Nguyễn Bảo Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Bảo Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 :

Trong cuốn sách “Đủ nắng thì hoa nở”, Ba Gàn từng nhắn nhủ: “Đừng tìm bình an, mà hãy chủ động an bình trước mọi hoàn cảnh”. Câu nói là một chân lý sâu sắc về lối sống chủ động – khả năng con người tự mình hành động, quyết định mà không lệ thuộc vào ngoại cảnh. Trong xã hội hiện đại đầy biến động, sự chủ động chính là “chìa khóa” để người trẻ mở ra những hành trình mới. Người chủ động không ngồi chờ thời cơ mà tự mình đi tìm cơ hội, giống như hình ảnh các sinh viên tích cực kết nối với nhà tuyển dụng tại các ngày hội việc làm để tự định hướng tương lai. Việc chủ động trang bị kiến thức, kỹ năng không chỉ là nền tảng giúp chúng ta hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu để hoàn thiện mình mà còn tạo nên bản lĩnh tự tin khi bước vào đời. Khi gặp vấp ngã, người có tư duy cầu tiến sẽ không nản lòng; họ coi thất bại là bài học kinh nghiệm, sẵn sàng trải nghiệm để rèn luyện sự linh hoạt và thích nghi. Như hạt gạo phải chịu bao đau đớn mới tỏa hương thơm, người trẻ cần chủ động lập kế hoạch để xây dựng bản sắc riêng và làm chủ con thuyền cuộc đời mình thay vì “chờ đợi cơn bão qua đi”. Minh chứng tiêu biểu nhất chính là hành trình của Columbus; bằng sự dấn thân và niềm tin dựa trên tri thức, ông đã vượt qua gian khổ để tìm ra châu Mỹ, mở ra kỷ nguyên mới cho nhân loại. Ngược lại, nếu thiếu đi sự tự chủ, người trẻ dễ rơi vào trạng thái mất phương hướng, nản chí và trắc trở trên con đường khẳng định bản thân. Tuy nhiên, chủ động không đồng nghĩa với việc phớt lờ sai lầm hay mù quáng lao về phía trước, mà cần sự tỉnh táo để nhìn nhận lại kế hoạch, tránh rơi vào vòng luẩn quẩn của sự cố chấp. Là một thành viên của thế hệ GenZ, em nhận thức rằng chỉ có gạt bỏ tâm thế lo âu, chủ động tích lũy tri thức và kỹ năng mới có thể giúp mình ghi dấu ấn trên mọi chặng đường. Đúng như lời khuyên: “Hãy là người lái con thuyền của chính cuộc đời mình, đừng chờ đợi ai đó quyết định hướng đi cho bạn”.


Câu 2:

Nguyễn Trãi là một nhân vật toàn tài hiếm có trong lịch sử trung đại Việt Nam. Ông không chỉ là một nhà quân sự, chính trị lỗi lạc, bậc anh hùng dân tộc mà còn là danh nhân văn hóa thế giới, nhà thơ lớn của thế kỉ XV. Nhắc đến Nguyễn Trãi, chúng ta không thể không nhắc đến áng thiên cổ hùng văn Đại cáo bình Ngô hay những bức thư có sức mạnh như muôn vạn hùng binh trong Quân trung từ mệnh tập. Nhắc đến ông, người đọc cũng không thể quên Quốc âm thi tập – “bông hoa đầu mùa tuyệt đẹp của thơ Nôm Việt Nam”. Tập thơ kết tinh những vẻ đẹp nổi bật trong con người Nguyễn Trãi: nhân nghĩa, yêu nước thương dân ; yêu thiên nhiên tha thiết. Cảnh ngày hè – bài thơ số 43 trong chùm Bảo kính cảnh giới của tập thơ là một bài thơ tiêu biểu. Qua bức tranh cảnh ngày hè, người đọc cảm nhận được một tình yêu tha thiết với thiên nhiên đất nước và tấm lòng ưu dân ái quốc của thi nhân:

Rồi hóng mát thuở ngày trường.
Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ.
Hồng liên trì đã tịn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ;
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.

Bài thơ vẽ nên bức tranh cảnh ngày hè vào buổi hoàng hôn cuối ngày. Câu thơ mở đầu thật lạ, chỉ có 6 tiếng đã giới thiệu hoàn cảnh thưởng ngoạn bức tranh ngày hè của thi nhân. Đó là một hoàn cảnh hiếm hoi và lý tưởng để Nguyễn Trãi làm thơ và say cảnh đẹp. Lý tưởng bởi thi nhân có cả một ngày dài rỗi rãi, nhàn tản để ngắm cảnh, làm thơ. Hiếm hoi bởi với một vị quan suốt đời lo cho dân cho nước thì giây phút thảnh thơi như thế đâu có nhiều. Câu thơ 6 tiếng, ngắt nhịp thật lạ. Từ rồi tách riêng, nhịp thơ chậm, buồn. Dường như có một điều gì đó uẩn khúc trong tâm trạng thi nhân, dường như cái nhàn kia là cái nhàn bất thường, bất đắc dĩ.

Tuy nhiên, dù tâm trạng có chút buồn, tâm hồn nhà thơ vẫn mở rộng để cảm nhận, giao hòa với thiên nhiên, đất trời và cuộc sống. Cảnh vật hiện ra trong bức tranh cảnh ngày hè của thi nhân vừa gần gũi, vừa sinh động và giàu sức sống:

Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

Thi nhân xưa đến với thiên nhiên thường bằng bút pháp vịnh, ở đây Nguyễn Trãi lại thiên về bút pháp tả. Một loạt những hình ảnh hiện lên trong bức tranh cảnh ngày hè: những cây hòe tán lá xanh trổ hết lớp này đến lớp khác che rợp cả không gian, khi những cây lựu bên hiên còn phun những bông hoa màu đỏ thắm thì sen hồng trong ao đã kịp nức mùi hương. Bức tranh cảnh ngày hè trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng xuất hiện hình ảnh hoa lựu:

Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông

Câu thơ của Nguyễn Du thiên về gợi hình sắc, câu thơ của Nguyễn Trãi lại thiên về tả sức sống. Những động từ mạnh: đùn đùn, giương, phun, tiễn kết hợp với phép tương thành đối đã diễn tả được sức sống đang căng tràn trong thiên nhiên, tạo vật. Mặc dù thời gian đã cuối ngày nhưng thiên nhiên không úa tàn mà bừng bừng sức sống. Dường như có một cái gì đó đang thôi thúc tự bên trong, đang ứa căng, đang tràn đầy, không kìm nén được nên phải đùn, phải giương, phải phun ra hết lớp này đến lớp khác. Cây cối đua nhau trổ dáng, khoe sắc, tỏa hương; cảnh vật thiên nhiên không ở trạng thái tĩnh mà chuyển động, thay đổi bất ngờ, mỗi lúc một mới lạ. Nhà thơ đã mở rộng tâm hồn mình để giao hòa với thiên nhiên, tạo vật.

Không chỉ cảm nhận, đón nhận thiên nhiên bằng thị giác, khứu giác; Nguyễn Trãi còn dùng cả thính giác và sự liên tưởng, tưởng tượng của tâm hồn để đón nhận thiên nhiên và cuộc sống ngày hè:

Lao xao chợ cả làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

Phép tương thành đối tiếp tục được sử dụng trong hai câu thơ kết hợp với phép đảo ngữ, ẩn dụ và từ láy tượng thanh gợi ấn tượng về một cuộc sống đông vui, nhộn nhịp. Âm thanh người mua kẻ bán lao xao của buổi chợ chiều từ một làng xa vọng lại ; tiếng ve râm ran, inh ỏi như tiếng đàn. Bức tranh thiên nhiên, cuộc sống ngày hè có sự kết hợp, hòa phối của cả màu sắc, ánh sáng, âm thanh theo quy luật của cái đẹp trong hội họa, âm nhạc. Cảnh ngày hè có ánh chiều bảng lảng dát trên tán lá xanh, có màu đỏ thắm của hoa lựu, màu hồng và hương thơm nức của hoa sen trong ao, có âm thanh náo nức của cuộc sống và cả cảnh sinh hoạt đời thường của nhân dân. Nguyễn Trãi từng viết Non nước cùng ta đã có duyên, rồi Túi thơ chứa hết mọi giang san. Quả thực, phải có lòng yêu thiên nhiên tha thiết, một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm lắm mới có thể cảm nhận được một bức tranh ngày hè đẹp đến thế, sinh động và tràn trề sức sống đến thế.

Nguyễn Trãi yêu tha thiết thiên nhiên, tạo vật nhưng tình yêu lớn nhất, sâu sắc nhất, đậm đà nhất trong con người ông lại dành cho cuộc sống của nhân dân. Ông từng trả lời vua Lê Thái Tông : “Hòa bình là cái gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Dám mong bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân khiến cho chốn thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận, oán sầu, đó là giữ được cái gốc của nhạc vậy”. Trong bài thơ này, trước bức tranh thiên nhiên và cuộc sống ngày hè, thi nhân có một ước mong thật đáng trân trọng:

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đòi phương

Câu thơ sử dụng điển cố Ngu cầm. Xưa kia vua Ngu Thuấn có cây đàn gảy khúc Nam phong mong mưa thuận gió hòa để đời sống nhân dân no ấm. Nay Nguyễn Trãi ước có được cây đàn của vua Ngu Thuấn gảy khúc Nam phong mong mưa thuận gió hòa cho nhân dân khắp nơi được no đủ. Quả là một ước mong vừa nhân văn vừa rất nghệ sĩ. Bài thơ mở đầu bằng một câu thơ lục ngôn, kết thúc cũng là một câu lục ngôn. Nhịp thơ 3/3 trong câu thơ kết đã dồn nén tư tưởng, cảm xúc của cả bài: tấm lòng ưu ái, yêu thương, lo lắng cho cuộc sống của nhân dân. Trong bài Tự thán (bài số 10), Nguyễn Trãi viết:

Ngoài chưng phần ấy cầu đâu nữa

Cầu một: ngồi coi đời thái bình.

Nhà thơ cũng tâm sự: “Nương thân dưới mái nhà tranh tưởng yên lúc tuổi già. Nhưng cứ nghĩ tới đám dân xanh đầu lòng lại phải lo trước”. Lý tưởng dân giàu nước mạnh luôn canh cánh trong lòng thi nhân. Con người ấy thân có thể nhàn nhưng tâm không nhàn. Ta hiểu vì sao cái nhàn của thi nhân trong bài thơ là cái nhàn bất đắc dĩ. Ta cũng hiểu vì sao khi được vua tin dùng, Nguyễn Trãi lại như con ngựa già rong ruổi, hăm hở lên kinh thành. Tất cả là vì lí tưởng trí quân trạch dân, vì tấm lòng ưu dân ái quốc.

Như vậy, điểm kết tụ ở hồn thơ Nguyễn Trãi không phải ở thiên nhiên, cảnh vật mà ở cuộc sống của nhân dân; mong ước ấm no, hạnh phúc đến với nhân dân. Nằm trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình), ở bài thơ này, Nguyễn Trãi đã lấy lẽ sống vì dân vì nước của vua Ngu Thuấn làm tấm gương để răn mình. Đó cũng là lời nhắn nhủ chân thành, tâm huyết của một vị quan trọn một đời lo cho dân cho nước đến nhà vua. Mong nhà vua hãy chăm lo đến nhân dân như vua Nghiêu, vua Thuấn để nhân dân được hạnh phúc, đất nước được thái bình:

Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn

Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền.

Bảo kính cảnh giới (bài số 43) là bài thơ tả cảnh sắc đặc trưng của mùa hè và là nhân tình sinh cảnh. Đằng sau bức tranh ngày hè sinh động, tràn trề sức sống, người đọc thấy được một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế, yêu thiên nhiên tha thiết và tấm lòng ưu dân ái quốc của thi nhân. Đúng như Xuân Diệu đã nhận xét: “Cảnh vật trong thơ Nguyễn Trãi là cảnh vật đầy tư tưởng. Cảnh vật từ tư tưởng mà ra. Nguyễn Trãi thở bằng phong cảnh, tỏ tình bằng phong cảnh, không bắt nó thành non bộ của mình, tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này”. Với Bảo kính cảnh giới (bài số 43) nói riêng và Quốc âm thi tập nói chung, Nguyễn Trãi đã đưa thơ ca trung đại từ khuynh hướng trang nhã về với xu hướng bình dị, gắn bó với đời sống nhân dân.


Câu 1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao.

Câu 3:

– Biện pháp tu từ liệt kê: Một mai, một cuốc, một cần câu.

– Tác dụng:

+ Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa cho lời thơ.

+ Nhấn mạnh: sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả – chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn; vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham danh vọng, phú quý…

Câu 4:

Quan niệm khôn – dại của tác giả:

– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi tĩnh tại của thiên nhiên, thảnh thơi của tâm hồn.

– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.

=> Đó là một cách nói ngược: khôn mà khôn dại, dại mà dại khôn của tác giả.

=>Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.

Câu 5:

– Là người sống giản dị, thanh bạch.

– Là người có trí tuệ, cốt cách thanh cao.

– Là người bản lĩnh: coi thường danh lợi.

Câu 1 :

Nghệ thuật lập luận trong "Chiếu cầu hiền tài" là minh chứng cho trí tuệ lỗi lạc và tư duy chính trị sắc bén của Nguyễn Trãi. Trước hết, bài chiếu xác định rõ mục đích và đối tượng là chiêu mộ những người có tài đức về giúp việc triều chính, hướng tới tầng lớp sĩ phu và những người tài còn ẩn dật trong nhân dân. Để thuyết phục đối tượng này, Nguyễn Trãi đã xây dựng một bố cục rõ ràng với logic cực kỳ chặt chẽ. Tác giả bắt đầu bằng việc xác lập một chân lý mang tính nguyên tắc: việc đầu tiên của một bậc minh quân khi trị vì thiên hạ chính là cầu người hiền. Ngay sau đó, ông đưa ra hàng loạt dẫn chứng lịch sử từ thời Hán, Đường như Tiêu Hà tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến Trần Bình... làm cơ sở thực tiễn vững chắc, chứng minh rằng sự hưng thịnh của một triều đại luôn song hành với sự tiến cử và trọng dụng nhân tài.Tiếp đến, sức mạnh của bài chiếu nằm ở cách thức lập luận linh hoạt và các chính sách cầu hiền cụ thể. Nguyễn Trãi không chỉ dừng lại ở lý lẽ suông mà ban hành những quy định thiết thực: từ việc các đại thần phải có trách nhiệm tiến cử đến việc cho phép người tài được "tự tiến" (tự đề đạt bản thân). Việc dẫn dụ các điển tích như Mạo Toại hay Nịnh Thích đã khéo léo xóa bỏ tâm lý e ngại "đem ngọc bán rao" của kẻ sĩ, cho thấy sự trân trọng và tấm lòng cầu thị tuyệt đối của triều đình. Giọng điệu bài chiếu vừa hùng hồn, uy nghiêm của một bậc thiên tử, vừa chân thành, tha thiết của một người "sớm khuya lo sợ như gần vực sâu" vì chưa tìm được người giúp nước. Chính sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dẫn chứng xác thực, lý lẽ đanh thép và tình cảm chân thành đã tạo nên sức thuyết phục mạnh mẽ, khiến "Chiếu cầu hiền tài" trở thành một áng văn nghị luận mẫu mực, có giá trị quy tụ lòng người để xây dựng quốc gia Đại Việt hưng thịnh.


Câu 2:

Thân Nhân Trung - một danh sĩ nổi tiếng dưới thời nhà Trần đã từng khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp”. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp thêm nguyên khí. Thời đại ngày nay, hiện tượng “chảy máu chất xám” đang “báo động” ở nước ta, trở thành vấn đề thách thức với sự phát triển và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Hiện tượng “chảy máu chất xám” là cách gọi ẩn dụ để chỉ tình trạng mất đi nguồn lực nhân tài, trí thức, có năng lực, trình độ khi họ quyết định làm việc và định cư ở nước ngoài. Chảy máu chất xám khiến các quốc gia, ngành công nghiệp và tổ chức mất đi một phần cốt lõi là những cá nhân có giá trị của quốc gia mình. Một bộ phận nhân lực, trí thức tài giỏi, có năng lực của Việt Nam đang dần có xu hướng định cư và làm việc, phục vụ cho lợi ích của nước ngoài thay vì cống hiến cho dân tộc. Ngày nay có một lực lượng đông đảo người lao động Việt Nam có học thức, có trình độ đang làm việc, cống hiến ở nước ngoài thay vì về nước. Tình trạng “thất thoát” nhân tài làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu hụt nhân tài trầm trọng, từ đó ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Hằng năm đất nước ta phải chi một loạt số tiền khủng để mời các chuyên gia từ nước ngoài về làm việc. Việt Nam là quốc gia có nhiều nhân tài nhưng luôn phải đối diện với tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực, phải mời từ những nơi khác.

“Hiền tài thời nào cũng có”, thế nhưng đáng buồn thay, xã hội hiện đại đã có rất nhiều người tài từ chối làm việc ở Việt Nam để cống hiến cho một đất nước hiện đại, phát triển hơn. Nguyên nhân của tình trạng “chảy máu chất xám” cần được nhìn nhận dựa trên hai mặt chủ quan và khách quan. Về mặt chủ quan, xuất phát từ mong muốn được sống được làm việc môi trường tốt, thu nhập cao để lo cho gia đình của mình. Họ muốn bản thân mình phát triển hơn về nhiều mặt, được phát huy tối đa năng lực bản thân mình. Hiện nay quá trình hội nhập quốc tế và tham gia vào các tổ chức như WTO, ASEAN đã mở cửa cơ hội cho việc chuyển dịch lao động giữa các quốc gia. Thế nhưng, người Việt Nam có xu hướng ra nước ngoài làm việc và không có ý định trở về quê hương. Đối diện với thực trạng ấy, nhà nước đã có những chính sách thu hút nhân tài song thực tế lại không đáp ứng được mong đợi. Quá trình học tập và phát triển ở nước ngoài giúp họ đạt được nhiều thành tựu nhưng khi về nước lại không tìm được vị trí phù hợp. Về mặt khách quan, chế độ đãi ngộ của nước ta cũng là một trong những lí do quan trọng ảnh hưởng đến sự lựa chọn nơi làm việc của mọi người. Mức lương tối thiểu tại Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và thường không hấp dẫn đối với những người trí thức trẻ, không đủ để đảm bảo cuộc sống tốt cho họ. Ngoài ra, sự phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam so với các quốc gia khác vẫn còn hạn chế, cản trở việc nghiên cứu và phát triển của các trí thức trẻ. Hệ thống giáo dục, cơ sở vật chất chưa được đầu tư, chưa thể đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên. Do đó, họ buộc phải đến những quốc gia phát triển để dễ dàng tiếp cận thành tựu khoa học kĩ thuật hơn. Hiện tượng “chảy máu chất xám” tại các quốc gia nghèo là một nguyên nhân quan trọng khiến khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng rõ rệt và gây ra những hậu quả khó lường đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Tình trạng thiếu hụt nhân tài cứ kéo dài từ năm này sang năm khác mà không thể nào tận dụng được tối đa nguồn lực của đất nước. Theo dữ liệu từ Cục Hợp tác Quốc tế, Bộ GD&ĐT cho thấy có khoảng 190.000 học sinh Việt đang du học ở nước ngoài. các quốc gia phổ biến bao gồm Úc (30.000), du học Mỹ (29.000), du học Canada (21.000), du học Anh (12.000), Trung Quốc (11.000). Mặc dù số lượng du học sinh giảm so với các năm trước, Việt Nam vẫn nằm trong top đầu về số lượng du học sinh tại các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Canada. Tình trạng học xong không trở về Việt nam sau khi du học ngày càng tăng, khoảng 70% du học sinh không muốn trở về. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lực chất lượng của Việt Nam. Nguồn chất xám bị chảy máu khiến kinh phí đào tạo của quốc gia không ngừng thất thoát. Hiện tượng này còn gây ra sự gián đoạn phát triển và thiệt hại lớn về kinh tế. Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu khoa học không có nhân lực thực hiện, thành tựu khoa học kĩ thuật không được phổ biến và ứng dụng. Việc các nhà khoa học sang làm việc cho nước ngoài cũng tác động xấu đến người dân và các giới tri thức khác trong nước. Đây là một sự lãng phí lớn về tài sản quốc gia, làm chậm tốc độ phát triển nền kinh tế. Song, hiện tượng “chảy máu chất xám” không phải diễn ra với toàn bộ nguồn lực nhân tài, trí thức, có năng lực, trình độ ở Việt Nam. Chúng ta vẫn có những người trẻ tuổi sẵn sàng từ bỏ cơ hội ở nước ngoài để cống hiến sức lực và trí lực cho Tổ quốc. Trần Thế Trung, cựu học sinh Trường THPT chuyên Phan Bội Châu (Nghệ An) được biết đến không chỉ là Nhà vô địch Đường lên đỉnh Olympia năm 2019 mà còn là học sinh đầu tiên mang về vòng nguyệt quế trận chung kết năm cho trường chuyên này, anh cũng được biết đến là quán quân đầu tiên của Olympia không đi du học Úc. Trong bài phỏng vấn với đài truyền hình, Trung đã phát biểu rất ấn tượng: “Học ở trong nước cũng không phải điều gì đó không tốt, thậm chí cơ hội thành công vẫn mở ra nếu mình cố gắng. Ở đâu cũng sẽ có cơ hội, quan trọng là mình có chủ động nắm lấy hay không”. Vì thế, có thể thấy rằng vẫn có rất nhiều những người tài giỏi, có năng lực, trí thức và trình độ ở Việt Nam đang ngày ngày cống hiến cho Tổ quốc. Thậm chí ngay cả những người Việt đang làm việc và định cư ở nước ngoài, họ vẫn một lòng hướng về Tổ quốc, lan tỏa nét văn hoá, trí tuệ Việt ra khắp thế giới. Họ là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong những thành tựu quan trọng mà đất nước ta đạt được ngày hôm nay có sự đóng góp vô cùng quý báu của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Là bộ phận không tách rời, là một nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam, kiều bào ta đồng thuận, ủng hộ sự nghiệp đổi mới và sẵn sàng chung tay, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước.


Để xây dựng một đất nước Việt Nam giàu đẹp, để những nhân tài nước Việt có điều kiện để phát huy tài năng thì nhà nước cần có những biện pháp để chiêu mộ hiền tài phù hợp, tạo được điều kiện làm việc để thu hút họ. Đất nước cần có những chính sách để khai thác tối đa nguồn lực của đất nước mình. Mặt khác mỗi người cũng cần phát huy tình yêu nước, tinh thần dân tộc để làm theo lời Bác, sẵn sàng cống hiến tài năng, sức lực để đưa đất nước đi lên. Có thể thấy, mặc dù các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp,... là môi trường vô cùng tốt để học tập và làm việc, thế nhưng đất nước ta mới chính là quê hương, là nơi đã nuôi dưỡng ta trưởng thành. Con đường học tập của tôi sau này còn rất dài và nhiều chông gai, tôi hiểu rằng mình cần nỗ lực trau dồi học tập, tu dưỡng đạo đức để ngày càng hoàn thiện bản thân. Đất nước mình đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách, mỗi người cần tự ý thức tình hình đất nước, nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Tôi hiểu rằng, quê hương mình đang cần những người trẻ như chúng ta, cần sức trẻ để cống hiến và phục vụ cho đất nước. Hãy lấy khát vọng cống hiến cho Tổ quốc làm lẽ sống của thanh niên. Hãy tận dụng tất cả những sức mạnh về thể lực cũng như trí lực để giúp quê hương mình ngày càng giàu mạnh, phát triển hơn.

Đất nước ta đã trải qua ngàn năm lịch sử, như Nguyễn Trãi cũng từng nói: “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”, ông cha ta đã biết dựa vào thế mạnh đó để xây dựng đất nước vững mạnh, trường tồn. Vậy nên, chúng ta cần có những biện pháp thiết thực, hiệu quả để giảm thiểu hiện tượng “chảy máu chất xám”, phát huy mạnh mẽ truyền thống trọng người hiền tài để đưa đất nước tiến lên, ngày càng phát triển và tiến bộ.

Câu 1 :

- Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Nghị luận.

Câu 2 :

- Chủ thể bài viết là Lê Lợi.

Câu 3 :

- Mục đích chính của văn bản: Chiêu dụ người tài đức về giúp việc triều chính.

- Các đường lối tiến cử hiền tài:

+ Các đại thần từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều cử một người tài.

+ Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.

+ Người có tài đức có thể tự tiến cử.

Câu 4 :

- Người viết đã đưa ra các dẫn chứng sau:

+ Thời xưa, dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, nên triều đại thịnh trị.

+ Các quan đời Hán Đường tiến cử người tài giúp nước, như Tiêu Hà tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.

- Nhận xét dẫn chứng:

+ Dẫn chứng được đưa ra phong phú, toàn diện, sắc sảo, từ cổ chí kim, từ gần tới xa.

+ Dẫn chứng hợp lí, xác đáng, là những chuyện có thực, đủ để minh chứng cho luận điểm một triều đại thịnh trị cần có người tài làm căn cơ.

Câu 5:

- Chủ thể bài viết có những phẩm chất sau:

+ Trọng người tài.

+ Khiêm nhường, biết lắng nghe ý kiến của dân, lấy dân làm trọng.

+ Anh minh, đưa ra được những chính sách sáng suốt vì dân vì nước.

Câu 1:

Trong kiệt tác "Người trong bao", văn hào Nga A. Sê-khốp đã xây dựng thành công nhân vật Bê-li-cốp – một điển hình nghệ thuật bất hủ về lối sống hèn nhát và giáo điều. Ngay từ những dòng giới thiệu đầu tiên, Bê-li-cốp hiện lên với một chân dung kỳ quái: lúc nào cũng đi giày cao su, cầm ô và mặc áo bành tô ấm cốt bông bất kể thời tiết. Mọi vật dụng cá nhân từ chiếc đồng hồ quả quýt đến chiếc dao gọt bút chì đều được hắn cẩn thận đặt trong "bao". Thậm chí, gương mặt hắn cũng lẩn khuất sau chiếc cổ áo bẻ đứng, mắt đeo kính râm và tai nhét bông. Diện mạo ấy không chỉ là sự lập dị về thời trang mà là biểu hiện của một tâm thế "nhắm mắt, bịt tai" trước cuộc đời, một khát vọng mãnh liệt muốn thu mình vào cái vỏ ốc để ngăn cách bản thân khỏi những ảnh hưởng của thế giới bên ngoài.Không chỉ dừng lại ở ngoại hình, cái "bao" của Bê-li-cốp còn lấn sâu vào nghề nghiệp và tư tưởng. Việc hắn chọn dạy tiếng Hy Lạp – một tử ngữ của quá khứ – chính là cách để hắn trốn tránh thực tại sinh động mà hắn cho là "khó chịu, ghê tởm". Trong tư duy, Bê-li-cốp tự giam mình trong những thông tư, chỉ thị và bài báo cấm đoán. Đối với hắn, thế giới chỉ an toàn khi mọi thứ nằm trong khuôn khổ của sự cho phép, còn những khát vọng hay suy nghĩ tự do đều là mối nguy hại. Lối sống của hắn là sự sợ hãi thường trực: ở nhà thì đóng cửa cài then, ngủ trùm chăn kín mít, và ngay cả việc đến thăm đồng nghiệp cũng chỉ là một "thủ tục" vô hồn để tránh bị dị nghị. Hắn ngồi im như phỗng suốt một giờ rồi cáo từ, biến sự giao tiếp thành một hành động soi mói và tự bảo vệ sự an toàn hạn hẹp của bản thân. Chính sự tồn tại của "người trong bao" Bê-li-cốp đã trở thành một bóng đen ám ảnh, khống chế cả trường học và thành phố suốt mười lăm năm trời. Sự hèn nhát của hắn có sức lan tỏa ghê gớm, khiến mọi người "sợ tất cả": sợ nói to, sợ đọc sách, sợ giúp đỡ người nghèo. Qua nhân vật này, Sê-khốp không chỉ phê phán một cá nhân bạc nhược mà còn lên án gay gắt bầu không khí ngột ngạt của xã hội Nga đương thời, nơi những cái "bao" vô hình đang bóp nghẹt sự sống và quyền tự do con người. Bằng nghệ thuật xây dựng biểu tượng độc đáo và giọng văn mỉa mai, tác giả đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh: "Không thể sống mãi như thế này được!".


Câu 2:

“Cuộc sống bắt đầu ở cuối vùng an toàn của bạn.” – Câu nói của Neale Donald Walsch như một lời nhắc nhở đầy ý nghĩa về tiềm năng và sự phát triển của mỗi cá nhân khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, đối mặt với những thử thách mới. Đối với học sinh, việc vượt qua vùng an toàn không chỉ là một lựa chọn, mà còn là một điều cần thiết để trưởng thành và phát triển toàn diện. Vậy, làm thế nào để các bạn học sinh có thể vượt qua vùng an toàn của bản thân? 

Vậy vùng an toàn là gì? Đó là một trạng thái tâm lý mà ở đó chúng ta cảm thấy an toàn, thoải mái và quen thuộc với những gì mình đang làm, đang có. Trong vùng an toàn, chúng ta không phải đối mặt với nhiều rủi ro hay thử thách, nhưng cũng đồng nghĩa với việc không có nhiều cơ hội để phát triển. Đối với học sinh, vùng an toàn có thể là việc chỉ học những môn học mình yêu thích, chỉ tham gia những hoạt động ngoại khóa quen thuộc, hay chỉ giao tiếp với những người bạn thân thiết. 

Hiện nay, nhiều người đang sống trong vùng an toàn của mình. Họ sợ hãi trước những điều mới mẻ, ngại thay đổi và không dám chấp nhận rủi ro. Điều này khiến họ bỏ lỡ nhiều cơ hội để học hỏi, trải nghiệm và phát triển bản thân. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc học sinh ngại vượt qua vùng an toàn. Một số nguyên nhân phổ biến bao gồm: sợ thất bại, thiếu tự tin và áp lực từ gia đình và xã hội. 

Nếu không vượt qua được vùng an toàn, chúng ta sẽ khó có thể phát triển toàn diện. Họ sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội để học hỏi, trải nghiệm và trưởng thành. Điều này có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp và cuộc sống của họ sau này. Tuy nhiên, một số người cho rằng sống trong vùng an toàn không có gì sai. Họ cho rằng việc này giúp họ có một cuộc sống ổn định và tránh được những rủi ro không đáng có. Tuy nhiên, quan điểm này không hoàn toàn đúng. Sống trong vùng an toàn quá lâu sẽ khiến chúng ta trở nên trì trệ và không có khả năng thích ứng với những thay đổi của cuộc sống. 

Vậy làm thế nào để vượt qua vùng an toàn? Trước hết, mỗi học sinh cần nhận thức rõ về vùng an toàn của chính mình và những lợi ích của việc vượt qua nó. Vùng an toàn là nơi chúng ta cảm thấy thoải mái, quen thuộc, nhưng cũng là nơi kìm hãm sự phát triển. Bằng cách tự vấn bản thân, tìm hiểu thông tin từ sách báo, internet hay chia sẻ với thầy cô, bạn bè, các bạn học sinh sẽ hiểu rõ hơn về bản thân và những tiềm năng còn ẩn giấu. Vượt qua vùng an toàn sẽ giúp chúng ta khám phá những khả năng tiềm ẩn, rèn luyện kỹ năng, tăng sự tự tin, sáng tạo và khả năng thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống. Thực tế đã chứng minh, những người dám chấp nhận thử thách thường có sự nghiệp thành công hơn. Điển hình như Elon Musk, người sáng lập SpaceX và Tesla, luôn đặt ra những mục tiêu táo bạo và không ngừng vượt qua giới hạn của bản thân. 

Tiếp theo, việc xác định mục tiêu rõ ràng và lập kế hoạch hành động cụ thể là vô cùng quan trọng. Hãy đặt ra những mục tiêu cụ thể, khả thi và có ý nghĩa với bản thân. Sau đó, lập kế hoạch chi tiết với các bước thực hiện, thời gian, nguồn lực cần thiết. Mục tiêu rõ ràng sẽ là động lực mạnh mẽ để chúng ta hành động, còn kế hoạch chi tiết sẽ giúp chúng ta từng bước vượt qua khó khăn, tránh nản lòng. Nhiều vận động viên đã gặt hái thành công nhờ đặt mục tiêu cụ thể và tập luyện theo kế hoạch bài bản. 

Bên cạnh đó, việc không ngừng học hỏi và phát triển các kỹ năng mới cũng là một yếu tố quan trọng. Các bạn học sinh có thể tìm hiểu, học hỏi những kiến thức, kỹ năng mới thông qua sách vở, internet, các khóa học trực tuyến/trực tiếp, tham gia các hoạt động ngoại khóa. Kiến thức và kỹ năng mới sẽ mở ra những cơ hội mới, giúp chúng ta tự tin hơn khi đối mặt với thử thách. Bill Gates, người đồng sáng lập Microsoft, luôn không ngừng học hỏi và cập nhật kiến thức mới, điều này đã giúp ông trở thành một trong những người thành công nhất thế giới. 

Một yếu tố không thể thiếu trong hành trình vượt qua vùng an toàn là đối mặt với nỗi sợ hãi và chấp nhận thất bại. Hãy nhận diện nỗi sợ hãi của bản thân và từng bước đối mặt với chúng. Coi thất bại là bài học kinh nghiệm, rút ra những bài học quý giá và tiếp tục cố gắng. Sợ hãi là rào cản lớn nhất ngăn cản chúng ta vượt qua vùng an toàn, và chấp nhận thất bại sẽ giúp chúng ta trưởng thành hơn. J.K. Rowling, tác giả của bộ truyện Harry Potter nổi tiếng, đã bị từ chối nhiều lần trước khi tìm được nhà xuất bản. Bà đã không bỏ cuộc và cuối cùng đã đạt được thành công vang dội. 

Bản thân tôi cũng đã từng trải qua giai đoạn sống trong vùng an toàn. Tôi sợ hãi trước những điều mới mẻ và không dám thử sức mình. Tuy nhiên, sau khi nhận ra những hạn chế của mình, tôi đã quyết tâm thay đổi. Tôi bắt đầu tham gia những hoạt động ngoại khóa mới, làm quen với những người bạn mới và thử sức mình ở những lĩnh vực khác nhau. Nhờ đó, tôi đã học hỏi được rất nhiều điều mới mẻ và phát triển bản thân một cách toàn diện. 

Vượt qua vùng an toàn bản thân là một thử thách không nhỏ, nhưng là điều cần thiết để mỗi người chúng ta có thể phát huy hết tiềm năng của mình. Là học sinh, chúng ta cần dũng cảm đối mặt với những khó khăn và thử thách, không ngừng học hỏi và trải nghiệm để trưởng thành. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể đạt được những thành công trong cuộc sống. 

Câu 1 :

- Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Tự sự.

Câu 2 :

Nhân vật trung tâm của đoạn trích là Bê-li-cốp.

Câu 3 :

- Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất.

- Tác dụng:

+ Tăng tính chân thực, khách quan: Người kể là nhân vật trực tiếp chứng kiến và sống cùng Bê-li-cốp nên câu chuyện có độ tin cậy cao.

+ Thể hiện rõ thái độ, cảm xúc của người kể (vừa châm biếm, vừa phê phán, vừa ngán ngẩm).

+ Góp phần làm nổi bật bầu không khí ngột ngạt, sợ hãi bao trùm cả trường học và thành phố.

Câu 4 :

- Những chi tiết miêu tả chân dung Bê-li-cốp:

+ Đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông. Ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta nữa dường như cũng ở trong bao vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên.

+ Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông.

- Nhan đề đoạn trích được đặt là Người trong bao vì:

+ Tất cả những đồ vật của Bê-li-cốp đều được đặt trong những cái bao kín.

+ Ngay cả chính bản thân Bê-li-cốp cũng tự ẩn mình vào trong những cái “bao”, cắt đi mọi giao cảm với đời.

+ Chiếc bao là ẩn dụ cho việc không dám bước ra khỏi vòng an toàn của mình.

Câu 5 :

- Bài học rút ra từ đoạn trích: Phải sống dũng cảm, hết mình, dám chấp nhận tổn thương.

- Vì: Nếu cứ giấu mình, chúng ta sẽ không bao giờ có thể phát triển, và rộng ra, cả xã hội sẽ bị chậm lại theo.

Câu 1:

Trong nền văn học Việt Nam, Nguyễn Quang Sáng thường được biết đến với những trang viết đậm chất Nam Bộ và lòng nhân đạo sâu sắc.Truyện ngắn "Con chim vàng" của nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một tác phẩm đầy ám ảnh, phơi bày tấn bi kịch về số phận bất hạnh của những đứa trẻ nghèo khổ và sự lạnh lùng, vô cảm đến tột cùng của tầng lớp chủ nô trong xã hội cũ. Tác phẩm xoay quanh nhân vật Bào, một cậu bé mười hai tuổi vì món nợ hai thúng thóc của mẹ mà phải đi ở đợ trừ nợ cho nhà thằng Quyên. Tại đây, tính mạng và nhân phẩm của Bào bị rẻ rúng đến mức không bằng một con chim vàng – món đồ chơi tiêu khiển của cậu chủ nhỏ.Xuyên suốt đoạn trích, hình ảnh nhân vật Bào hiện lên thật đáng thương nhưng cũng đầy cao đẹp. Dù mới mười hai tuổi, độ tuổi lẽ ra được cắp sách đến trường, Bào đã phải gánh trên vai gánh nặng nợ nần, chịu đựng sự chửi mắng, đánh đập dã man từ bà chủ. Dẫu bị đối xử tàn nhẫn, Bào vẫn giữ được bản chất hồn nhiên, thật thà; em không trộm cắp chuối mà chỉ xin làm mồi nhử chim, thậm chí còn hết lòng, mạo hiểm cả tính mạng trèo lên cành cây trứng cá mong manh để bắt bằng được con chim vàng cho cậu chủ. Đối lập hoàn toàn với sự hy sinh của Bào là mẹ con thằng Quyên. Nếu thằng Quyên hiện lên là một cậu chủ nhỏ được cưng chiều đến ích kỷ, thì bà mẹ lại là hiện thân của sự hống hách và tàn độc. Bà ta coi khinh Bào, coi em là kẻ lừa gạt và sẵn sàng dùng đòn roi để ép uổng một đứa trẻ vào chỗ nguy hiểm. Đỉnh điểm của bi kịch là phân cảnh Bào ngã từ trên cây xuống, "máu và nước mắt đầm đìa cả mặt". Trong cơn mê sảng, cánh tay Bào "với tới, với mãi" tìm kiếm một sự cứu giúp, nhưng đáp lại em chỉ là sự ghẻ lạnh rợn người. Bàn tay của mẹ thằng Quyên thò xuống không phải để nâng đỡ đứa trẻ đang thoi thóp, mà là để nhấc xác con chim vàng đã chết. Tiếng tắc lưỡi: "Trời! Con chim vàng của con tôi chết rồi!" như một nhát dao chí mạng, khẳng định sự vô cảm đáng sợ của những kẻ có địa vị. Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế và ngôi kể thứ ba khách quan, Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện niềm đồng cảm thiết tha với những kiếp người mất quyền tự do, đồng thời lên án đanh thép sự tàn nhẫn của xã hội đương thời. Tác phẩm khép lại nhưng dư âm về nỗi đau của Bào vẫn còn mãi, nhắc nhở chúng ta về giá trị của tình người trong cuộc sống.


Câu 2:

Nhà văn Victor Hugo trong tác phẩm kinh điển “Những người khốn khổ” đã từng viết “Trên đời này chỉ có một việc duy nhất, đó là yêu thương nhau, thế thôi” quả đúng như vậy, tình yêu thương là một trong những loại tình cảm thuần khiết nhất, tốt đẹp nhất trong xã hội loài người. Trong đời sống cần có lòng yêu thương giữa người với người, thế mới làm nên một xã hội tốt đẹp, văn minh, một thế giới hòa bình và đáng sống. Thế nên, tôi hoàn toàn đồng tình với ý kiến “ Tình yêu thương là một phần tất yếu của cuộc sống".

Tình yêu thương hiểu đơn giản là tình cảm bao dung, thực lòng muốn cho đối phương điều tốt đẹp nhất, muốn người khác được hạnh phúc, vui vẻ. Không có một giới hạn nhất định hay một chuẩn mực nào có thể đánh giá và khoanh vùng được tình thương. Đó có thể là sự kính yêu con cái dành cho cha mẹ, sự tôn trọng của học sinh đối với giáo viên, cũng có thể là sự đồng cảm với những người vô gia cư, những mảnh đời bất hạnh, sự yêu quí đối với con vật nuôi lâu năm; hay trên hết là tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương, đất nước. Không ai có thể cầm, nắm, hay định giá được tình yêu thương, thế nhưng, nó vẫn ở đó, vẫn hiện hữu một cách rất tự nhiên trong cuộc sống thường ngày. Chỉ đơn giản là một cái ôm giữa những người bạn lâu năm không gặp, một gói xôi, cái bánh dành cho những người ăn xin, hay một ly nước cam mẹ pha trong những ngày ôn thi áp lực,.. Đó chính là lòng yêu thương, giản dị, gần gũi nhưng không có thứ gì cân đo đong đếm được.

“Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng”, câu hát nổi tiếng trong bài hát Để gió cuốn đi của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn đã phần nào khẳng định lại tầm quan trọng của tình yêu thương trong cuộc sống của mỗi con người. Nó giúp chúng ta biết học cách cho đi để được nhận lại, giúp mọi người hiểu được giá trị thực sự của cuộc sống. Tình yêu thương giúp ta tìm thấy sự an nhiên, bình yên tuyệt diệu trong tâm hồn. Hơn thế, yêu thương còn có thể cảm hóa những con người đang lầm đường lạc lối, đưa họ ra ánh sáng để làm lại cuộc đời. Lòng yêu thương còn là liều thuốc tinh thần vô giá cho chúng ta, nó có thể biến những ngày u buồn, tăm tối nhất trở nên nhẹ nhàng hơn, cho ta thời gian ngừng lại để cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống.

Lòng yêu thương có thể nhìn thấy ở khắp mọi nơi, dù là biểu hiện nhỏ nhất trong đời sống. Từ sự tử tế của em nhỏ khi dắt cụ già qua đường đến những chương trình thiện nguyện đã và đang được tổ chức trên khắp đất nước, đâu đâu cũng hiện diện tình thương, lòng bao dung, trắc ẩn giữa người với người. Năm 2021, khi đại dịch Covid-19 bùng nổ, biết bao hoạt động từ thiện, bao mái ấm tình thương đã được xuất hiện để giúp đỡ cho những người lao động khó khăn, những mảnh đời bất hạnh và cả những em bé mồ côi cha mẹ trong đại dịch thế kỉ. Ngoài ra, còn có các chương trình từ thiện như “Mùa hè xanh”, “Nấu ăn cho em”... đã giúp đưa con chữ, tri thức, đưa thức ăn đến với các em nhỏ vùng sâu vùng xa không có điều kiện tiếp cận những công nghệ mới. Và còn biết bao nhiêu hoạt động, biết bao nhiêu nhà hảo tâm, mạnh thường quân luôn sẵn sàng giúp đỡ những hoàn cảnh túng thiếu, khó khăn khắp nơi. Đó là những minh chứng rõ nét nhất cho việc tình yêu thương thật sự là một gia vị không thể thiếu trong cuộc sống.

Nhà văn Macxim Gorki từng phát biểu: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi thiếu vắng tình thương”, quả đúng như là như vậy. Có bao giờ bạn tự hỏi, một thế giới thiếu vắng tình thương sẽ như thế nào? Đó chỉ là một hành tinh lạnh lẽo tràn đầy những con người mang trong mình những toan tính, thù hận; sẽ chẳng còn tiếng cười nào cất lên, chẳng còn những ấm áp mà tình thương mang lại, để rồi dẫn đến kết cục là nền văn minh của nhân loại sẽ dần đi đến bờ vực lụi tàn và sụp đổ mãi mãi. Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay lại không thiếu những bộ phận vô cảm, họ là những con người đi ngược lại với luân thường đạo lý, truyền thống, chuẩn mực của xã hội, chỉ biết nghĩ đến lợi ích của bản thân mà chẳng màng đến cảm xúc, suy nghĩ của người khác. Họ cho rằng tiền tài, danh vọng, địa vị mới là thứ quan trọng nhất; thế nhưng những thứ ấy chẳng phải sẽ qua đi, và thứ còn đọng lại duy nhất vẫn là tình người? Những con người ích kỉ, thực dụng ấy cho rằng mình đã có tất cả nhưng thật ra lại chẳng có gì. Vì tình yêu thương là thứ giúp con người được đánh gia cao hơn những loài động vật khác. Mất đi tình thương, chúng ta há chẳng phải là những bộ máy bằng xương thịt vô tri vô giác hay sao?

  Yêu thương có vai trò vô cùng quan trọng và to lớn trong cuộc sống hiện nay. Con người có thể thiếu nhiều thứ, nhưng không bao giờ có thể sống và tồn tại nếu thiếu tình thương. Chúng ta phải chấp nhận một thực tế rằng: nếu con người biết thương yêu nhau, sẽ chẳng còn ai phải ao ước xa vời về thế giới trong mơ nữa. Vậy nên, hãy cứ để : “Tình yêu thương là ngọn lửa hồng trong mùa đông giá lạnh”


Câu 1:

Trong nền văn học Việt Nam, Nguyễn Quang Sáng thường được biết đến với những trang viết đậm chất Nam Bộ và lòng nhân đạo sâu sắc.Truyện ngắn "Con chim vàng" của nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một tác phẩm đầy ám ảnh, phơi bày tấn bi kịch về số phận bất hạnh của những đứa trẻ nghèo khổ và sự lạnh lùng, vô cảm đến tột cùng của tầng lớp chủ nô trong xã hội cũ. Tác phẩm xoay quanh nhân vật Bào, một cậu bé mười hai tuổi vì món nợ hai thúng thóc của mẹ mà phải đi ở đợ trừ nợ cho nhà thằng Quyên. Tại đây, tính mạng và nhân phẩm của Bào bị rẻ rúng đến mức không bằng một con chim vàng – món đồ chơi tiêu khiển của cậu chủ nhỏ.Xuyên suốt đoạn trích, hình ảnh nhân vật Bào hiện lên thật đáng thương nhưng cũng đầy cao đẹp. Dù mới mười hai tuổi, độ tuổi lẽ ra được cắp sách đến trường, Bào đã phải gánh trên vai gánh nặng nợ nần, chịu đựng sự chửi mắng, đánh đập dã man từ bà chủ. Dẫu bị đối xử tàn nhẫn, Bào vẫn giữ được bản chất hồn nhiên, thật thà; em không trộm cắp chuối mà chỉ xin làm mồi nhử chim, thậm chí còn hết lòng, mạo hiểm cả tính mạng trèo lên cành cây trứng cá mong manh để bắt bằng được con chim vàng cho cậu chủ. Đối lập hoàn toàn với sự hy sinh của Bào là mẹ con thằng Quyên. Nếu thằng Quyên hiện lên là một cậu chủ nhỏ được cưng chiều đến ích kỷ, thì bà mẹ lại là hiện thân của sự hống hách và tàn độc. Bà ta coi khinh Bào, coi em là kẻ lừa gạt và sẵn sàng dùng đòn roi để ép uổng một đứa trẻ vào chỗ nguy hiểm. Đỉnh điểm của bi kịch là phân cảnh Bào ngã từ trên cây xuống, "máu và nước mắt đầm đìa cả mặt". Trong cơn mê sảng, cánh tay Bào "với tới, với mãi" tìm kiếm một sự cứu giúp, nhưng đáp lại em chỉ là sự ghẻ lạnh rợn người. Bàn tay của mẹ thằng Quyên thò xuống không phải để nâng đỡ đứa trẻ đang thoi thóp, mà là để nhấc xác con chim vàng đã chết. Tiếng tắc lưỡi: "Trời! Con chim vàng của con tôi chết rồi!" như một nhát dao chí mạng, khẳng định sự vô cảm đáng sợ của những kẻ có địa vị. Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế và ngôi kể thứ ba khách quan, Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện niềm đồng cảm thiết tha với những kiếp người mất quyền tự do, đồng thời lên án đanh thép sự tàn nhẫn của xã hội đương thời. Tác phẩm khép lại nhưng dư âm về nỗi đau của Bào vẫn còn mãi, nhắc nhở chúng ta về giá trị của tình người trong cuộc sống.


Câu 2:

Nhà văn Victor Hugo trong tác phẩm kinh điển “Những người khốn khổ” đã từng viết “Trên đời này chỉ có một việc duy nhất, đó là yêu thương nhau, thế thôi” quả đúng như vậy, tình yêu thương là một trong những loại tình cảm thuần khiết nhất, tốt đẹp nhất trong xã hội loài người. Trong đời sống cần có lòng yêu thương giữa người với người, thế mới làm nên một xã hội tốt đẹp, văn minh, một thế giới hòa bình và đáng sống. Thế nên, tôi hoàn toàn đồng tình với ý kiến “ Tình yêu thương là một phần tất yếu của cuộc sống".

Tình yêu thương hiểu đơn giản là tình cảm bao dung, thực lòng muốn cho đối phương điều tốt đẹp nhất, muốn người khác được hạnh phúc, vui vẻ. Không có một giới hạn nhất định hay một chuẩn mực nào có thể đánh giá và khoanh vùng được tình thương. Đó có thể là sự kính yêu con cái dành cho cha mẹ, sự tôn trọng của học sinh đối với giáo viên, cũng có thể là sự đồng cảm với những người vô gia cư, những mảnh đời bất hạnh, sự yêu quí đối với con vật nuôi lâu năm; hay trên hết là tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương, đất nước. Không ai có thể cầm, nắm, hay định giá được tình yêu thương, thế nhưng, nó vẫn ở đó, vẫn hiện hữu một cách rất tự nhiên trong cuộc sống thường ngày. Chỉ đơn giản là một cái ôm giữa những người bạn lâu năm không gặp, một gói xôi, cái bánh dành cho những người ăn xin, hay một ly nước cam mẹ pha trong những ngày ôn thi áp lực,.. Đó chính là lòng yêu thương, giản dị, gần gũi nhưng không có thứ gì cân đo đong đếm được.

“Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng”, câu hát nổi tiếng trong bài hát Để gió cuốn đi của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn đã phần nào khẳng định lại tầm quan trọng của tình yêu thương trong cuộc sống của mỗi con người. Nó giúp chúng ta biết học cách cho đi để được nhận lại, giúp mọi người hiểu được giá trị thực sự của cuộc sống. Tình yêu thương giúp ta tìm thấy sự an nhiên, bình yên tuyệt diệu trong tâm hồn. Hơn thế, yêu thương còn có thể cảm hóa những con người đang lầm đường lạc lối, đưa họ ra ánh sáng để làm lại cuộc đời. Lòng yêu thương còn là liều thuốc tinh thần vô giá cho chúng ta, nó có thể biến những ngày u buồn, tăm tối nhất trở nên nhẹ nhàng hơn, cho ta thời gian ngừng lại để cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống.

Lòng yêu thương có thể nhìn thấy ở khắp mọi nơi, dù là biểu hiện nhỏ nhất trong đời sống. Từ sự tử tế của em nhỏ khi dắt cụ già qua đường đến những chương trình thiện nguyện đã và đang được tổ chức trên khắp đất nước, đâu đâu cũng hiện diện tình thương, lòng bao dung, trắc ẩn giữa người với người. Năm 2021, khi đại dịch Covid-19 bùng nổ, biết bao hoạt động từ thiện, bao mái ấm tình thương đã được xuất hiện để giúp đỡ cho những người lao động khó khăn, những mảnh đời bất hạnh và cả những em bé mồ côi cha mẹ trong đại dịch thế kỉ. Ngoài ra, còn có các chương trình từ thiện như “Mùa hè xanh”, “Nấu ăn cho em”... đã giúp đưa con chữ, tri thức, đưa thức ăn đến với các em nhỏ vùng sâu vùng xa không có điều kiện tiếp cận những công nghệ mới. Và còn biết bao nhiêu hoạt động, biết bao nhiêu nhà hảo tâm, mạnh thường quân luôn sẵn sàng giúp đỡ những hoàn cảnh túng thiếu, khó khăn khắp nơi. Đó là những minh chứng rõ nét nhất cho việc tình yêu thương thật sự là một gia vị không thể thiếu trong cuộc sống.

Nhà văn Macxim Gorki từng phát biểu: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi thiếu vắng tình thương”, quả đúng như là như vậy. Có bao giờ bạn tự hỏi, một thế giới thiếu vắng tình thương sẽ như thế nào? Đó chỉ là một hành tinh lạnh lẽo tràn đầy những con người mang trong mình những toan tính, thù hận; sẽ chẳng còn tiếng cười nào cất lên, chẳng còn những ấm áp mà tình thương mang lại, để rồi dẫn đến kết cục là nền văn minh của nhân loại sẽ dần đi đến bờ vực lụi tàn và sụp đổ mãi mãi. Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay lại không thiếu những bộ phận vô cảm, họ là những con người đi ngược lại với luân thường đạo lý, truyền thống, chuẩn mực của xã hội, chỉ biết nghĩ đến lợi ích của bản thân mà chẳng màng đến cảm xúc, suy nghĩ của người khác. Họ cho rằng tiền tài, danh vọng, địa vị mới là thứ quan trọng nhất; thế nhưng những thứ ấy chẳng phải sẽ qua đi, và thứ còn đọng lại duy nhất vẫn là tình người? Những con người ích kỉ, thực dụng ấy cho rằng mình đã có tất cả nhưng thật ra lại chẳng có gì. Vì tình yêu thương là thứ giúp con người được đánh gia cao hơn những loài động vật khác. Mất đi tình thương, chúng ta há chẳng phải là những bộ máy bằng xương thịt vô tri vô giác hay sao?

  Yêu thương có vai trò vô cùng quan trọng và to lớn trong cuộc sống hiện nay. Con người có thể thiếu nhiều thứ, nhưng không bao giờ có thể sống và tồn tại nếu thiếu tình thương. Chúng ta phải chấp nhận một thực tế rằng: nếu con người biết thương yêu nhau, sẽ chẳng còn ai phải ao ước xa vời về thế giới trong mơ nữa. Vậy nên, hãy cứ để : “Tình yêu thương là ngọn lửa hồng trong mùa đông giá lạnh”


Câu 1 :

Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Tự sự.

Câu 2 :

Tình huống truyện: Quyên - con trai của chủ gia đình mà Bào ở đợ bắt Bào phải bắt bằng được con chim vàng cho nó.

Câu 3 :

- Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất.

- Tác dụng:

+ Thể hiện được rõ ràng suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật.

+ Giúp câu chuyện được kể một cách chân thực, hấp dẫn.

Câu 4 :

- Chi tiết đặc sắc, giàu giá trị, cho thấy được sự lạnh lùng, thờ ơ đến vô tâm, tàn nhẫn của lòng người trước tình cảnh đáng thương của người khác.

- Cho thấy được số phận bi thảm, thân phận rẻ rúng của những con người thấp cổ bé họng trong xã hội xưa, họ còn không bằng con chim bé nhỏ kia.

- Qua đó còn thể hiện được sự thương xót của nhà văn với những con người nghèo khổ trong xã hội.

Câu 5 :

- Hình ảnh nhân vật Bảo:

+ Thân phận bất hạnh, đáng thương: Mười hai tuổi phải trả món nợ của gia đình (hai thúng thóc); không được quan tâm, chăm sóc, luôn bị bà chủ chửi mắng, đánh đập; mạo hiểm hi sinh bản thân để đáp ứng mong muốn bắt con chim vàng của cậu chủ,…

+ Là một cậu bé hồn nhiên, hết lòng vì chủ: Qua giọng điệu bảo cậu chủ đi lấy chuối để gài bẫy bắt chim vàng.

- Thái độ của tác giả qua hình tượng nhân vật Bào:

+ Đồng cảm, xót thương cho số phận của những đứa trẻ nghèo, bất hạnh mất quyền tự do.

+ Trân trọng, ngợi ca những đức tính quý giá của nhân vật Bào: Dù nghèo khổ nhưng không trộm cắp, hết lòng phục vụ nhà chủ,…

Câu 1:

Trong thế giới tinh vi và hàm súc của Haiku, bài thơ của thi sĩ Kobayashi Issa hiện lên như một bức tranh thủy mặc về sự giao thoa kinh điển giữa cái hữu hạn và cái vô hạn. Chỉ với vài lát cắt ngôn từ, Issa đã tạc nên một nghịch lý đầy duy mỹ:

"Đẹp vô cùng

nhìn qua cửa giấy rách

ô kìa sông Ngân".

Hình ảnh "cửa giấy rách" vốn là biểu tượng của sự nghèo nàn, cũ nát và những khiếm khuyết của đời sống thường nhật. Thế nhưng, qua lăng kính của một tâm hồn duy cảm, vết rách ấy không còn là dấu ấn của sự bần hàn mà trở thành một "khe hở tâm linh", một ống kính vạn hoa mở ra đại lộ dẫn tới "sông Ngân" huyền ảo. Đúng như nhận định: "Nghệ thuật không phải là trốn tránh sự thực, mà là tìm thấy ánh sáng ngay trong những đổ nát". Cái tinh tế của Issa nằm ở tiếng reo vui "ô kìa" – một sự ngỡ ngàng thuần khiết khi phát hiện ra rằng vũ trụ vĩnh hằng có thể được thu trọn trong lòng một thực tại rách nát. Nguyễn Trãi trong bài thơ " Thuật hứng 24" khi ông viết về cuộc sống nơi lều cỏ:

"Hàu hì hì chẳng khác nhà lều

Cúc mọc dưới chân, thông mọc đầu",

ta thấy một sự đồng điệu kỳ lạ giữa hai tâm hồn lớn. Cả hai vị hiền triết đều chứng minh rằng: hoàn cảnh có thể nghèo nàn, nhưng nhãn quan thẩm mỹ thì luôn lộng lẫy. Bài thơ của Issa không chỉ là một phác thảo thiên nhiên mà còn mang đậm tinh thần Wabi-sabi của Nhật Bản – tôn trọng vẻ đẹp của những điều không hoàn hảo. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, nếu ta biết chấp nhận những "vết rách" của số phận bằng một tâm thế bình thản, ta sẽ thấy cả dải ngân hà vẫn luôn lấp lánh ngay trên đỉnh đầu, cứu rỗi những tâm hồn biết hy vọng và trân trọng cái đẹp thầm lặng.

Câu 2:

Trong guồng quay hối hả của nền kinh tế thị trường, khi những giá trị vật chất lên ngôi, chúng ta thường nghe thấy lời tặc lưỡi đầy quyền năng: "Có tiền mua tiên cũng được". Câu nói ấy, từ một lời cửa miệng, dường như đã trở thành một thứ "đức tin" mù quáng dẫn dắt lối sống của không ít người. Tuy nhiên, nếu dừng lại một nhịp để chiêm nghiệm, ta sẽ thấy đồng tiền dù lấp lánh đến đâu cũng không thể khỏa lấp được những khoảng trống tâm hồn hay mua được những giá trị nhân bản cốt lõi.

Tiền là phương tiện để con người mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ và định giá cho tài sản của chính mình. Tiền vô cùng quan trọng và có ảnh hưởng lớn lao đối với cuộc sống của con người. "Có tiền mua tiên cũng được" : sức mạnh chi phối của đồng tiền đối với cuộc sống con người. Tiền sẽ giúp con người mua được nhiều vật chất khác nhau trong cuộc sống. Tuy nhiên ở một khía cạnh nào đó, câu nói này có phần không đúng đắn vì tiền khó có thể mua được những giá trị tinh thần của con người.

"Có tiền mua tiên cũng được" là một quan niệm tuyệt đối hóa vai trò của tiền bạc, cho rằng sức mạnh của đồng tiền là vô hạn, có thể xoay chuyển mọi quy luật và đổi chác được mọi giá trị, kể cả những giá trị đạo đức hay tâm linh. Thế nhưng, thực tế lại đang phơi bày một bộ mặt khác đầy xót xa. Hiện nay, một bộ phận bạn trẻ đang trượt dài trong lối sống thực dụng. Chúng ta không khó để bắt gặp những sinh viên bỏ tiền thuê người học hộ, thi hộ, hay thậm chí là mua bằng giả để trang hoàng cho bản thân một cái vỏ tri thức rỗng tuếch. Ở bậc phổ thông, không ít học sinh coi việc dùng tiền "thuê" bạn làm bài tập hay chép bài là điều hiển nhiên. Đáng báo động hơn, thói coi trọng đồng tiền quá mức đã dẫn đến những hành vi thiếu chuẩn mực, những lời nói thô lỗ với người lao động nghèo hay thái độ hống hách vì tự cho mình quyền "thượng đẳng" nhờ túi tiền dày.

Hệ quả của tư duy này thật khôn lường. Nó không chỉ hình thành thói ỷ lại, triệt tiêu động lực phấn đấu mà còn khiến con người trở nên nghèo nàn về kiến thức và kĩ năng. Khi tin rằng tiền có thể mua được tất cả, người ta dần trở nên vô cảm, coi thường đạo lý và làm xói mòn các mối quan hệ xã hội. Đúng như nhà văn Oscar Wilde từng nhận định đầy chua chát: "Ngày nay con người biết giá cả của mọi thứ nhưng chẳng biết giá trị của thứ gì". Một chiếc bằng đại học có thể mua được bằng tiền, nhưng trí tuệ và sự tôn trọng của đồng nghiệp thì không. Một vị trí cao sang có thể đổi bằng vật chất, nhưng uy tín và tầm vóc của một nhân cách thì tuyệt đối không có nhãn giá.

Dẫn chứng đau xót nhất có lẽ là câu chuyện về những người giàu có nhưng cô đơn trên đỉnh cao danh vọng. Tỷ phú Steve Jobs trong những ngày cuối đời trên giường bệnh đã để lại lời nhắn nhủ lay động: "Bạn có thể thuê người lái xe cho bạn, kiếm tiền cho bạn, nhưng không ai có thể chịu khổ thay cho bạn khi bạn gặp bạo bệnh". Tiền có thể mua được một chiếc giường sang trọng nhất thế giới, nhưng không mua được giấc ngủ ngon; mua được thuốc tốt nhất nhưng không mua được sự sống trường tồn.

Chúng ta cần hiểu rằng, tiền bạc vốn dĩ là một "đầy tớ" tốt nhưng là một "ông chủ" tồi. Để từ bỏ quan niệm lệch lạc này, mỗi gia đình cần tạo ra những sợi dây gắn kết chân thành hơn. Những bữa cơm gia đình đầm ấm, sự chia sẻ khó khăn không vụ lợi sẽ giúp chúng ta nhận ra tình cảm mới là thứ ánh sáng rực rỡ nhất sưởi ấm cuộc đời. Đừng để đồng tiền "mua" mất bản ngã và sự tử tế của chính mình.

Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận hoàn toàn giá trị của tiền bạc. Trong xã hội hiện đại, tiền là phương tiện thiết yếu để bảo đảm cuộc sống và tạo điều kiện cho sự phát triển. Tuy nhiên, điều quan trọng là chúng ta phải giữ cho tâm thế luôn tỉnh táo: dùng tiền như một công cụ để kiến tạo hạnh phúc chứ không phải biến mình thành nô lệ cho sự giàu sang rỗng tuếch.

Khép lại những suy tư, chúng ta cần khắc ghi bài học: hạnh phúc đích thực không nằm ở độ dày của ví tiền mà nằm ở độ sâu của tâm hồn. Hãy sống sao cho khi "tiền hết", chúng ta vẫn còn lại một giá trị con người rực rỡ và những tình cảm chân thành không gì có thể đánh đổi.