NGUYỄN THẢO VY
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
- Văn bản thuộc ngôi kể thứ 1
Câu 2:
- Kiệt tác của cậu bé là hình ảnh con trăn nuốt chửng một con voi
Câu 3:
- Người lớn khuyên cậu bé nên tập trung vào các môn văn hoá vì:
+ Họ không hiểu sâu bức tranh cậu vẽ và nghĩ nó vô nghĩa
+ Người lớn hiểu lầm kiệt tác của cậu
+ Phải giảng thì người lớn mới hiểu nhưng cũng bị họ phất lờ
Câu 4:
- Người lớn trong văn bản được miêu tả:
+ Không hiểu bức tranh nhân vật tôi vẽ
+ Không thấy gì đặc sắc về các bức tranh của cậu
+ Khuyên cậu nên tập trung vào các môn văn hoá thay vì vẽ
+ Không có trí tưởng tượng phong phú
=> Từ đây, em thấy người lớn chưa thực sự hiểu sâu về mọi thứ, họ chỉ nhìn vẻ bên ngoài mà không suy nghĩ sâu về mọi thứ.
Câu 5:
- Qua văn bản, em rút ra được bài học là:
+ Hãy giữ cho mình sự lạc quan, hồn nhiên, trí tưởng tượng, ta sẽ luôn tìm thấy niềm vui trong đó
Câu 2:
Nhà thơ Ý Giacomo Leopardi từng nói: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.” Câu nói này đã gợi lên nhiều suy ngẫm sâu sắc về cách con người nhìn nhận thế giới và giá trị của cuộc sống.
Trước hết, câu nói muốn nhấn mạnh sự khác biệt trong cách nhìn nhận cuộc sống giữa trẻ em và người lớn. Trẻ em thường có trí tưởng tượng phong phú và tâm hồn trong sáng, vì vậy chúng có thể tìm thấy niềm vui trong những điều rất nhỏ bé. Một món đồ chơi đơn giản, một cánh diều bay trên bầu trời hay một buổi chiều chơi đùa cùng bạn bè cũng có thể mang lại niềm hạnh phúc lớn lao đối với trẻ nhỏ. Ngược lại, khi con người trưởng thành, họ phải đối mặt với nhiều áp lực của cuộc sống như công việc, trách nhiệm và những lo toan thường ngày. Chính vì thế, đôi khi người lớn trở nên thực tế hơn và dần mất đi khả năng cảm nhận niềm vui từ những điều giản dị.
Câu nói của Leopardi cũng nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự lạc quan và trí tưởng tượng. Khi còn nhỏ, con người thường nhìn thế giới bằng đôi mắt đầy tò mò và hứng thú. Nhưng khi lớn lên, nhiều người lại quá bận rộn với những mục tiêu vật chất mà quên đi những niềm vui giản dị trong cuộc sống. Điều này khiến cuộc sống trở nên khô khan và thiếu đi sự tươi đẹp vốn có.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là người lớn không thể tìm thấy niềm vui trong cuộc sống. Nếu biết giữ cho mình một tâm hồn cởi mở và tích cực, mỗi người vẫn có thể cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc đời. Đôi khi, chỉ cần dành thời gian cho gia đình, tận hưởng thiên nhiên hay trân trọng những khoảnh khắc bình yên cũng có thể mang lại niềm hạnh phúc lớn lao.
Đối với người trẻ ngày nay, câu nói của Leopardi là một lời nhắc nhở quan trọng. Trong quá trình trưởng thành, chúng ta cần học cách cân bằng giữa trách nhiệm và niềm vui trong cuộc sống. Bên cạnh việc học tập, làm việc và theo đuổi ước mơ, mỗi người cũng nên giữ cho mình một tâm hồn trong sáng, biết trân trọng những điều giản dị xung quanh.
Tóm lại, câu nói của Leopardi đã gợi ra một triết lý sâu sắc về cách con người cảm nhận cuộc sống. Khi biết giữ cho mình sự lạc quan, trí tưởng tượng và tâm hồn trong trẻo, chúng ta sẽ luôn tìm thấy niềm vui và ý nghĩa trong cuộc sống, dù ở bất kỳ độ tuổi nào.
Câu 1:
Nhân vật tôi trong phần đọc hiểu có một tâm hồn vô cùng nhạy cảm, tính tế và là một người rất biết quan sát. Ngay từ nhỏ, những tính cách ấy được thể hiện ở những quan sát, những bức tranh do cậu vẽ. Mặc dù không được người lớn công nhận, khen ngợi, nhưng nhân vật “tôi” vẫn không hề gạt đi suy nghĩ, luôn chứng minh bức vẽ của mình. Điều này thể hiện nhân vật tôi là người có tâm hồn vô cùng tinh tế, cậu biết quan sát, biết nghĩ và luôn nghĩ sâu xa. Từ đây ta có thể thấy, nhân vật tôi hiện lên với hình ảnh một người thông minh, biết suy nghĩ và quan sát, qua đó đã tạo nên một tình huống, câu chuyện mang đầy ý nghĩ, sự suy ngẫm về góc nhìn, sự đánh giá của người khác trong cuộc sống.
Câu 1:
Bài thơ ở phần đọc hiểu đã thể hiện những cảm xúc sâu sắc và ý nghĩa nhân văn về con người và cuộc sống. Qua những hình ảnh giản dị nhưng giàu sức gợi, tác giả đã khắc họa vẻ đẹp của tâm hồn con người cũng như những suy nghĩ về cuộc đời. Các hình ảnh trong bài thơ không chỉ mang ý nghĩa tả thực mà còn gợi lên nhiều tầng ý nghĩa sâu xa, giúp người đọc cảm nhận được thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm. Giọng điệu của bài thơ nhẹ nhàng nhưng chứa đựng nhiều cảm xúc, thể hiện sự tinh tế trong cách nhìn nhận cuộc sống. Đồng thời, bài thơ còn khơi gợi cho người đọc những suy ngẫm về giá trị của cuộc sống, về tình cảm giữa con người với con người cũng như với thiên nhiên xung quanh. Thông qua nghệ thuật sử dụng ngôn từ cô đọng, hình ảnh giàu sức gợi và giọng điệu chân thành, bài thơ đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Qua đó, tác giả cũng muốn nhắn nhủ rằng mỗi người cần biết trân trọng những điều giản dị trong cuộc sống, sống tích cực và hướng đến những giá trị tốt đẹp.
Câu 2;
Trong đời sống của mỗi dân tộc, văn hóa truyền thống luôn giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Đó không chỉ là những phong tục, tập quán, lễ hội hay trang phục mà còn là những giá trị tinh thần được hình thành và lưu giữ qua nhiều thế hệ. Vì vậy, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là trách nhiệm chung của toàn xã hội, đặc biệt là của thế hệ trẻ ngày nay.
Trước hết, văn hóa truyền thống là nền tảng tạo nên bản sắc của một dân tộc. Nhờ có những giá trị văn hóa lâu đời mà mỗi quốc gia đều có những nét riêng biệt không thể trộn lẫn. Đối với dân tộc Việt Nam, những truyền thống như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, sự hiếu học hay những phong tục như Tết Nguyên Đán, áo dài, các lễ hội dân gian đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người. Những giá trị ấy giúp chúng ta hiểu hơn về lịch sử, cội nguồn và quá trình phát triển của dân tộc.
Trong bối cảnh hội nhập và phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện đại, văn hóa truyền thống đôi khi đứng trước nguy cơ bị mai một. Một bộ phận giới trẻ ngày nay có xu hướng chạy theo những trào lưu mới mà quên đi những giá trị truyền thống của dân tộc. Có những người không còn hiểu rõ về phong tục, lễ hội hay thậm chí không quan tâm đến việc gìn giữ bản sắc văn hóa của đất nước. Điều này có thể khiến cho những giá trị quý báu được vun đắp qua hàng nghìn năm dần bị lãng quên.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có rất nhiều bạn trẻ đang nỗ lực góp phần giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống. Nhiều người tích cực tìm hiểu lịch sử, văn hóa dân tộc, tham gia các hoạt động quảng bá văn hóa Việt Nam, mặc áo dài trong các dịp đặc biệt hay tham gia các lễ hội truyền thống. Ngoài ra, thông qua mạng xã hội và các phương tiện truyền thông, giới trẻ cũng có thể lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp đến với nhiều người hơn.
Để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, mỗi người trẻ cần có ý thức tìm hiểu và trân trọng những giá trị của dân tộc mình. Điều đó có thể bắt đầu từ những việc nhỏ như học hỏi về lịch sử, tham gia các hoạt động văn hóa, giữ gìn phong tục tốt đẹp hay giới thiệu văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Khi mỗi người đều có ý thức gìn giữ thì văn hóa truyền thống sẽ luôn được bảo tồn và phát triển.
Có thể nói rằng văn hóa truyền thống chính là linh hồn của dân tộc. Vì vậy, thế hệ trẻ hôm nay cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ và phát huy những giá trị quý báu ấy. Khi biết trân trọng quá khứ và phát huy những giá trị tốt đẹp, chúng ta sẽ góp phần xây dựng một xã hội vừa hiện đại vừa giàu bản sắc văn hóa.
Câu 1:
- Văn bản trên thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật
Câu 2:
- Luật của bài thơ là:
+ 7 chữ, 4 câu tổng có 28 chữ
Câu 3:
- Trong bài thơ, em ấn tượng nhất là biện pháp tu từ liệt kê: “ Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió“
- Tác dụng:
+ Diễn đạt:
+ Giúp miêu tả đầy đủ cảnh vật thiên nhiên trữ tình, thơ mộng
+ Cho thấy tâm hồn yêu thiên nhiên sâu sắc của các thơ xưa
+ Làm câu thơ thêm hấp dẫn, sunh hoạt
+ Nội dung:
+ Thể hiện các cảnh vậthiên nhiên trong các bài thơ xưa
+ Cho thấy sự khác nhau giữa thơ xưa và nay
Câu 4:
- Theo em, tác giả cho rằng “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong.” là vì:
+ Thơ văn thời hiện đại là phải chững chạc, thể hiện được chất riêng của tác giả, phải cứng thép thì mới có tính đột phá, toát lên vẻ thơ hiện đại
=> Cho thấy quan điểm, suy nghĩ của tác giả về thơ hiện đại, phải cứng thép, các nhà thơ cũng phải xung phong
Câu 1:
Có ý kiến cho rằng: "Di sản là nhịp cầu nối liền quá khứ với hiện tại và tương lai". Thật vậy, việc bảo tồn các di tích lịch sử của dân tộc hiện nay không chỉ là giữ gìn những công trình cũ kỹ mà chính là bảo vệ "cuốn căn cước" xác định bản sắc của mỗi quốc gia. Trong dòng chảy hối hả của hội nhập, các di tích đóng vai trò là những "chứng nhân" sống động, giúp thế hệ trẻ hôm nay không lãng quên cội nguồn hào hùng của cha ông. Việc bảo tồn mang ý nghĩa giáo dục lòng tự tôn dân tộc, đồng thời tạo ra nguồn tài nguyên du lịch bền vững để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thực tế đáng buồn là nhiều di tích đang bị xâm hại nghiêm trọng bởi sự tác động của thời tiết, sự đô thị hóa nóng vội và cả sự thiếu ý thức của một bộ phận người dân qua việc viết vẽ bậy hay trùng tu sai lệch làm biến dạng di sản. Để những giá trị ngàn đời không bị mai một, chúng ta cần sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng trong việc số hóa, quản lý di tích, cũng như sự nâng cao ý thức từ mỗi cá nhân. Hãy nhớ rằng, một dân tộc không có quá khứ là một dân tộc không có tương lai. Việc trân trọng và bảo vệ di tích chính là cách chúng ta khẳng định vị thế văn hóa của Việt Nam trước bạn bè quốc tế.
Câu 1:
- Bài thơ trên thuộc thể tám chữ, đây là thể thơ tự do hiện đại
Câu 2:
- Nhịp thơ có sự ngắt quãng, lúc chậm rãi, lúc u buồn, lúc lại dồn dập như hơi thở gấp gáp của một tâm hồn đang yêu
- Cách ngắt nhịp này tạo nên âm điệu bâng khuâng, thể hiện sự hụt hẫng và nỗi đau âm thầm của một người cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu
Câu 3:
- Đề tài của bài thơ là về tình yêu lứa đôi
- Chủ đề: Bài thơ thể hiện quan niệm về sự hy sinh và nỗi đau trong tình yêu. Tác giả khẳng định yêu là một hành trình khổ đau, mất mát và cô đơn, nơi cho đi hiếm khi nhận lại sự tương xứng
Câu 4:
- Trong bài em ấn tượng nhất là hình ảnh sợi dây vấn vít
- Ý nghĩa: Hình ảnh sợi dây tượng trưng cho sự gắn kết, ràng buộc giữa hai tâm hồn, từ vấn vít lại gợi lên sự bủa vây, khó gỡ đôi khi là sự bế tắc
Câu 5:
- Bài thơ khơi dậy nỗi buồn man mác, đồng cảm với những tâm hồn si tình. Nó cho thấy mặt trái của tình yêu không phải lúc nào cũng màu hồng như ta nghĩ
- Bài thơ nhắc nhở chúng ta tình yêu phải đòi hỏi sự dũng cảm, để yêu một người, ta phải chấp nhận đánh đổi một phần. Dù mang sắc thái bi quan, nhưng qua đó ta thấy được khát khao mãnh liệt của Xuân Diệu đối với việc kết nối người với người
Câu 1:
- Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin
Câu 2:
- Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là Vạn Lý Trường Thành
Câu 3:
- Những dữ liệu tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu thứ cấp
- Ví dụ:
+ Thống kê của UNESCO…,
+ Theo Daily Mail, tổng chiều dài của vạn lý trường thành là…
Câu 4:
- Phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản là:
+ Hình ảnh kèm dòng chữ Vạn Lý Trường Thành
+ Các số liệu thống kê
- Tác dụng:
+ Giúp người đọc dễ dàng hình dung được vẻ đẹp hùng vĩ của Vạn Lý Trường Thành, tăng tính trực quan và sinh động cho văn bản
+ Các số liệu thống kê giúp tăng tính xác thực, chính xác và sức thuyết phục cho các luận điểm, giúp người đọc nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng, cụ thể
Câu 5:
- Văn bản gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc về Vạn Lý Trường Thành:
+ Sự khâm phục trí tuệ và nghị lực của con người thời cổ đại, dù thiếu thốn máy móc nhưng vẫn tạo nên một công trình vĩ đại và bền bỉ qua thời gian
Trong quá trình Đổi mới kinh tế từ năm 1986 đến nay, các Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đóng vai trò then chốt, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội.
Về kinh tế: DNNN là công cụ để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, đặc biệt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, hoặc những nơi mà khu vực kinh tế khác không muốn hoặc không thể đầu tư.
Về chính trị - xã hội: DNNN đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước trong kinh tế, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội như việc làm, xóa đói giảm nghèo.
Điều chỉnh chính sách: Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới, sắp xếp lại DNNN, tập trung vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động, minh bạch hóa, và cổ phần hóa những doanh nghiệp không cần nắm giữ 100% vốn nhà nước. Điều này nhằm tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác và tận dụng tối đa cơ hội từ hội nhập quốc tế.
Câu 1:
a, Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, thể hiện qua đường lối chính trị, quân sự, ngoại giao độc lập, tự chủ, sáng tạo.
Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc: Phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: Tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, đồng thời dựa vào sức mạnh nội lực là chính.
Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh: Quân đội nhân dân và công an nhân dân không ngừng lớn mạnh, là nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển: Luôn đề cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch.
b,
Học tập, rèn luyện tốt: Nắm vững kiến thức lịch sử, địa lý Việt Nam, đặc biệt là về chủ quyền biển đảo; tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa tìm hiểu về biển đảo.
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức: Chia sẻ thông tin chính xác về chủ quyền biển đảo đến bạn bè, người thân; phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc lịch sử.
Tham gia các hoạt động xã hội: Ủng hộ các quỹ, chương trình hướng về biển đảo (ví dụ: Quỹ "Vì Trường Sa thân yêu"); viết thư, vẽ tranh cổ động tinh thần cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nơi đảo xa.
Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường biển: Không vứt rác bừa bãi, tham gia các hoạt động làm sạch bờ biển, bảo vệ hệ sinh thái biển.
Câu 2:
Thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội: Kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định: Đưa Việt Nam từ một nước nghèo, kém phát triển trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng, nông nghiệp giảm; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cải thiện đời sống nhân dân: Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, thu nhập bình quân đầu người tăng, các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế có nhiều tiến bộ.
Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng: Trở thành thành viên của WTO, ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn.



Câu 1:
Luận đề của văn bản là: Cái đẹp trong truyện ngắn muối của rừng
Câu 2:
- Câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong bài:
+ “Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy…”
Câu 3:
- Nhan đề của bài thể hiện trực tiếp vến đề nghị luận, nội dung của bài làm sáng tỏ, đánh giá cái đẹp qua sự thức tỉnh của ông Diểu
- Nhan đề và nội dung có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giúp người đọc hiểu rõ trọng tâm của văn bản
Câu 4:
- Tác dụng:
+ Nội dung:
+ Thể hiện sự đa dạng trong thiên nhiên, rừng xanh
+ Tạo sự đối lập giữa vẻ đẹp của rừng và sự tàn bạo của hành động săn bắt
+ Diễn đạt:
+ Tăng sức gợi hình gợi cảm
+ Gây ấn tượng cho người đọc
+ Nổi bật tác động mạnh mẽ của thiên nhiên đối với tâm lí ông Diểu
Câu 5:
- Mục đích: Làm rõ, khẳng định cái đẹp trong Muối của rừng
- Quan điểm: Cái đẹp không chỉ nằm ở thiên nhiên mà còn ở sự hướng thiện, sự thức tỉnh lương tri của con người
- Tình cảm: Thể hiện sự trân trọng thiên nhiên, cảm thông với con người, đồng thời cũng cho thấy tác giả tin tưởng vào khả năng hướng thiện của con người trước cái đẹp