gia đình, hạnh phúc và nhân cách, con người phải tu dưỡng đạo đức trước hết từ chính bản thân mình.

- Lời bình không chỉ lên án Trọng Quỳ mà còn là lời cảnh tỉnh chung cho những kẻ sống buông thả, vô trách nhiệm.

- Thông điệp ấy vượt khỏi khuôn khổ truyện, trở thành bài học nhân sinh bền vững, còn nguyên giá trị với con người hôm nay.

 

- Trình tự sắp xếp các luận điểm:

+ Luận điểm 1: khái quát chung về việc sử dụng điện thoại thônginh ngồi.

+ Luận điểm 2: lợi ích của đỉẹn thoại thông minh.

+ Luận điểm 3: đưa ra tác hại của điện thoại thông minh bằng việc kể câu chuyện của bản thân.

+ Luận điểm 4: lời khuyên của người viết dành cho người đọc.​

=> Nhận xét: thứ tự sắp xếp hợp lí, logic, có sự rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu.

- Trình tự sắp xếp các luận điểm:

+ Luận điểm 1: khái quát chung về việc sử dụng điện thoại thônginh ngồi.

+ Luận điểm 2: lợi ích của đỉẹn thoại thông minh.

+ Luận điểm 3: đưa ra tác hại của điện thoại thông minh bằng việc kể câu chuyện của bản thân.

+ Luận điểm 4: lời khuyên của người viết dành cho người đọc.​

=> Nhận xét: thứ tự sắp xếp hợp lí, logic, có sự rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu.

- Trình tự sắp xếp các luận điểm:

+ Luận điểm 1: khái quát chung về việc sử dụng điện thoại thônginh ngồi.

+ Luận điểm 2: lợi ích của đỉẹn thoại thông minh.

+ Luận điểm 3: đưa ra tác hại của điện thoại thông minh bằng việc kể câu chuyện của bản thân.

+ Luận điểm 4: lời khuyên của người viết dành cho người đọc.​

=> Nhận xét: thứ tự sắp xếp hợp lí, có sự rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu.