NGUYỄN THANH TÂM
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Nhân vật Thứ trong đoạn trích cuối của tiểu thuyết Sống mòn hiện lên như một hình tượng bi kịch tiêu biểu cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám: có học thức, có ước mơ, nhưng lại bị cuộc đời nghèo khổ và sự nhu nhược của chính mình nghiền nát đến tàn lụi. Đoạn trích mở ra bằng hình ảnh Thứ đứng tựa mạn tàu, nhìn Hà Nội lùi dần sau lưng. Không gian buổi sáng đẹp đẽ, rực rỡ trái ngược hoàn toàn với nỗi buồn, nỗi nghẹn đắng trong lòng nhân vật, cho thấy sự đối lập giữa vẻ đẹp của đời sống và sự tàn úa trong tâm hồn con người. Trong dòng hồi tưởng, Thứ nhớ lại những ước mơ lớn lao thuở học trò: đỗ đạt, du học, trở thành một vĩ nhân đem đổi thay cho đất nước. Thế nhưng hiện tại của y chỉ là thất nghiệp, nghèo túng, buộc phải trở về quê trong bất lực. Nam Cao đã khắc họa bi kịch của một con người từng đầy lý tưởng nhưng bị hiện thực phũ phàng bào mòn đến gỉ sét cả ý chí. Đặc biệt, Thứ không chỉ đau đớn vì nghèo mà còn vì ý thức sâu sắc về sự bất lực của chính mình: y biết mình hèn yếu, biết mình đang “sống mòn”, vậy mà vẫn không dám bước đi, không thể vượt thoát khỏi thói quen, nỗi sợ hãi và sự an phận. Hình ảnh con trâu không dám bước khỏi sợi dây thừng là một ẩn dụ sắc lạnh, phơi bày tình cảnh chung của biết bao người giống Thứ: sống như tù đày trong chính cuộc đời mình. Tuy vậy, Thứ không phải là kẻ vô cảm; y vẫn có suy tư, vẫn biết khát vọng đổi thay của nhân loại giữa chiến tranh, vẫn le lói hi vọng mong manh. Chính điều đó khiến bi kịch của y trở nên đau đớn hơn – bởi Thứ hiểu mình “chưa làm gì cả” và có lẽ sẽ chết mà chưa kịp sống một đời đúng nghĩa. Bằng biệt tài phân tích tâm lí sắc sảo, Nam Cao đã xây dựng nên một nhân vật vừa đáng thương, vừa đáng trách; qua đó tố cáo xã hội cũ tàn phá con người và đặt ra câu hỏi lớn về ý nghĩa của sự sống: nếu không dám đổi thay, con người sẽ tự mài mòn chính mình đến héo úa. Câu 2:
Câu 1: Nhân vật Thứ trong đoạn trích cuối của tiểu thuyết Sống mòn hiện lên như một hình tượng bi kịch tiêu biểu cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám: có học thức, có ước mơ, nhưng lại bị cuộc đời nghèo khổ và sự nhu nhược của chính mình nghiền nát đến tàn lụi. Đoạn trích mở ra bằng hình ảnh Thứ đứng tựa mạn tàu, nhìn Hà Nội lùi dần sau lưng. Không gian buổi sáng đẹp đẽ, rực rỡ trái ngược hoàn toàn với nỗi buồn, nỗi nghẹn đắng trong lòng nhân vật, cho thấy sự đối lập giữa vẻ đẹp của đời sống và sự tàn úa trong tâm hồn con người. Trong dòng hồi tưởng, Thứ nhớ lại những ước mơ lớn lao thuở học trò: đỗ đạt, du học, trở thành một vĩ nhân đem đổi thay cho đất nước. Thế nhưng hiện tại của y chỉ là thất nghiệp, nghèo túng, buộc phải trở về quê trong bất lực. Nam Cao đã khắc họa bi kịch của một con người từng đầy lý tưởng nhưng bị hiện thực phũ phàng bào mòn đến gỉ sét cả ý chí. Đặc biệt, Thứ không chỉ đau đớn vì nghèo mà còn vì ý thức sâu sắc về sự bất lực của chính mình: y biết mình hèn yếu, biết mình đang “sống mòn”, vậy mà vẫn không dám bước đi, không thể vượt thoát khỏi thói quen, nỗi sợ hãi và sự an phận. Hình ảnh con trâu không dám bước khỏi sợi dây thừng là một ẩn dụ sắc lạnh, phơi bày tình cảnh chung của biết bao người giống Thứ: sống như tù đày trong chính cuộc đời mình. Tuy vậy, Thứ không phải là kẻ vô cảm; y vẫn có suy tư, vẫn biết khát vọng đổi thay của nhân loại giữa chiến tranh, vẫn le lói hi vọng mong manh. Chính điều đó khiến bi kịch của y trở nên đau đớn hơn – bởi Thứ hiểu mình “chưa làm gì cả” và có lẽ sẽ chết mà chưa kịp sống một đời đúng nghĩa. Bằng biệt tài phân tích tâm lí sắc sảo, Nam Cao đã xây dựng nên một nhân vật vừa đáng thương, vừa đáng trách; qua đó tố cáo xã hội cũ tàn phá con người và đặt ra câu hỏi lớn về ý nghĩa của sự sống: nếu không dám đổi thay, con người sẽ tự mài mòn chính mình đến héo úa. Câu 2:
Câu 1: Nhân vật Thứ trong đoạn trích cuối của tiểu thuyết Sống mòn hiện lên như một hình tượng bi kịch tiêu biểu cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám: có học thức, có ước mơ, nhưng lại bị cuộc đời nghèo khổ và sự nhu nhược của chính mình nghiền nát đến tàn lụi. Đoạn trích mở ra bằng hình ảnh Thứ đứng tựa mạn tàu, nhìn Hà Nội lùi dần sau lưng. Không gian buổi sáng đẹp đẽ, rực rỡ trái ngược hoàn toàn với nỗi buồn, nỗi nghẹn đắng trong lòng nhân vật, cho thấy sự đối lập giữa vẻ đẹp của đời sống và sự tàn úa trong tâm hồn con người. Trong dòng hồi tưởng, Thứ nhớ lại những ước mơ lớn lao thuở học trò: đỗ đạt, du học, trở thành một vĩ nhân đem đổi thay cho đất nước. Thế nhưng hiện tại của y chỉ là thất nghiệp, nghèo túng, buộc phải trở về quê trong bất lực. Nam Cao đã khắc họa bi kịch của một con người từng đầy lý tưởng nhưng bị hiện thực phũ phàng bào mòn đến gỉ sét cả ý chí. Đặc biệt, Thứ không chỉ đau đớn vì nghèo mà còn vì ý thức sâu sắc về sự bất lực của chính mình: y biết mình hèn yếu, biết mình đang “sống mòn”, vậy mà vẫn không dám bước đi, không thể vượt thoát khỏi thói quen, nỗi sợ hãi và sự an phận. Hình ảnh con trâu không dám bước khỏi sợi dây thừng là một ẩn dụ sắc lạnh, phơi bày tình cảnh chung của biết bao người giống Thứ: sống như tù đày trong chính cuộc đời mình. Tuy vậy, Thứ không phải là kẻ vô cảm; y vẫn có suy tư, vẫn biết khát vọng đổi thay của nhân loại giữa chiến tranh, vẫn le lói hi vọng mong manh. Chính điều đó khiến bi kịch của y trở nên đau đớn hơn – bởi Thứ hiểu mình “chưa làm gì cả” và có lẽ sẽ chết mà chưa kịp sống một đời đúng nghĩa. Bằng biệt tài phân tích tâm lí sắc sảo, Nam Cao đã xây dựng nên một nhân vật vừa đáng thương, vừa đáng trách; qua đó tố cáo xã hội cũ tàn phá con người và đặt ra câu hỏi lớn về ý nghĩa của sự sống: nếu không dám đổi thay, con người sẽ tự mài mòn chính mình đến héo úa. Câu 2:
Câu 1: Nhân vật Thứ trong đoạn trích cuối của tiểu thuyết Sống mòn hiện lên như một hình tượng bi kịch tiêu biểu cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám: có học thức, có ước mơ, nhưng lại bị cuộc đời nghèo khổ và sự nhu nhược của chính mình nghiền nát đến tàn lụi. Đoạn trích mở ra bằng hình ảnh Thứ đứng tựa mạn tàu, nhìn Hà Nội lùi dần sau lưng. Không gian buổi sáng đẹp đẽ, rực rỡ trái ngược hoàn toàn với nỗi buồn, nỗi nghẹn đắng trong lòng nhân vật, cho thấy sự đối lập giữa vẻ đẹp của đời sống và sự tàn úa trong tâm hồn con người. Trong dòng hồi tưởng, Thứ nhớ lại những ước mơ lớn lao thuở học trò: đỗ đạt, du học, trở thành một vĩ nhân đem đổi thay cho đất nước. Thế nhưng hiện tại của y chỉ là thất nghiệp, nghèo túng, buộc phải trở về quê trong bất lực. Nam Cao đã khắc họa bi kịch của một con người từng đầy lý tưởng nhưng bị hiện thực phũ phàng bào mòn đến gỉ sét cả ý chí. Đặc biệt, Thứ không chỉ đau đớn vì nghèo mà còn vì ý thức sâu sắc về sự bất lực của chính mình: y biết mình hèn yếu, biết mình đang “sống mòn”, vậy mà vẫn không dám bước đi, không thể vượt thoát khỏi thói quen, nỗi sợ hãi và sự an phận. Hình ảnh con trâu không dám bước khỏi sợi dây thừng là một ẩn dụ sắc lạnh, phơi bày tình cảnh chung của biết bao người giống Thứ: sống như tù đày trong chính cuộc đời mình. Tuy vậy, Thứ không phải là kẻ vô cảm; y vẫn có suy tư, vẫn biết khát vọng đổi thay của nhân loại giữa chiến tranh, vẫn le lói hi vọng mong manh. Chính điều đó khiến bi kịch của y trở nên đau đớn hơn – bởi Thứ hiểu mình “chưa làm gì cả” và có lẽ sẽ chết mà chưa kịp sống một đời đúng nghĩa. Bằng biệt tài phân tích tâm lí sắc sảo, Nam Cao đã xây dựng nên một nhân vật vừa đáng thương, vừa đáng trách; qua đó tố cáo xã hội cũ tàn phá con người và đặt ra câu hỏi lớn về ý nghĩa của sự sống: nếu không dám đổi thay, con người sẽ tự mài mòn chính mình đến héo úa.
Câu 2: Gabriel Garcia Marquez – nhà văn vĩ đại của Colombia – từng khẳng định: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ.” Câu nói vừa chân thực, vừa thức tỉnh con người về giá trị của khát vọng sống. Bởi lẽ, tuổi trẻ không đo bằng số năm, mà bằng khả năng theo đuổi hoài bão, dám sống cho điều mình tin. Trong thời đại nhiều cơ hội nhưng cũng đầy thách thức hôm nay, việc nhận thức đúng đắn về tuổi trẻ và ước mơ lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Ước mơ là những điều tốt đẹp con người khao khát đạt được trong tương lai: một nghề nghiệp, một lối sống, một giá trị mình muốn tạo ra cho xã hội. Ước mơ không phải điều viển vông, mà là đích đến thôi thúc con người nỗ lực mỗi ngày. Tuổi trẻ là quãng đời tràn đầy nhiệt huyết, sáng tạo, bền bỉ; là giai đoạn con người có sức mạnh lớn nhất để học hỏi, khám phá và chinh phục thách thức. Câu nói của Marquez đã nhấn mạnh rằng: con người chỉ thật sự “già” khi tự từ bỏ mơ ước, khi để cuộc đời trôi qua trong sự an phận và mòn mỏi. Ước mơ chính là nguồn năng lượng giữ cho tuổi trẻ luôn rực cháy. Nhà văn George Bernard Shaw từng nói: “Người ta không bao giờ già, chỉ khi ngừng học hỏi và mơ ước.” Quả thật, ước mơ giúp con người sống có định hướng, có mục tiêu để vươn lên. Tuổi trẻ chỉ thật sự đẹp khi mỗi khoảnh khắc đều hướng về một điều gì đó lớn hơn bản thân mình. Những nhà khoa học như Marie Curie hay Thomas Edison đã dành toàn bộ tuổi trẻ và cả cuộc đời mình để theo đuổi những khám phá thay đổi thế giới. Chính ngọn lửa ước mơ đã giúp họ vượt qua thất bại, nghèo khó, bệnh tật. Ở Việt Nam, tấm gương Phạm Tuân – người Việt đầu tiên bay vào vũ trụ – cũng là minh chứng rõ ràng: từ một cậu bé nghèo ham mê đọc sách, ông đã biến ước mơ thành niềm tự hào dân tộc. Ước mơ khiến tuổi trẻ bền bỉ, mạnh mẽ và không bao giờ già đi trong tâm hồn Steve Jobs từng nói: “Hãy cứ dại dột, hãy cứ khát khao.” Bởi ước mơ chỉ đẹp khi đi cùng hành động và dám lựa chọn con đường của riêng mình. Nhiều bạn trẻ ngày nay có ước mơ nhưng lại ngại thử thách, sợ thất bại hoặc chiều theo kỳ vọng của người khác, để rồi đánh mất chính mình. Tuổi trẻ cần dám bước ra khỏi vùng an toàn, dám đối diện với khó khăn để trưởng thành. Những vận động viên như Nguyễn Thị Ánh Viên hay Hữu Thắng đã trải qua vô số giờ luyện tập, hy sinh tuổi thơ để chạm đến vinh quang. Ngay cả những người bình thường: sinh viên đi làm thêm tích góp nuôi học phí, người trẻ tự học ngoại ngữ để mở cánh cửa mới… tất cả đều cho thấy: ước mơ chỉ thực sự tồn tại khi ta dám lao mình về phía trước Hellen Keller từng khẳng định: “Cuộc sống là một cuộc phiêu lưu táo bạo hoặc chẳng là gì cả.” Nếu không dám mơ, con người sẽ sống mòn trong vòng lặp: ngày qua ngày trôi đi mà không để lại một dấu ấn nào. Thực tế có rất nhiều bạn trẻ chìm trong sự lười biếng, nghiện mạng xã hội, sợ áp lực, sống vô định… để rồi đánh mất cơ hội ở tuổi đẹp nhất. Đó là sự lãng phí lớn nhất của đời người. Xã hội cũng có nhiều người trưởng thành sống trong hối tiếc: “Giá như ngày ấy mình dám theo đuổi điều mình thích.” Một tuổi trẻ không ước mơ chính là tuổi trẻ chết dần trong an phận – đúng như bi kịch của nhân vật Thứ trong văn học, sống mà như không sống. Ấy vậy mà, vx có những người sống buông xuôi, lười biếng, ngại nỗ lực; những người trẻ chạy theo hưởng thụ, sống lệ thuộc, đánh mất bản lĩnh, cần lên án và phê phán. Là ngưòi trẻ trg thời đại mới, chúng ta cần xác định cho mình một ước mơ rõ ràng và ý nghĩa; lập kế hoạch cụ thể, từng bước thực hiện thay vì chờ đợi. Khong những vậy, chúng ta cx cần phải kiên trì trước thất bại, bởi thất bại là một phần của hành trình trưởng thành; giữ tinh thần ham học hỏi, không ngừng rèn luyện bản thân và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Và hơn hết, phải tin rằng: "Tuổi trẻ đẹp nhất khi ta cháy hết mình cho ước mơ". Câu nói của Marquez nhắc nhở chúng ta rằng tuổi trẻ không nằm ở năm tháng mà nằm ở những ước mơ chưa bao giờ tắt. Con người chỉ “già” khi tự buông bỏ lý tưởng của chính mình. Vì vậy, mỗi người hãy sống sao cho tuổi trẻ không trôi qua vô nghĩa; hãy để ước mơ dẫn đường, để mỗi ngày trở thành một bước tiến gần hơn đến tương lai mà ta mong muốn. Bởi suy cho cùng, sống là phải dám mơ và dám biến ước mơ thành hiện thực.
Câu 1. Điểm nhìn của người kể chuyện đặt ở nhân vật Thứ Câu 2. Ước mơ của Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường - Đỗ Thành chung, đỗ tú tài, vào đại học đường, sang Tây du học,
- Trở thành một vĩ nhân, đem lại những sự thay đổi lớn lao cho xứ sở mình. Câu 3.
- Biện pháp tu từ: Liệt kê “mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra ở một xó nhà quê”. - Tác dụng: + Làm cho câu văn thêm sinh động, hấp dẫn, gợi hình, gợi cảm + Tác giả sd phép liệt kệ nhằm khắc họa sâu sắc tâm trạng bi quan, uất nghẹn của Thứ khi nghĩ về tương lai bế tắc.
+ Qua đó, tác giả thể hiện sự đồng cảm, xót xa trc bi kịch “sống mòn” của người trí thức nghèo trong xã hội cũ: sống mà như không sống, chết dần về ý chí và lòng tự trọng.
Câu 4. - Cuộc sống: Thứ sống trong nghèo túng, thất nghiệp, bất lực trước hoàn cảnh. Những ước mơ thuở trẻ bị vùi dập, khiến cuộc đời rơi vào trạng thái tàn lụi, vô vọng, bị đẩy đến kiếp sống “mòn”, “gỉ”, “mục”. - Con người: Thứ là một người có học, từng có hoài bão lớn, biết đau đớn và tự ý thức về sự tầm thường hóa của chính mình. Tuy nhiên, y lại nhu nhược, bạc nhược, không đủ bản lĩnh để vượt thoát số phận, bị thói quen và sợ hãi trói chặt.
- Qua đó, thấy đc nỗi niềm của tg dành cho nv Thứ cx như tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng: đầy lý tưởng nhưng bất lực. Câu 5. Qua đoạn trích "Sống mòn", Nam Cao đã gửi gắm vào đó một triết lí sâu sắc: sống là phải biết thay đổi. Trong cuộc đời, không có điều gì lặp lại hai lần, và nếu con người cứ mãi thu mình trong sợ hãi, thói quen hay sự an phận thì chính họ sẽ trở thành tù nhân của cuộc đời mình. Cuộc sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi ta dám đối diện với thử thách, dám bước ra khỏi vùng an toàn để theo đuổi ước mơ. Vì thế, mỗi người cần can đảm lựa chọn con đường của mình, dù khó khăn, để không phải hối tiếc vì đã “chết ngay trong lúc đang sống”.
Câu 1
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, hình tượng nhân vật Thúy Kiều được xây dựng như “đứa con của hiện thực cuộc sống”, vừa mang vẻ đẹp tâm hồn cao quý, vừa chứa đựng những nỗi niềm, trăn trở của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Ở đoạn trích chia tay Kim Trọng, Kiều hiện lên đầy xúc động, là một người con gái sâu sắc, tinh tế và giàu tình nghĩa. Trước cảnh chia ly, nàng không chỉ bịn rịn, thương nhớ mà còn thể hiện sự lo lắng, chu đáo, dặn dò người yêu phải giữ trọn lòng son: “Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm”. Kiều yêu chân thành nhưng không mù quáng; nàng coi trọng sự chân thật, hướng tới tình yêu trong sáng, thủy chung. Dẫu xa cách, nàng vẫn giữ niềm tin vào tình nghĩa, thể hiện qua lời hẹn thề tha thiết “Chén mừng xin đợi bữa này năm sau”. Qua hình tượng ấy, Nguyễn Du đã thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc – trân trọng vẻ đẹp tâm hồn và khát vọng tình yêu chính đáng của con người. Thúy Kiều vì thế không chỉ là nhân vật của riêng một câu chuyện, mà còn là biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam giàu tình yêu, nghĩa, và lòng thủy chung son sắt.
Câu 2
Nhà văn M. Gorki từng nói: “Lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lý tưởng, không có phương hướng kiên định, ta chỉ là kẻ lang thang.” Quả thật, trong cuộc sống hôm nay – khi thế giới đổi thay từng ngày, con người càng cần một ngọn đèn soi sáng tâm hồn: đó chính là lý tưởng sống, đặc biệt là với thế hệ trẻ.
Lý tưởng là mục tiêu sống cao đẹp mà con người hướng tới, là kim chỉ nam giúp ta xác định phương hướng và ý nghĩa của cuộc đời. Với thế hệ trẻ, lý tưởng sống là khát vọng được học tập, cống hiến và sống có ích cho xã hội. Người trẻ có lý tưởng thường sống tích cực, không ngại khó khăn, biết vươn lên để hoàn thiện bản thân, dám mơ ước và hành động vì những điều tốt đẹp.
“Chỉ có những ai dám sống vì một lý tưởng mới thật sự sống.” Câu nói của Albert Einstein đã khẳng định tầm quan trọng của lý tưởng trong cuộc đời mỗi con người. Lý tưởng chính là ngọn đèn soi sáng, giúp người trẻ định hướng cho hành trình của mình giữa vô vàn lựa chọn. Khi có lý tưởng, con người không sống mơ hồ hay buông xuôi, mà biết đặt ra mục tiêu rõ ràng để phấn đấu. Nó giúp họ nhận ra giá trị bản thân, tin tưởng vào con đường mình đi và kiên định theo đuổi ước mơ. Chính lý tưởng khiến tuổi trẻ trở nên có ý nghĩa, biến những năm tháng rực rỡ nhất của cuộc đời thành hành trình cống hiến và trưởng thành.
Lý tưởng sống không chỉ giúp con người có hướng đi mà còn mang đến sức mạnh tinh thần to lớn để vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Khi người trẻ mang trong mình một khát vọng tốt đẹp, họ sẽ có thêm nghị lực để vững bước dù con đường phía trước đầy chông gai, thử thách. Lý tưởng chính là nguồn năng lượng nội tại giúp ta không gục ngã trước thất bại, không sợ hãi trước khó khăn, mà luôn kiên trì tiến về phía trước. “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền.” Câu nói ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một lời nhắc nhở sâu sắc rằng, khi lý tưởng đủ mạnh, con người sẽ đủ dũng cảm và bền bỉ để biến ước mơ thành hiện thực, để mỗi bước đi trên hành trình sống đều mang ý nghĩa và giá trị đích thực.
Một lý tưởng sống đẹp còn giúp người trẻ hoàn thiện nhân cách và khơi dậy tinh thần trách nhiệm với cộng đồng. Khi con người sống vì một mục tiêu lớn lao, họ sẽ biết vượt lên trên cái tôi nhỏ bé để hướng đến những giá trị chung của xã hội. Lý tưởng thôi thúc họ biết yêu thương, sẻ chia và cống hiến nhiều hơn, biến khát vọng sống đẹp thành hành động cụ thể vì lợi ích của người khác. Chính trong quá trình ấy, nhân cách con người được tôi luyện, trái tim trở nên nhân hậu và tâm hồn thêm cao cả. Một thế hệ trẻ mang trong mình lý tưởng sống đẹp sẽ là những người biết sống vì tập thể, biết biến ước mơ cá nhân thành đóng góp cho cộng đồng và đất nước. Bởi “Lý tưởng là ánh mặt trời chiếu sáng tương lai của con người.”
Một minh chứng rõ nét cho sức mạnh của lý tưởng là những người trẻ đang ngày ngày miệt mài cống hiến trong các lĩnh vực khác nhau. Đó là Nguyễn Ngọc Mạnh, chàng thanh niên dũng cảm lao mình cứu bé gái rơi từ tầng cao, hành động xuất phát từ lòng nhân ái và ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Hay như Võ Tấn Sang, chàng kỹ sư trẻ ở Quảng Nam sáng chế máy bay không người lái phục vụ cứu hộ, cứu nạn miền Trung mùa bão lũ, biến đam mê công nghệ thành việc làm hữu ích cho xã hội. Họ đều là những người mang trong mình lý tưởng sống đẹp — dám nghĩ, dám làm và sẵn sàng hành động vì người khác.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay vẫn còn nhiều người trẻ sống thiếu lý tưởng, không xác định được mục tiêu và hướng đi cho mình. Họ dễ bị cuốn vào lối sống hưởng thụ, thực dụng, chỉ chạy theo tiền bạc, danh vọng hay sự nổi tiếng nhất thời. Có người thờ ơ với những giá trị tinh thần, sống buông thả và đánh mất niềm tin vào bản thân. Chính lối sống ấy khiến tuổi trẻ trở nên nhạt nhòa, vô định và không còn ý nghĩa.
Ko chỉ vậy, mỗi người trẻ cần nhận ra rằng lý tưởng không phải điều xa vời mà là kim chỉ nam cho cuộc sống. Phải biết tự đặt ra mục tiêu phù hợp, kiên trì rèn luyện và nỗ lực từng ngày để biến lý tưởng thành hiện thực. Đồng thời, cần giữ cho mình tinh thần tích cực, sống nhân ái, trách nhiệm và biết cống hiến. Khi có lý tưởng đúng đắn, con người sẽ tìm thấy ý nghĩa cuộc đời và góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn.
Lý tưởng sống là ngọn lửa soi sáng hành trình tuổi trẻ, giúp con người có mục tiêu để phấn đấu và ý chí để vươn lên. Mỗi người hãy biết sống hết mình, nuôi dưỡng trong tim khát vọng cống hiến và không ngừng hoàn thiện bản thân. Bởi chỉ khi sống có lý tưởng, tuổi trẻ mới thật sự rực rỡ và đáng trân trọng.
Câu 1. Thể thơ của văn bản là thể thơ lục bát.
Câu 2. Đoạn trích kể về cảnh chia tay giữa Thúy Kiều và Kim Trọng khi chàng phải về quê chịu tang chú.
Câu 3. Biện pháp tu từ: Phép đối (“người về” và “kẻ đi”, giữa “chiếc bóng năm canh” và “muôn dặm xa xôi”)
Tác dụng:
- Làm nổi bật hoàn cảnh chia lìa của đôi lứa, mỗi người một ngả.
- Tác giả sử dụng phép đối để gợi nên không gian và thời gian chia xa thấm đẫm nỗi buồn, cô đơn của Thúy Kiều và Kim Trọng.
- Qua đó thể hiện tấm lòng xót thương và trân trọng của Nguyễn Du trước tình yêu chân thành nhưng đầy éo le của con người.
Câu 4:
- Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là nỗi buồn chia ly, thương nhớ da diết giữa đôi lứa.
- Qua đó, Nguyễn Du thể hiện sự trân trọng đối với tình yêu chân thành, thủy chung và niềm xót thương cho số phận éo le của con người trong cuộc đời nhiều chia biệt.
Câu 5.
Đoạn trích có thể đặt nhan đề là “Cảnh chia tay của Kiều và Kim Trọng", miêu tả khung cảnh chia ly giữa hai nhân vật, với bao cảm xúc lưu luyến, dặn dò và lời hẹn ước thủy chung. Qua đó, Nguyễn Du thể hiện tình yêu sâu nặng và nỗi buồn nhân thế trong cuộc đời nhiều trắc trở của Kiều.