NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 (Đoạn văn khoảng 200 chữ)
Nhân vật “tôi” trong đoạn trích là một cậu bé có trí tưởng tượng phong phú và tâm hồn nhạy cảm. Ngay từ nhỏ, cậu đã say mê hội họa và vẽ nên bức tranh con trăn đang nuốt con voi. Tuy nhiên, những người lớn lại không hiểu ý nghĩa của bức tranh mà chỉ cho rằng đó là hình một chiếc mũ. Điều này khiến cậu bé thất vọng và dần từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ. Qua đó, nhân vật “tôi” hiện lên là người có trí tưởng tượng độc đáo nhưng không được người lớn thấu hiểu. Sự khác biệt trong cách nhìn nhận thế giới giữa trẻ em và người lớn đã khiến cậu bé cảm thấy cô đơn. Nhân vật “tôi” đại diện cho thế giới của trẻ em – nơi tràn đầy sự sáng tạo, mơ mộng và cảm nhận tinh tế. Qua hình ảnh này, tác giả muốn nhắn nhủ rằng người lớn cần biết lắng nghe và tôn trọng trí tưởng tượng của trẻ em, bởi đó chính là nguồn gốc của sự sáng tạo và những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản
→ Ngôi kể thứ nhất (nhân vật xưng “tôi”).
Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì?
→ Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ con trăn đang nuốt con voi (bức vẽ số một và bức vẽ số hai).
Câu 3. Vì sao người lớn bảo cậu bé chú trọng học các môn văn hóa thay vì vẽ?
→ Vì người lớn không hiểu ý nghĩa bức tranh của cậu bé, họ chỉ nhìn thấy một cái mũ chứ không nhận ra con trăn nuốt con voi. Do đó họ cho rằng vẽ vời không quan trọng và khuyên cậu bé tập trung học các môn như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp.
Câu 4. Những người lớn trong văn bản được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì?
Người lớn được miêu tả:
Thiếu trí tưởng tượng.
Chỉ nhìn sự vật theo cách đơn giản, bề ngoài.
Không hiểu thế giới tưởng tượng của trẻ em.
Nhận xét:
Họ khô khan, thực tế quá mức, ít quan tâm đến trí tưởng tượng và sáng tạo của trẻ em.
Câu 5. Bài học rút ra từ văn bản
→ Văn bản cho thấy cần tôn trọng trí tưởng tượng và sự sáng tạo của trẻ em. Mỗi người cũng nên giữ cho mình tâm hồn hồn nhiên, biết nhìn thế giới bằng sự tưởng tượng và cảm nhận sâu sắc, không nên chỉ nhìn mọi thứ một cách khô cứng.
Câu 1
Bài thơ " Cảm tưởng đọc Thiên gia thi " thể hiện quan niệm mới mẻ của tác giả về thơ ca.Hai câu thơ đầu gợi ra đặc điển của thơ ca cổ điển khi thường hướng tới vẻ đẹp của thiên nhiên với những hình ảnh quen thuộc như núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió. Đó là những đề tài quen thuộc trong thơ ca xưa, thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên và cảm hứng thẩm mĩ của thi nhân.Tuy nhiên,ở hai câu thơ sau, tác giả đã bày tỏ quan điểm của mình về thơ ca trong thời đại mới. Theo tác giả, thơ ca không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh đẹp mà còn phản ánh hiện thực đời sống , thể hiện tinh thần chiến đấu của thời đại. Nhà thơ cũng cần có trách nhiệm vvỡiax hội phải biết " xung phong" đi đầu trong việc cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân.Qua đó, bài thơ khẳng định vai trò của thơ ca đối với cuộc sống và thể hiện tư tưởng tiến bộ về chức năng xã hội văn học.
Câu 1
Thể thơ Thất nngôn tứ tuyệt Đường Luật
Câu 2
Định luật của bài thơ : Thất ngôn tứ tuyệt luật bằng
Câu 3
Biện pháp tu từ liệt kê : "Núi, sông, khói, hóa, tuyết, trăng, gió"
Tác dụng
- Gợi lên hàng loạt hình ảnh thiên nhiên quen thuộc trong thơ ca cổ điển
- Làm nổi bật đặc điểm thơ xưa : thường thiên về miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên
Câu 4
Vì: Thời đại lúc bấy giờ đất nước đang gặp nhiều khó khăn, cần đấu tranh giành độc lập
Thơ ca không chỉ để thưởng ngoạn cái đẹp mà phải phản ảnh hiện thực, phục vụ cách mạng
Nhà thơ cần có tinh thần tiên phong,dùng thơ ca cổ vũ nhân dân đấu tranh
Câu 5
Hai câu đầu : Nhận xét về thơ ca xưa - thiên về tả cảnh thiên nhiên
Hai câu sau : Nêu quan điểm về thơ ca hiện đại - phải gắn với hiện thực, có tinh thần chiến đấu
=> Cấu tứ chặt chẽ, rõ ràng, có sự đối lập giữa thơ xưa và nay, làm nổi bật tư tưởng đổi mới của tác giả về chức năng thơ ca
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ.
Câu 2.
Nhịp thơ linh hoạt, phổ biến là 3/3/2 hoặc 4/4, tạo âm điệu trầm buồn, da diết. Việc lặp lại câu “Yêu, là chết ở trong lòng một ít” tạo nhịp điệu ám ảnh, nhấn mạnh cảm xúc đau đớn trong tình yêu.
Câu 3.
- Đề tài: tình yêu đôi lứa.
- Chủ đề: Bài thơ thể hiện quan niệm của Xuân Diệu về tình yêu: yêu là dâng hiến hết mình nhưng thường đi kèm với tổn thương, cô đơn và nỗi buồn vì không phải lúc nào tình cảm cũng được đáp lại.
Câu 4.
Hình ảnh tượng trưng tiêu biểu là “Yêu, là chết ở trong lòng một ít.”
→ Đây là ẩn dụ sâu sắc. “Chết” không phải mất đi sự sống mà là sự hao hụt, đau đớn trong tâm hồn khi yêu. Khi yêu, con người trao đi nhiều cảm xúc, nhiều hi sinh; nếu không được đáp lại trọn vẹn sẽ cảm thấy mất mát.
→ Hình ảnh này thể hiện quan niệm tình yêu mãnh liệt nhưng đầy bất an của nhà thơ, đồng thời tạo giọng điệu day dứt, ám ảnh cho toàn bài.
Câu 5.
Văn bản khiến em nhận ra tình yêu là một tình cảm đẹp nhưng cũng rất mong manh. Yêu giúp con người biết sống hết mình, biết cho đi, nhưng cũng có thể đem lại nỗi buồn nếu thiếu sự thấu hiểu và đáp lại. Vì vậy, mỗi người cần yêu chân thành nhưng cũng nên tỉnh táo, biết trân trọng bản thân và tình cảm của người khác. Bài thơ còn giúp em cảm nhận rõ hồn thơ Xuân Diệu: nồng nàn, say đắm và giàu suy tư về trái tim con người.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ.
Câu 2.
Nhịp thơ linh hoạt, phổ biến là 3/3/2 hoặc 4/4, tạo âm điệu trầm buồn, da diết. Việc lặp lại câu “Yêu, là chết ở trong lòng một ít” tạo nhịp điệu ám ảnh, nhấn mạnh cảm xúc đau đớn trong tình yêu.
Câu 3.
- Đề tài: tình yêu đôi lứa.
- Chủ đề: Bài thơ thể hiện quan niệm của Xuân Diệu về tình yêu: yêu là dâng hiến hết mình nhưng thường đi kèm với tổn thương, cô đơn và nỗi buồn vì không phải lúc nào tình cảm cũng được đáp lại.
Câu 4.
Hình ảnh tượng trưng tiêu biểu là “Yêu, là chết ở trong lòng một ít.”
→ Đây là ẩn dụ sâu sắc. “Chết” không phải mất đi sự sống mà là sự hao hụt, đau đớn trong tâm hồn khi yêu. Khi yêu, con người trao đi nhiều cảm xúc, nhiều hi sinh; nếu không được đáp lại trọn vẹn sẽ cảm thấy mất mát.
→ Hình ảnh này thể hiện quan niệm tình yêu mãnh liệt nhưng đầy bất an của nhà thơ, đồng thời tạo giọng điệu day dứt, ám ảnh cho toàn bài.
Câu 5.
Văn bản khiến em nhận ra tình yêu là một tình cảm đẹp nhưng cũng rất mong manh. Yêu giúp con người biết sống hết mình, biết cho đi, nhưng cũng có thể đem lại nỗi buồn nếu thiếu sự thấu hiểu và đáp lại. Vì vậy, mỗi người cần yêu chân thành nhưng cũng nên tỉnh táo, biết trân trọng bản thân và tình cảm của người khác. Bài thơ còn giúp em cảm nhận rõ hồn thơ Xuân Diệu: nồng nàn, say đắm và giàu suy tư về trái tim con người.
Câu 1
Việc bảo tồn các di tích lịch sử của dân tộc hiện nay là một nhiệm vụ vô cùng cấp bách và cần thiết. Di tích lịch sử không chỉ là dấu tích vật chất. Di tích lịch sử không chỉ là dấu tích vật chất của quá khứ mà còn là nơi lưu giữ kí ức bản sắc và niềm tự hào của mỗi quốc gia.Tuy nhiên trong quá trình phát triển và đô thị hóa nhanh chóng, nhiều di tích đang bị xuống cấp, xâm hại và lãng quên. Điều đó đòi hỏi mỗi cá nhân và toàn xã hội phải nâng cao ý thức gìn giữ. Nhag nước cần có chính sách đầu tư, trùng tu khoa học, tránh làm mất giá trị nguyên gốc của di tích. Đồng thời việc tuyên truyền giáo dục cho thế hệ trẻ về ý nghĩa của các di sản cũng rất quan trọng để hình thành trách nhiệm bảo vệ lâu dài. . Bản thân mỗi người dân, đặc biệt là người trẻ, cần ứng xử văn minh khi tham quan, không xả rác, không phá hoại cảnh quan. Bảo tồn di tích lịch sử chính là gìn giữ cội nguồn và truyền lại những giá trị quý báu cho mai sau.
câu 2
Bài thơ " Đồng dao cho người lớn" của Nguyễn Trọng Tạo là một tiếng nói suy tư giàu tính triết lý về cuộc đời và con người trong xã hội hiện đại. Qua hình thức như một bài đồng dao quen thuộc mà lạ hóa, tác giả gửi gắm những chiêm nghiệm sâu sắc về nghịch lí của đời sống và khát vọng gìn giữ vẻ đẹp con người.
Trước hết, bàu thơ gây ấn tượng bởi việc phơi bày hàng loạt nghích lí của đời sống. Ngay từ hai câu mở đầu: “có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi / có con người sống mà như qua đời”, nhà thơ đã đặt người đọc trước những đối lập đầy ám ảnh. Hình ảnh “cánh rừng chết vẫn xanh” gợi sức sống của ký ức và niềm tin bên trong con người; ngược lại, “con người sống mà như qua đời” lại gợi một thực trạng đáng buồn: có những con người tồn tại về thể xác nhưng tâm hồn đã nguội lạnh. Những cặp câu tiếp theo tiếp tục mở ra một thế giới đầy nghịch lí: “có câu trả lời biến thành câu hỏi”, “có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới”, “có cha có mẹ có trẻ mồ côi”… Tác giả như đang điểm danh những bất ổn, những đảo lộn giá trị trong đời sống. Qua đó, bài thơ thể hiện cái nhìn tỉnh táo, giàu suy tư về thực tại nhiều phức tạp.
Không chỉ dừng ở việc phản ánh nghịch lí, bài thơ còn hiện lên nỗi xót xa trước những mất mát con người. Những hình ảnh như “có cả đất trời mà không nhà cửa”, “có vui nho nhỏ có buồn mênh mông” cho thấy sự chênh lệch giữa cái con người có và cái con người thiếu. Giữa một thế giới rộng lớn, con người vẫn có thể cô đơn, thiếu chỗ dựa tinh thần. Nỗi buồn trong bài thơ không bi lụy mà thấm thía, mang màu sắc chiêm nghiệm về thân phận.
Tuy nhiên, điểm sáng của bài thơ là niềm tin vào sức sống bền bỉ của đời sống và tâm hồn con người. Điệp cấu trúc “mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ / mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió” vang lên như một lời khẳng định. Dù cuộc đời còn nhiều nghịch lí, dòng chảy của sự sống vẫn tiếp diễn, thiên nhiên vẫn xanh tươi, tâm hồn vẫn tự do như gió. Câu kết “có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi” gợi cảm nhận sâu sắc về thời gian: đời người ngắn ngủi, vì thế càng cần sống có ý nghĩa và nhân văn hơn. Qua đó, bài thơ không rơi vào bi quan mà hướng người đọc tới sự thức tỉnh.
Về nghệ thuật, tác phẩm mang nhiều nét đặc sắc. Trước hết là thể thơ tự do với nhịp điệu ngắn, đều, tạo âm hưởng gần với đồng dao dân gian nhưng nội dung lại dành cho người trưởng thành suy ngẫm. Biện pháp điệp cấu trúc “có…”, “mà…” được sử dụng xuyên suốt, vừa tạo nhịp điệu, vừa nhấn mạnh tính chất liệt kê các nghịch lí của đời sống. Ngôn ngữ thơ giản dị mà giàu sức gợi, nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng. Đặc biệt, nghệ thuật đối lập được vận dụng hiệu quả, làm nổi bật những mâu thuẫn và chiều sâu triết lí của bài thơ.
Tóm lại, Đồng dao cho người lớn là một bài thơ giàu suy tưởng về con người và cuộc đời. Bằng giọng điệu vừa hồn nhiên vừa thấm thía, cùng những thủ pháp nghệ thuật độc đáo, Nguyễn Trọng Tạo đã gửi đến người đọc lời nhắc nhở sâu sắc: giữa bao nghịch lí của đời sống, con người cần giữ gìn tâm hồn tỉnh thức và sống trọn vẹn từng khoảnh khắc của mình.
Câu 1
Việc bảo tồn các di tích lịch sử của dân tộc hiện nay là một nhiệm vụ vô cùng cấp bách và cần thiết. Di tích lịch sử không chỉ là dấu tích vật chất. Di tích lịch sử không chỉ là dấu tích vật chất của quá khứ mà còn là nơi lưu giữ kí ức bản sắc và niềm tự hào của mỗi quốc gia.Tuy nhiên trong quá trình phát triển và đô thị hóa nhanh chóng, nhiều di tích đang bị xuống cấp, xâm hại và lãng quên. Điều đó đòi hỏi mỗi cá nhân và toàn xã hội phải nâng cao ý thức gìn giữ. Nhag nước cần có chính sách đầu tư, trùng tu khoa học, tránh làm mất giá trị nguyên gốc của di tích. Đồng thời việc tuyên truyền giáo dục cho thế hệ trẻ về ý nghĩa của các di sản cũng rất quan trọng để hình thành trách nhiệm bảo vệ lâu dài. . Bản thân mỗi người dân, đặc biệt là người trẻ, cần ứng xử văn minh khi tham quan, không xả rác, không phá hoại cảnh quan. Bảo tồn di tích lịch sử chính là gìn giữ cội nguồn và truyền lại những giá trị quý báu cho mai sau.
câu 2
Bài thơ " Đồng dao cho người lớn" của Nguyễn Trọng Tạo là một tiếng nói suy tư giàu tính triết lý về cuộc đời và con người trong xã hội hiện đại. Qua hình thức như một bài đồng dao quen thuộc mà lạ hóa, tác giả gửi gắm những chiêm nghiệm sâu sắc về nghịch lí của đời sống và khát vọng gìn giữ vẻ đẹp con người.
Trước hết, bàu thơ gây ấn tượng bởi việc phơi bày hàng loạt nghích lí của đời sống. Ngay từ hai câu mở đầu: “có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi / có con người sống mà như qua đời”, nhà thơ đã đặt người đọc trước những đối lập đầy ám ảnh. Hình ảnh “cánh rừng chết vẫn xanh” gợi sức sống của ký ức và niềm tin bên trong con người; ngược lại, “con người sống mà như qua đời” lại gợi một thực trạng đáng buồn: có những con người tồn tại về thể xác nhưng tâm hồn đã nguội lạnh. Những cặp câu tiếp theo tiếp tục mở ra một thế giới đầy nghịch lí: “có câu trả lời biến thành câu hỏi”, “có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới”, “có cha có mẹ có trẻ mồ côi”… Tác giả như đang điểm danh những bất ổn, những đảo lộn giá trị trong đời sống. Qua đó, bài thơ thể hiện cái nhìn tỉnh táo, giàu suy tư về thực tại nhiều phức tạp.
Không chỉ dừng ở việc phản ánh nghịch lí, bài thơ còn hiện lên nỗi xót xa trước những mất mát con người. Những hình ảnh như “có cả đất trời mà không nhà cửa”, “có vui nho nhỏ có buồn mênh mông” cho thấy sự chênh lệch giữa cái con người có và cái con người thiếu. Giữa một thế giới rộng lớn, con người vẫn có thể cô đơn, thiếu chỗ dựa tinh thần. Nỗi buồn trong bài thơ không bi lụy mà thấm thía, mang màu sắc chiêm nghiệm về thân phận.
Tuy nhiên, điểm sáng của bài thơ là niềm tin vào sức sống bền bỉ của đời sống và tâm hồn con người. Điệp cấu trúc “mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ / mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió” vang lên như một lời khẳng định. Dù cuộc đời còn nhiều nghịch lí, dòng chảy của sự sống vẫn tiếp diễn, thiên nhiên vẫn xanh tươi, tâm hồn vẫn tự do như gió. Câu kết “có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi” gợi cảm nhận sâu sắc về thời gian: đời người ngắn ngủi, vì thế càng cần sống có ý nghĩa và nhân văn hơn. Qua đó, bài thơ không rơi vào bi quan mà hướng người đọc tới sự thức tỉnh.
Về nghệ thuật, tác phẩm mang nhiều nét đặc sắc. Trước hết là thể thơ tự do với nhịp điệu ngắn, đều, tạo âm hưởng gần với đồng dao dân gian nhưng nội dung lại dành cho người trưởng thành suy ngẫm. Biện pháp điệp cấu trúc “có…”, “mà…” được sử dụng xuyên suốt, vừa tạo nhịp điệu, vừa nhấn mạnh tính chất liệt kê các nghịch lí của đời sống. Ngôn ngữ thơ giản dị mà giàu sức gợi, nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng. Đặc biệt, nghệ thuật đối lập được vận dụng hiệu quả, làm nổi bật những mâu thuẫn và chiều sâu triết lí của bài thơ.
Tóm lại, Đồng dao cho người lớn là một bài thơ giàu suy tưởng về con người và cuộc đời. Bằng giọng điệu vừa hồn nhiên vừa thấm thía, cùng những thủ pháp nghệ thuật độc đáo, Nguyễn Trọng Tạo đã gửi đến người đọc lời nhắc nhở sâu sắc: giữa bao nghịch lí của đời sống, con người cần giữ gìn tâm hồn tỉnh thức và sống trọn vẹn từng khoảnh khắc của mình.
câu 1
a) Những bài học cơ bản của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc (1945 - nay)
Trải qua các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới, chúng ta có thể đúc kết 5 bài học "xương máu" sau đây:
- Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng: Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Đảng đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo và phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn.
- Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc: Thực hiện đúng lời dạy của Bác Hồ: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công". Sức mạnh của nhân dân là bức tường thành vững chãi nhất.
- Nghệ thuật quân sự "Chiến tranh nhân dân": Toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Kết hợp giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao; kết hợp giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy.
- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: Tranh thủ sự ủng hộ của các nước anh em, các lực lượng tiến bộ trên thế giới để tạo ra vị thế thuận lợi cho cách mạng Việt Nam.
- Tinh thần tự lực tự cường: Dựa vào sức mình là chính, không ỷ lại, đồng thời chủ động tiếp thu khoa học kỹ thuật và sự giúp đỡ quốc tế để hiện đại hóa lực lượng quốc phòng.
b) Trách nhiệm của học sinh trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo
Dù vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường, bạn hoàn toàn có thể đóng góp những hành động thiết thực và ý nghĩa. Bảo vệ chủ quyền không chỉ là cầm súng, mà còn là bảo vệ bằng trí tuệ và trái tim:
1. Học tập và nâng cao nhận thức
- Chủ động tìm hiểu: Nắm vững kiến thức lịch sử, địa lý về biển đảo (đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) và các cơ sở pháp lý như Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982).
- Hiểu đúng luật: Phân biệt được các vùng biển của Việt Nam để có cái nhìn đúng đắn trước các luồng thông tin trên mạng xã hội.
2. Tuyên truyền và lan tỏa
- Sử dụng mạng xã hội thông minh: Chia sẻ những hình ảnh đẹp, thông tin chính thống về biển đảo quê hương.
- Lên tiếng đúng lúc: Phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc về chủ quyền lãnh thổ trên không gian mạng một cách văn minh và có căn cứ.
3. Hành động thiết thực tại địa phương
- Bảo vệ môi trường: Tham gia các phong trào làm sạch biển (nếu ở vùng ven biển) hoặc đơn giản là giảm thiểu rác thải nhựa để bảo vệ hệ sinh thái biển chung của Tổ quốc.
- Tham gia các phong trào hướng về biển đảo: Như cuộc vận động "Nghĩa tình biên giới, hải đảo", viết thư gửi các chiến sĩ Trường Sa, đóng góp quỹ "Vì biển đảo quê hương".
4. Rèn luyện bản thân
Nỗ lực học tập để sau này có thể đóng góp trí tuệ vào công cuộc xây dựng kinh tế biển, đưa Việt Nam trở thành quốc gia "mạnh về biển, giàu từ biển".
câu 2
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định
- Từ khủng hoảng đến phát triển: Trước năm 1986, nền kinh tế lạm phát phi mã (có lúc lên tới 774%). Sau Đổi mới, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,5% - 7%/năm trong suốt nhiều thập kỷ.
- Quy mô nền kinh tế: GDP không ngừng tăng lên. Việt Nam đã thoát khỏi nhóm nước nghèo và trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp từ năm 2010.
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại
- Giảm nông nghiệp, tăng công nghiệp và dịch vụ: Tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp giảm dần; trong khi tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng mạnh.
- Hình thành kinh tế thị trường: Chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các thành phần kinh tế (tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài - FDI) được khuyến khích phát triển mạnh mẽ bên cạnh kinh tế nhà nước.
3. Thành tựu rực rỡ trong xuất khẩu và sản xuất lương thực
- An ninh lương thực: Từ một nước phải nhập khẩu gạo, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo, cà phê, hạt điều, thủy sản hàng đầu thế giới.
- Kim ngạch xuất nhập khẩu: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng phi mã. Nhiều mặt hàng công nghiệp như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may đã chiếm vị thế lớn trên thị trường quốc tế.
4. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) mạnh mẽ
- Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các tập đoàn đa quốc gia (Samsung, Intel, LG, Apple...). Nguồn vốn FDI đóng góp quan trọng vào chuyển giao công nghệ, tạo việc làm và tăng nguồn thu ngân sách.
5. Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng
- Việt Nam đã thiết lập quan hệ kinh tế với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ.
- Tham gia các tổ chức quốc tế lớn: ASEAN (1995), WTO (2007), APEC.
- Ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP), mở ra cánh cửa thông thương rộng lớn cho hàng hóa Việt Nam.
Câu 1:
- Vẻ đẹp trong tâm hồn con người và vẻ đẹp của thiên nhiên trong truyện ngắn "Muối của rừng"
Câu 2:
- Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.
Câu 3:
- Mối quan hệ chặt chẽ:
+Nhan đề " Vẻ đẹp của sự lương thiện" bao quát được nội dung chính của văn bản. Nhan đề đã khái quát được quá trình chuyển biến từ hành động "hướng thiện" của nhân vật ông Diểu. Hành động ấy thể hiệnver đẹp trong tâm hồn ông Diểu.
Câu 4:
- Biện pháp tu từ: Liệt kê "chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông "
- Tác dụng: Tăng sức gợi hình gợi cảm, giúp người đọc hình dung một cách toàn diện và sinh động về không gian rừng núi.
Câu 5:
- Mục đích của người viết: Khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của hướng thiện trong tâm hồn của con người và vẻ đẹp của thiên nhiên. Kêu gọi nhận thức về trách nhiệm bảo vệ môi trường tự nhiên.
Bài 2
Câu 1
Hình ảnh " Muối của rừng " trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp gợi lên một ý nghĩa nhân văn sâu sắc.Đó không chỉ là loài hoa trắng hiếm hoi, vị mặn, nở ba mươi năm một lần, mà còn là biểu tượng cho sự tinh khiết, bao dung và lòng nhân ái của tự nhiên.Khi ông Diểu tha chết cho con khỉ, rừng liền " kết muối " như phần thưởng cho tấm lòng nhân hậu." Muối của rừng "chính là phần tinh túy mà thiên nhiên ban tặng cho người biết sống tử tế, biết yêu thương.Giữa một xã hội đầy toan tính, vị mặn của lương tri và tình người càng trở nên thắm thiết.Con người chỉ thật sự thanh thản khi giữ được cho mình một tâm hồn trong sáng,biết trân trọng sự sống quanh mình.Thông điệp mà Nguyễn Huy Thiệp gửi gắm qua " muối của rừng" là lời nhắc nhở: hãy sống nhân nghĩa, hoà bình với thiên nhiên, vì đó chính là nền tảng của hạnh phúc và bình yên