PHẠM BÍCH PHƯƠNG

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của PHẠM BÍCH PHƯƠNG
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1 :Hình tượng " li khách"  trong bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm Tâm là một bức chân dung mang vẻ đẹp hào hùng lẫn bi tráng của con người thời đại cũ nhưng vẫn đầy hơi thở Thơ mới. Trước hết, đó là một con người có chí nam nhi dấn thân quyết liệt. Với quan niệm "Chí nhớn chưa về bàn tay không / Thì không bao giờ nói trở lại", li khách hiện lên với tư thế dứt khoát, mang tầm vóc của những tráng sĩ cổ phong, sẵn sàng từ bỏ sự ấm êm của gia đình để theo đuổi lý tưởng. Tuy nhiên, đằng sau cái vẻ "dửng dưng" lạnh lùng ấy lại là một tâm hồn trĩu nặng tình cảm. Sự tương phản giữa cái nhìn "đầy hoàng hôn" và hành động quyết tâm ra đi cho thấy một cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội. Anh ta ra đi không phải vì vô tình, mà là nén đau thương, nén những giọt lệ của mẹ già và chị em vào lòng để tiến về phía trước. Hình tượng li khách vì thế không khô khan mà trở nên gần gũi, đời thường, vừa có cái ngạo nghễ của bậc trượng phu, vừa có nỗi đau thầm kín của một con người bằng xương bằng thịt. Thâm Tâm đã tạc nên một tượng đài về sự hi sinh tình riêng cho nghĩa , để lại dư ba sâu sắc về khát vọng lập thân của thế hệ thanh niên bấy giờ.

câu 2 :Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, có những đoạn đường chúng ta được bao bọc trong vòng tay của gia đình, sự dìu dắt của thầy cô và sự đồng hành của bạn bè. Thế nhưng, cuộc đời không phải là một đường thẳng bằng phẳng trải đầy hoa hồng. Sẽ đến một thời điểm tất yếu, như một quy luật của tự nhiên, mỗi cá nhân đều phải học cách tách mình ra khỏi những điểm tựa ấy để độc lập tự mình bước đi trên đôi chân của chính mình.

"Độc lập tự mình bước đi" không chỉ đơn thuần là việc tự lo liệu về vật chất hay tài chính, mà sâu sắc hơn, đó là sự tự chủ trong tư duy, bản lĩnh trong quyết định và chịu trách nhiệm hoàn toàn trước cuộc đời mình. Đó là khi ta thôi nhìn về phía sau để tìm sự cầu cứu, thôi chờ đợi một sự sắp đặt từ người khác để tự mình cầm lái con tàu số phận. Tại sao sự độc lập lại trở thành một cột mốc bắt buộc? Trước hết, vì không ai có thể sống thay ta hay hiểu rõ những khao khát thầm kín bằng chính bản thân mình. Cha mẹ có thể cho ta nền tảng, nhưng không thể đi hộ ta những dặm đường dài của tương lai. Khi tự mình bước đi, ta mới thực sự hiểu được giá trị của tự do. Sự tự do ấy đi kèm với áp lực, nhưng chính áp lực mới tôi luyện nên những viên kim cương. Chỉ khi đối mặt với bóng tối của sự cô độc và những ngã rẽ cuộc đời mà không có người chỉ dẫn, con người mới khám phá ra những tiềm năng phi thường còn tiềm ẩn trong sâu thẳm tâm hồn. Hơn thế nữa, việc tự lập giúp chúng ta trưởng thành từ những va vấp. Những vết sẹo từ sự vấp ngã khi tự bước đi luôn mang lại những bài học quý giá hơn ngàn lời giáo huấn trên sách vở. Nó dạy ta cách quan sát, cách phân tích và cách đứng dậy sau mỗi lần thất bại. Một người luôn dựa dẫm vào người khác sẽ giống như một cái cây tầm gửi, mãi mãi không bao giờ biết được cảm giác kiêu hãnh khi đứng vững trước gió bão. Ngược lại, người biết độc lập hành động sẽ tạo ra một bản sắc riêng, một giá trị riêng không thể thay thế trong xã hội. Tuy nhiên, cần hiểu rằng độc lập không đồng nghĩa với cô lập hay cực đoan từ chối mọi sự giúp đỡ. Độc lập là khi ta có đủ trí tuệ để lắng nghe những lời khuyên nhưng đủ bản lĩnh để đưa ra quyết định cuối cùng dựa trên hệ giá trị của bản thân. Một hành trình độc lập thông minh là biết kết hợp nội lực tự thân với những nguồn lực hỗ trợ từ xung quanh để tiến xa hơn. Nhìn vào thực tế, ta thấy không ít bạn trẻ ngày nay vẫn còn tâm lý "ngủ quên" trong sự bao bọc của gia đình, sợ hãi trước những thử thách của thế giới bên ngoài. Lối sống dựa dẫm ấy không chỉ làm mòn ý chí mà còn khiến con người trở nên thụ động, dễ gục ngã khi gặp biến cố. Ngược lại, những tấm gương thành công trên thế giới đều là những người đã dũng cảm bước ra khỏi "vùng an toàn" từ rất sớm để tự tạo nên con đường cho chính mình. Tóm lại, khoảnh khắc ta quyết định tự mình bước đi chính là lúc ta thực sự bắt đầu sống cuộc đời của mình chứ không phải sống theo kỳ vọng của người khác. Đó là một hành trình gian nan, đầy rẫy những bất định nhưng cũng vô cùng hạnh phúc và tự hào. Hãy can đảm đón nhận thời điểm ấy bằng một tâm thế chủ động, bởi chỉ khi tự đi bằng đôi chân mình, bạn mới có thể chạm tới đỉnh cao mà mình hằng mơ ước.


câu 1 :Hình tượng " li khách"  trong bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm Tâm là một bức chân dung mang vẻ đẹp hào hùng lẫn bi tráng của con người thời đại cũ nhưng vẫn đầy hơi thở Thơ mới. Trước hết, đó là một con người có chí nam nhi dấn thân quyết liệt. Với quan niệm "Chí nhớn chưa về bàn tay không / Thì không bao giờ nói trở lại", li khách hiện lên với tư thế dứt khoát, mang tầm vóc của những tráng sĩ cổ phong, sẵn sàng từ bỏ sự ấm êm của gia đình để theo đuổi lý tưởng. Tuy nhiên, đằng sau cái vẻ "dửng dưng" lạnh lùng ấy lại là một tâm hồn trĩu nặng tình cảm. Sự tương phản giữa cái nhìn "đầy hoàng hôn" và hành động quyết tâm ra đi cho thấy một cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội. Anh ta ra đi không phải vì vô tình, mà là nén đau thương, nén những giọt lệ của mẹ già và chị em vào lòng để tiến về phía trước. Hình tượng li khách vì thế không khô khan mà trở nên gần gũi, đời thường, vừa có cái ngạo nghễ của bậc trượng phu, vừa có nỗi đau thầm kín của một con người bằng xương bằng thịt. Thâm Tâm đã tạc nên một tượng đài về sự hi sinh tình riêng cho nghĩa , để lại dư ba sâu sắc về khát vọng lập thân của thế hệ thanh niên bấy giờ.

câu 2 :Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, có những đoạn đường chúng ta được bao bọc trong vòng tay của gia đình, sự dìu dắt của thầy cô và sự đồng hành của bạn bè. Thế nhưng, cuộc đời không phải là một đường thẳng bằng phẳng trải đầy hoa hồng. Sẽ đến một thời điểm tất yếu, như một quy luật của tự nhiên, mỗi cá nhân đều phải học cách tách mình ra khỏi những điểm tựa ấy để độc lập tự mình bước đi trên đôi chân của chính mình.

"Độc lập tự mình bước đi" không chỉ đơn thuần là việc tự lo liệu về vật chất hay tài chính, mà sâu sắc hơn, đó là sự tự chủ trong tư duy, bản lĩnh trong quyết định và chịu trách nhiệm hoàn toàn trước cuộc đời mình. Đó là khi ta thôi nhìn về phía sau để tìm sự cầu cứu, thôi chờ đợi một sự sắp đặt từ người khác để tự mình cầm lái con tàu số phận. Tại sao sự độc lập lại trở thành một cột mốc bắt buộc? Trước hết, vì không ai có thể sống thay ta hay hiểu rõ những khao khát thầm kín bằng chính bản thân mình. Cha mẹ có thể cho ta nền tảng, nhưng không thể đi hộ ta những dặm đường dài của tương lai. Khi tự mình bước đi, ta mới thực sự hiểu được giá trị của tự do. Sự tự do ấy đi kèm với áp lực, nhưng chính áp lực mới tôi luyện nên những viên kim cương. Chỉ khi đối mặt với bóng tối của sự cô độc và những ngã rẽ cuộc đời mà không có người chỉ dẫn, con người mới khám phá ra những tiềm năng phi thường còn tiềm ẩn trong sâu thẳm tâm hồn. Hơn thế nữa, việc tự lập giúp chúng ta trưởng thành từ những va vấp. Những vết sẹo từ sự vấp ngã khi tự bước đi luôn mang lại những bài học quý giá hơn ngàn lời giáo huấn trên sách vở. Nó dạy ta cách quan sát, cách phân tích và cách đứng dậy sau mỗi lần thất bại. Một người luôn dựa dẫm vào người khác sẽ giống như một cái cây tầm gửi, mãi mãi không bao giờ biết được cảm giác kiêu hãnh khi đứng vững trước gió bão. Ngược lại, người biết độc lập hành động sẽ tạo ra một bản sắc riêng, một giá trị riêng không thể thay thế trong xã hội. Tuy nhiên, cần hiểu rằng độc lập không đồng nghĩa với cô lập hay cực đoan từ chối mọi sự giúp đỡ. Độc lập là khi ta có đủ trí tuệ để lắng nghe những lời khuyên nhưng đủ bản lĩnh để đưa ra quyết định cuối cùng dựa trên hệ giá trị của bản thân. Một hành trình độc lập thông minh là biết kết hợp nội lực tự thân với những nguồn lực hỗ trợ từ xung quanh để tiến xa hơn. Nhìn vào thực tế, ta thấy không ít bạn trẻ ngày nay vẫn còn tâm lý "ngủ quên" trong sự bao bọc của gia đình, sợ hãi trước những thử thách của thế giới bên ngoài. Lối sống dựa dẫm ấy không chỉ làm mòn ý chí mà còn khiến con người trở nên thụ động, dễ gục ngã khi gặp biến cố. Ngược lại, những tấm gương thành công trên thế giới đều là những người đã dũng cảm bước ra khỏi "vùng an toàn" từ rất sớm để tự tạo nên con đường cho chính mình. Tóm lại, khoảnh khắc ta quyết định tự mình bước đi chính là lúc ta thực sự bắt đầu sống cuộc đời của mình chứ không phải sống theo kỳ vọng của người khác. Đó là một hành trình gian nan, đầy rẫy những bất định nhưng cũng vô cùng hạnh phúc và tự hào. Hãy can đảm đón nhận thời điểm ấy bằng một tâm thế chủ động, bởi chỉ khi tự đi bằng đôi chân mình, bạn mới có thể chạm tới đỉnh cao mà mình hằng mơ ước.


câu 1 :

Bài thơ "Những bóng người trên sân ga" của Nguyễn Bính là một bản nhạc buồn da diết về những cuộc chia ly, tiêu biểu cho phong cách "chân quê" nhưng đầy ám ảnh của ông. Nét đặc sắc nhất về nội dung chính là cách tác giả khắc họa sự chia ly không chỉ là một sự kiện, mà là một "thân phận". Qua cái nhìn của nhân vật "tôi", sân ga hiện lên như một chứng nhân lịch sử cho những nỗi đau nhân thế: từ tình chị em, tình yêu đôi lứa, tình vợ chồng đến tình mẫu tử thiêng liêng. Đặc biệt, hình ảnh "bà già tiễn con đi trấn ải" hay "người đi một mình làm cả cuộc phân ly" đã nâng tầm nỗi buồn cá nhân thành nỗi buồn chung của một thời đại đầy biến động. Về nghệ thuật, bài thơ thành công rực rỡ nhờ thủ pháp điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy..." tạo nhịp điệu chậm rãi như những thước phim quay chậm, gợi sự quan sát tinh tế và lòng trắc ẩn sâu sắc. Hình ảnh "bóng" được sử dụng xuyên suốt bài thơ như một ẩn dụ nghệ thuật đắt giá, khắc họa sự nhỏ bé, cô độc và mong manh của kiếp người trước dòng đời xô bồ. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi hình, gợi cảm, kết thúc bằng câu hỏi tu từ "Buồn ở đâu hơn ở chốn này?" đã kết đọng lại toàn bộ không gian sầu não, khiến bài thơ trở thành một trong những tác phẩm hay nhất viết về đề tài ly biệt trong văn học Việt Nam.

câu 2:

Trong một thế giới đầy rẫy những con đường mòn quen thuộc, câu nói đầy tính triết lý của nhà thơ vĩ đại Robert Frost vang lên như một lời hiệu triệu: "Trong rừng có nhiều lối đi / Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người". Đây không chỉ là một lựa chọn cá nhân của người nghệ sĩ, mà còn là một tuyên ngôn mạnh mẽ về tinh thần chủ động tạo ra lối đi riêng, dấn thân vào sự sáng tạo, khác biệt trong cuộc sống. Sự chủ động này là chìa khóa mở ra cánh cửa của bản lĩnh, thành công và ý nghĩa đích thực của một đời người. Cuộc sống vốn dĩ là một khu rừng rậm với vô vàn ngã rẽ. Những lối đi đã có dấu chân người thường mang lại cảm giác an toàn, ít rủi ro hơn. Đó có thể là những ngành nghề truyền thống được xã hội trọng vọng, những khuôn mẫu sống đã được định sẵn, hay đơn giản chỉ là việc đi theo đám đông để không bị lạc lõng. Lựa chọn lối đi này không sai, nhưng nó dễ dẫn đến sự mờ nhạt, dập khuôn và đánh mất bản sắc cá nhân. Ngược lại, việc "chọn lối đi chưa có dấu chân người" đòi hỏi một tinh thần chủ động phi thường, một bản lĩnh dám nghĩ, dám làm và dám chấp nhận thử thách. Sự chủ động trong việc lựa chọn lối đi riêng không phải là sự cố chấp hay chống đối xã hội, mà là sự lắng nghe tiếng nói bên trong, thấu hiểu đam mê và năng lực của bản thân để theo đuổi những giá trị độc đáo. Khi chọn con đường chưa ai đi, chúng ta buộc phải tự mình khai phá, tự mình giải quyết vấn đề và tự mình chịu trách nhiệm cho mọi quyết định. Chính quá trình này rèn luyện nên sự kiên cường, khả năng thích nghi và tư duy sáng tạo không ngừng nghỉ. Sáng tạo trong cuộc sống không chỉ giới hạn trong lĩnh vực nghệ thuật hay khoa học, mà len lỏi trong từng hành động, từng suy nghĩ hàng ngày. Đó là cách một giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy để truyền cảm hứng cho học sinh, cách một doanh nhân tìm ra mô hình kinh doanh bền vững, hay cách một người bình thường giải quyết những mâu thuẫn gia đình bằng sự thấu hiểu và tình thương. Sự sáng tạo bắt nguồn từ khao khát cải thiện hiện trạng, vượt ra ngoài những giới hạn đã được thiết lập. Tuy nhiên, việc theo đuổi lối đi riêng và sự sáng tạo không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng. Con đường vắng dấu chân người thường gập ghềnh, đầy rẫy chông gai, hiểu lầm và cả sự thất bại. Đôi khi, sự khác biệt bị nhìn nhận như một điều lập dị. Nhưng lịch sử đã chứng minh, những người tạo nên sự thay đổi vĩ đại nhất, từ các nhà khoa học, nhà phát minh đến các nghệ sĩ tiên phong, đều là những người dám đi ngược dòng. Họ là minh chứng sống cho việc phần thưởng lớn nhất không nằm ở đích đến an toàn, mà nằm ở chính cuộc hành trình khai phá. Tóm lại, thông điệp mà Robert Frost gửi gắm vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Sống một cuộc đời ý nghĩa là chủ động cầm lái số phận của chính mình, dũng cảm chọn lối đi chưa có dấu chân người và không ngừng sáng tạo để định hình nên bản sắc riêng biệt. Mỗi người chúng ta đều có quyền và trách nhiệm tạo nên dấu ấn độc đáo của mình trên tấm thảm muôn màu của cuộc đời, thay vì chỉ là một cái bóng mờ nhạt lướt qua những con đường đã cũ.

câu 1: văn bản sử dụng thể thơ tám chữ câu 2: các vần được sử dụng trong câu : bay, tay, mắt, này. kiểu vần: bài thơ chủ yéu dùng vần chân vad vần gián cách câu 3:

-biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt bài thơ: + ẩn dụ: bóng người, bóng xiêu xiêu, bóng chạy dài, lưng còng đổ bóng, bóng lẻ + điệp ngữ : có lần tôi thấy, những

- tắc dụng của biện pháp tu từ:

+ tăng sức gợi hình gọi cảm, tằng tính sinh động hấp dân, cô dọng, giá trị biểu đạt cao gọi những liên tưởng ý nhị . tạo nhịp điệu , giọng điệu, tăng liên kết cho các dòng thơ. + Hình ảnh" bóng" là ẩn dụ cho sự hiện diện, số phận và tâm trạng con người khi chia li, nó nhấn manhj sự nhỏ bé, cô đơn mỏng manh của con người trước khoảnh khắc sinh ly tử biệt. Điệp ngữ " có lần tôi thấy " tạo nhịp điệu, nhấn mạnh cảm giac như một thước phim quay chậm của những cảnh chia li. làm cho khoảnh khắc ấy trở nên chân thực và ám ảnh hơn. câu 4;

- đề tài của bải thơ: sự chia li

- chủ đề : nỗi buồn sâu lắng, day dứt của con người trước những cuộc chia li, qua đs thể hiện tình cảm gia đình, tình yêu, tình đồng trí và sự đồng cảm của tác giả với những số phận người phiêu bạt.

Câu 1: Trong truyện ngắn "Anh béo và anh gầy" của nhà văn Sê-khốp, ông đã xây dựng thành công hai nhân vật: anh gầy- một hình tượng điển hình cho một thói nô lệ và tâm lý sùng bái chức tước trong xã hội Nga cũ. Ban đầu, anh gầy hiện lên với vẻ tần tảo. lam lũ của một viên chức nhỏ nhưng tràn đầy sự chân thành, vốn vã khi gặp lại bạn cũ. Anh tự nhiên chia sẻ về gia đình, công việc làm thêm tẩu thuốc để mưu sinh. Tuy nhiên, bước ngoặt tâm lý đã sảy ra khi anh biết người bạn mình đã leo lên tới chức " viên chức bậc ba". Sự biến đổi của anh gầy được miêu tả cực kì sâu sắc: từ gương mặt "tái mét" đến điệu cười " nhăn nhúm" và tư thế "rúm ró, khúm núm". Anh gầy không chỉ thay đổi cách xưng hô thành " bẩm quan trên" mà còn đánh mất hoàn toàn lòng tự trọng và tình bạn thiêng liêng để thay thế bằng sự khiếp sợ trước quyền lực. Thậm chí, ngay cả những vật vô tri gắn với chủ nhân cũng đang sợ hãi như chủ nhân của nó. Qua nhân vật anh gầy, Sê- khốp đã thể hiện sự châm biếm về thói " nô lệ hóa" của con người, khi họ tự nguyện biến mình thành thấp hèn trước danh vọng, từ đó đặt ra vấn đề nhức nhối về nhân cách và phẩm giá trong một xã hội phân chia đẳng cấp ngặt nghèo trong xã hội. Câu 2:

Trong cuộc sống, cùng một sự việc xảy ra nhưng mỗi người lại có một cách phản ứng khác nhau. Có người nhìn đâu cũng thấy khó khăn, có người lại luôn tìm thấy cơ hội trong nghịch cảnh. Bàn về việc lựa chọn góc nhìn, có ý kiến cho rằng: "Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng". Câu nói giản dị nhưng chứa đựng một triết lý nhân sinh sâu sắc về thái độ sống tích cực.

Hình ảnh "bụi hồng có gai" và "bụi gai có hoa hồng" thực chất là hai cách nhìn về cùng một đối tượng. "Gai" tượng trưng cho những khó khăn, khiếm khuyết, những mặt trái đầy khắc nghiệt của cuộc đời. Ngược lại, "hoa hồng" biểu tượng cho cái đẹp, niềm vui và thành quả ngọt ngào. Ý kiến trên chỉ ra hai lựa chọn: Một là thái độ tiêu cực, chỉ chăm chú vào những khiếm khuyết để than vãn; hai là thái độ lạc quan, trân trọng những giá trị tốt đẹp ngay cả trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất. Tại sao chúng ta nên chọn cách nhìn "bụi gai có hoa hồng"? Bởi lẽ, thực tế cuộc đời vốn dĩ không bao giờ hoàn hảo. Mọi thành công đều đi kèm với mồ hôi, mọi niềm hạnh phúc đều ít nhiều nếm trải đắng cay. Nếu chỉ biết phàn nàn về những chiếc "gai", chúng ta sẽ tự bao vây mình trong sự bực dọc, chán nản. Khi đó, đôi mắt ta chỉ thấy sự đau đớn mà quên mất vẻ đẹp rực rỡ và hương thơm của đóa hoa hồng ngay trước mặt. Ngược lại, việc tập trung vào "hoa hồng" giúp chúng ta có thêm động lực để vượt qua những trở ngại. Góc nhìn tích cực giống như một lăng kính diệu kỳ, biến nỗi đau thành bài học và biến thử thách thành cơ hội để trưởng thành. Trong văn chương, nhân vật anh Béo và anh Gầy của Sê-khốp cho thấy một góc nhìn bị méo mó bởi địa vị xã hội. Anh Gầy nhìn người bạn cũ không còn là "hoa hồng" của tình bạn thơ ấu mà chỉ thấy cái "gai" của quyền uy bậc trên, dẫn đến thái độ khúm núm đến đáng thương. Trong thực tế, hãy nhìn vào những người khuyết tật nhưng vẫn vươn lên thành công: họ không phàn nàn vì cơ thể thiếu hụt (bụi hồng có gai) mà vui mừng vì tâm hồn vẫn tràn đầy sức sống và trí tuệ (bụi gai có hoa hồng). Nick Vujicic hay thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký chính là những minh chứng sống động nhất cho việc chọn cách nhìn lạc quan để dâng hiến cho đời những "đóa hồng" rực rỡ nhất. Tuy nhiên, lựa chọn cách nhìn lạc quan không đồng nghĩa với việc lãng mạn hóa thực tế một cách mù quáng hay lờ đi những nguy hiểm. Chúng ta nhìn thấy hoa hồng nhưng vẫn phải cẩn trọng với những chiếc gai để không bị tổn thương. Một cái nhìn đúng đắn là sự kết hợp giữa tinh thần lạc quan và sự tỉnh táo để cải tạo hoàn cảnh, biến "bụi gai" khô cằn thành vườn hồng tươi tốt. Tóm lại, hạnh phúc không nằm ở chỗ chúng ta có bao nhiêu thuận lợi, mà nằm ở cách chúng ta nhìn nhận những gì mình đang có. Thay vì tốn thời gian phàn nàn về những khiếm khuyết của cuộc đời, hãy học cách mỉm cười trước những vẻ đẹp nhỏ bé nhất. Khi bạn thay đổi cách nhìn, cả thế giới sẽ thay đổi theo hướng tốt đẹp hơn. Đừng để những chiếc gai làm bạn sợ hãi mà quên mất rằng mình đang sở hữu cả một đóa hồng thắm tươi.

câu 1: thể loại của văn bản : truyện ngắn câu2 : đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy:"  Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..." câu 3: tình huống truyện của văn bản :Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ tình cờ giữa hai người bạn cũ (anh Béo và anh Gầy) tại ga tàu hỏa. Sự kịch tính nảy sinh khi họ trao đổi về địa vị xã hội: từ sự hồ hởi, thân mật của tình bạn thuở thơ ấu chuyển sang sự ngăn cách, khúm núm của tôn ti trật tự khi anh Gầy biết anh Béo có chức vụ cao hơn mình rất nhiều. câu 4: so sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo: - Trước khi biết cấp bậc của anh béo: anh gầy tỏ vẻ vồn vã, tự nhiên, thân mật. Anh dùng đại từ " cậu- mình", ôm hôn thắm thiết, say sưa kể về gia đình, công việc và gợi lịa những kỉ niệm nghịch ngợm thời đi học với tâm thế ngang hàng. - Sau khi biết cấp bậc của anh béo: thái độ của anh thay đổi. Anh gầy trở nên kinh sợ, sùng bái quá mức và khúm núm. Anh thay đổi cách xưng hô với anh béo : " dạ, bẩm quan trên", "quan lớn" tự gọi mình là " kẻ bần dân". không chỉ vậy, điệu cười và cử chỉ cơ thể cũng trở nên méo mó và tội nghiệp để thể hiện sự phục tùng. câu 5 : nội dung của văn bản; là sự phê phán thói xu nịnh, khúm núm, nô lệ hóa trước cường quyền và địa vị của một bộ phận viên chức trong xã hội Nga cũ. Qua đó, tác giả châm biếm sâu sắc sự tha hóa của con người khi để những bậc thang danh vọng làm biến dạng nhân cách và giết chết những tình cảm bạn bè trong sáng.

Câu 1:

Trong đoạn trích từ "Sống mòn", nhân vật Thứ hiện lên là một hình ảnh tiêu biểu và đầy bi kịch cho thế hệ trí thức tiểu tư sản Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám: có học thức, hoài bão, nhưng lại bất lực và bế tắc trước hiện thực xã hội ngột ngạt, đói nghèo.Nam Cao đã khắc họa Thứ bằng nghệ thuật miêu tả nội tâm bậc thầy. Thứ là người có ý thức sâu sắc về giá trị bản thân và bi kịch "sống mòn". Anh day dứt, uất ức khi nhận ra những ước mơ cao đẹp thời niên thiếu đã tan biến, thay vào đó là viễn cảnh một cuộc đời "mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê", phải "ăn bám vợ" và bị khinh bỉ. Nỗi sợ hãi lớn nhất của anh không phải cái chết thể xác, mà là "chết ngay trong lúc sống", một cái chết tinh thần nhục nhã.Tuy nhiên, bi kịch của Thứ không chỉ nằm ở hoàn cảnh khách quan, mà còn ở chính sự nhu nhược, hèn yếu của bản thân. Dù khao khát phản kháng ("Không! Y sẽ không chịu về quê. Ý sẽ đi bất cứ đâu..."), ý chí của Thứ nhanh chóng bị dập tắt bởi "thói quen, lòng sợ hãi sự đổi thay". Anh nhận thức rõ sự yếu đuối của mình ("Y nhu nhược quá, hèn yếu quá!") nhưng lại buông xuôi, "để mặc con tàu mang đi" về nơi chôn vùi mọi hy vọng.Qua nhân vật Thứ, Nam Cao không chỉ tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến đã bóp nghẹt lý tưởng sống của con người, mà còn đặt ra một triết lí nhân sinh sâu sắc: sự hèn nhát, thiếu bản lĩnh hành động chính là nguyên nhân khiến con người tự đẩy mình vào bi kịch, biến mình thành "con trâu" cắm cúi chịu đựng sợi dây thừng số phận. Thứ vừa đáng thương, vừa đáng trách, trở thành hồi chuông cảnh tỉnh day dứt về ý nghĩa của sự sống và sự cần thiết phải đấu tranh để sống một đời sống đích thực.

Câu 2

Lời phát biểu đầy tính chiêm nghiệm của đại văn hào Gabriel Garcia Marquez: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ” là một lời khẳng định sâu sắc về mối quan hệ mật thiết giữa khát vọng sống, ước mơ và chính sức sống, tuổi trẻ của con người. Câu nói này khơi dậy một vấn đề cốt lõi: Tuổi trẻ không đơn thuần là một mốc thời gian vật lý, mà là một trạng thái tinh thần, được duy trì và nuôi dưỡng bằng ngọn lửa của những ước mơ.

Ước mơ là động lực khởi tạo mọi sự sống và phát triển. Đối với tuổi trẻ, ước mơ càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết, bởi đây là giai đoạn sung sức nhất về cả thể chất lẫn tinh thần, là thời điểm lý tưởng để gieo mầm và theo đuổi những khát vọng lớn lao. Tuổi trẻ gắn liền với sự dấn thân, với khát khao khẳng định mình, vượt qua giới hạn của bản thân. Ước mơ chính là ngọn hải đăng soi đường cho những chuyến hải trình đầu tiên đầy bão tố đó. Thiếu ước mơ, tuổi trẻ trở nên vô định, lạc lối, giống như một con tàu không bánh lái trôi dạt giữa đại dương mênh mông.

Lời phát biểu của Marquez nhấn mạnh một thực tế: sự "già đi" đích thực không phải là những nếp nhăn trên khuôn mặt hay mái tóc bạc, mà là sự héo mòn của tâm hồn khi con người từ bỏ khát vọng. Khi một người ngừng mơ ước, ngừng nỗ lực, họ tự giam mình trong sự an toàn, trì trệ. Sự hài lòng với hiện tại, sự sợ hãi thay đổi (như nhân vật Thứ trong đoạn trích "Sống mòn" của Nam Cao đã nhận ra), chính là dấu hiệu của sự "già nua" trong tâm hồn. Ngược lại, những người dù đã cao tuổi nhưng vẫn giữ trong mình nhiệt huyết, vẫn miệt mài theo đuổi mục tiêu, cống hiến, thì tinh thần của họ vẫn mãi mãi trẻ trung.

Tuy nhiên, hành trình theo đuổi ước mơ của tuổi trẻ không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng. Đó là một quá trình đòi hỏi sự kiên trì, bản lĩnh và sẵn sàng đối mặt với thất bại. Tuổi trẻ thường đi kèm với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm, và đôi khi là những sai lầm. Nhưng chính những vấp ngã đó lại là bài học quý giá, rèn luyện ý chí và giúp ước mơ trở nên hiện thực hơn, trưởng thành hơn. Điều quan trọng là không bao giờ được phép từ bỏ. Sự kiên định, bền bỉ chính là yếu tố then chốt biến khát vọng thành hiện thực.

Trong bối cảnh thế giới hiện đại đầy biến động, tuổi trẻ càng cần phải nuôi dưỡng những ước mơ lớn, không chỉ cho bản thân mà còn cho cộng đồng, cho tương lai. Những ước mơ đó có thể là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, cống hiến cho khoa học, bảo vệ môi trường, hay đơn giản chỉ là trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. Mỗi ước mơ, dù lớn hay nhỏ, đều góp phần tạo nên một cuộc sống ý nghĩa và một xã hội năng động. Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng "tuổi trẻ và ước mơ" là hai khái niệm song hành, bổ trợ lẫn nhau. Ước mơ định hình tuổi trẻ, và tuổi trẻ hiện thực hóa ước mơ.Chúng ta những người trẻ hãy giữ vững ngọn lửa khát vọng, dám nghĩ, dám làm và không ngừng dấn thân. Hãy sống trọn vẹn từng khoảnh khắc tuổi trẻ bằng nhiệt huyết của trái tim và sự dẫn lối của những ước mơ.


Câu 1:

Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là điểm nhìn bên trong.

Câu 2:

- Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Thứ đã ấp ủ những ước mơ, hoài bão, cai đẹp:

+Về học vấn : anh muốn đỗ đạt cao ( "Y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây,...").

+Về sự nghiệp và lý thưởng sống :Trở thành người có ích, làm nên nghiệp lớn, đóng góp cho xã hội ("Y sẽ thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình.")

Câu 3:

- Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn trên là:

+ điệp từ : " y "

+ liệt kê : " ăn bám vơ","mốc lên" ,"gỉ đi", "sẽ mục ra",...

- Tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn trên là :

+ tăng sức gợi hình gợi cảm, tạo nhịp điệu cho đoạn văn.

+ nhấn mạnh và làm nổi bật bi kịch lớn nhất trong suy nghĩ của Thứ : sự bế tắc, tuyệt vọng trước viễn cảnh tương lai mờ mịt , vô nghĩa. Các hành động như : " mốc lên, gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra" được liệt kê thể hiện sự sợ sệt, lo lắng và là sự tàn lụi, mục ruỗng cả về thể xác lẫn tinh thần của Thứ. Sự lặp lại về sự sợ hãi về việc bị mọi người coi thường : "Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y" thể hiện sự tự ti, nỗi nhục nhã, dằn vặt nội tâm của một trí thức có lòng tự trọng nhưng bất lực trước hoàn cảnh. Câu cảm thán "Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!..." đúc kết bi kịch "sống mòn", cái chết tinh thần còn đáng sợ hơn cái chết thể xác.

+ Từ đó tác giả thể hiện sự mệt mỏi, sự lo lắng, sự nhục nhã của một trí thức trẻ có ước mơ và đầy tham vọng bị dòng đời đánh gục, sự quàn quại trong tuyệt vọng và sợ hãi trước ánh mắt người rồi chết đi về mặt tâm hồn.

Câu 4:

Qua đoạn trích, cuộc sống và con người nhân vật Thứ hiện lên đầy bi kịch và mâu thuẫn:

- Cuộc sống: Bế tắc cùng cực, nghèo khổ, không lối thoát. Từ một thanh niên có hoài bão, Thứ dần bị hoàn cảnh sống còm rom thu hẹp lại, chỉ dám nghĩ đến chuyện sinh tồn cơ bản, và cuối cùng đối mặt với nguy cơ thất nghiệp, phải "ăn bám vợ".

- Con người :

+ anh là người giàu ý thức và tự trọng : Thứ nhận thức sâu sắc về sự "sống mòn", sợ bị khinh bỉ, sợ cái chết tinh thần ("Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã"). Y khao khát vươn lên, thay đổi số phận ("Không! Y sẽ không chịu về quê. Ý sẽ đi bất cứ đâu, mặc rủi may...").

+ tuy nhiên anh là người nhu nhược, hèn yếu và bất lực: Ý chí phản kháng chỉ tồn tại trong suy nghĩ thoáng qua rồi nhanh chóng bị dập tắt bởi thói quen, sợ hãi và hoàn cảnh hiện thực. Y biết mình sẽ không cưỡng lại được số phận, biết mình "nhu nhược quá, hèn yếu quá" và buông xuôi mặc cho "con tàu mang đi".

câu 1:

Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực cuộc sống và tâm tư tình cảm của con người. Trong dòng chảy bất tận của văn học Việt Nam, nhà văn Nguyễn Thị Ấm nổi lên như một cây bút tài năng với những tác phẩm có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tiêu biểu phải nhắc đến tác phẩm " sao sáng lấp lánh". Tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc tới đọc giả nhờ những nét đặc trưng trong nghệ thuật kể chuyện, tập trung chủ yếu vào việc xây dựng tình huống truyện độc đáo và nghệ thuật biểu tượng sâu sắc. Tình huống truyện là điểm sáng của câu chuyện, tình huống truyện được xây dựng bất ngờ và kịch tính. Câu chuyện được dẫn dắt khéo léo từ một buổi tán gẫu vui vẻ nơi chiến trường đến câu chuyện tình lãng mạn của Minh, khiến người đọc tin đó là sự thật. Bước ngoặt bất ngờ xảy ra ở cuối truyện, khi Minh thổ lộ câu chuyện tình chỉ là tưởng tượng, tạo ra sự đảo lộn cảm xúc mạnh mẽ. Tình huống này không chỉ gây sốc mà còn làm nổi bật bi kịch về nỗi cô đơn cùng khát khao tình cảm mãnh liệt của người lính trẻ. Ngoài ra nhan đề của tắc phẩm cũng mang nhiều ý nghĩa nghệ thuật và nhân văn. Hình ảnh "sao sáng lấp lánh" vừa là đôi mắt cô gái trong mơ, vừa là ước mơ, niềm tin về hạnh phúc, hòa bình. Nó đối lập với sự khốc liệt của chiến tranh, trở thành nguồn sáng lấp lánh trong tâm hồn người lính. Ngôi kể thứ nhất tạo nên sự chân thực và gần gũi đáng tin cậy, như chính bản thân đọc giả được trải qua những sự kiện trong truyện. Như khi nhân vật " tôi " cảm thấy xót xa, bàng hoàng trước cái chết của Minh cảm xúc của nhân vật được truyền tải trực tiếp, chạm tới trái tim người. Những thủ pháp nghệ thuật tinh tế, truyện ngắn " sao sáng lấp lánh " không chỉ tái hiện chân thực chiến tranh tàn khốc mà còn thành công khắc họa thành công vẻ đẹp tâm hồn, sự hi sinh thầm lặng của thế hệ thanh niên Việt Nam thời kháng chiến .

câu 2 :

Cuộc sống là một hành trình dài chứa muôn vàn thử thách, con người không chỉ cần điểm tựa vật chất để tồn tại mà còn cần một điểm tựa tinh thần vững chắc để vượt qua những thử thách của cuộc đời.

Điểm tựa tinh thần có thể chỉ đơn giản là một giá trị, một niềm tin, một mối quan hệ hay là mục tiêu của cuộc đời, ước mơ về tương lai. Điểm tựa tinh thần có thể là bất cứ điều gì dù là nhỏ nhặt nhất nhưng nó là một yếu tố quan trọng quyết định chất lượng đời sống tinh thần của một cá nhân.

Điểm tựa tinh thần đóng vai trò như một chiếc neo giữ vững tinh thần của một người trong thời khắc gian nan nhất. Cuộc sống không phải con đường thẳng trải hoa, trong cuộc sống luôn tồn tại sự mất mát, thất vọng và áp lực. Khi phải đối diện với vực thẳm của sự tuyệt vọng và mệt mỏi chính điểm tựa tinh thần sẽ ngăn ta chìm sâu xuống. Nó giúp con người cân bằng lại tâm hồn , xoa dịu những vết thương vô hình trong tim và là tấm khiên bảo vệ ta trong nghịch cảnh. Hơn thế nữa, điểm tựa tinh thần là nguồn năng lượng tái tạo vô tận, thúc đẩy con người phát triển bản thân. Một mục tiêu rõ ràng cho tương lai và một lí tưởng sống cao đẹp chính là một điểm tựa tinh thần vững chắc nhất. Nó đinh hướng tâm hồn và hành động, tiếp thêm năng lượng, thêm nhiệt huyết để ta theo đuổi đam mê dù có gặp khó khăn. Trong truyện ngắn "Sao sáng lấp lánh", dù câu chuyện tình của Minh chỉ là tưởng tượng, nhưng hình bóng "cô gái có đôi mắt như vì sao sáng lấp lánh" chính là điểm tựa tinh thần giúp anh vơi đi nỗi cô đơn, giữ vững tinh thần lạc quan và dũng cảm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Điều này chứng minh rằng, ngay cả trong hoàn cảnh khốc liệt nhất, điểm tựa tinh thần vẫn là ngọn hải đăng soi đường, giữ lửa hy vọng.

Trong bối cảnh hiện tại đầy biến động và cạnh tranh, ý nghĩa của điểm tựa tinh thần càng trở nên quan trọng . Con người dễ bị rơi vào trạng thái lo âu, mệt mỏi. Việc tim kiếm và xây dựng điểm tựa tinh thần, dù là qua nghệ thuật, hoạt động cộng đồng hay chỉ đơn giản là dành thời gian cho những mối quan hệ lành mạnh đều là những cách hay để bảo vệ sức khỏe tâm thần. Nó giúp chúng ta gạt bỏ được căng thẳng và hơn nữa là kết nối với thế giới xung quoanh.

Tuy nhiên chúng ta nên nhận thức rõ rằng điểm tựa tinh thần là những giá trị tích cực, lành mạnh. Nếu điểm tựa tinh thần là những điều tiêu cực những mộng tưởng viên vông, hay phụ thuộc thái quá vào người khác với những niềm tin cực đoan, nó sẽ trở thành sự troi buộc thậm chí biến bản thân thành một người có tâm lí vặn vẹo, gây phiền phức hay nguy hiểm cho bản thân và những người xung quanh.

Điểm tựa tinh thần không phải điều xa xỉ, mà là nhu cầu thiết yếu , một khiên chắn vững vàng cho một cuộc đời trọn vẹ và kiên cường. Xây dựng cho mình một điểm tựa tinh thần vững chắc chính là bí quyết để mỗi người cs thể đứng vững trước bão táp của cuộc đời, tìm thấy hạnh phúc đích thực và cuộc sống có ý nghĩa.



câu 1 : thể loại của văn bản trên là truyện ngắn

câu 2 : Dấu ... trong câu văn có tác dụng:

- Thể hiện sự ngắt quãng, kéo dài cảm xúc hoặc dòng suy nghĩ của những người lính.

- Tạo không gian trống, gợi sự liên tưởng của đọc giả .

câu 3 :

-Tình huống truyện bất ngờ và kịch tính nhưng lại đầy bi kịch, :

+ câu truyện tình yêu đẹp qua lời kể của anh lính tên Minh, anh có một cô người yêu xinh đẹp học trường múa đang đợi mình quay về. làm cả đội xao xuyến không ngủ được.

+sự thật về câu chuyện tình yêu được tiết lộ ở cuối truyện khi Minh hi sinh, anh tiết lộ rằng ấy chỉ là tưởng tượng của anh. Đây là một sự thật gây sốc làm đảo lộn nhận thức của nhân vật "tôi" và đọc giả.

+ lá thư cuối cùng của Minh : sự tương phản giữa câu truyện tình đẹp đẽ và dòng chữ cô đơn trong lá thư "Hạnh ơi!,,,Anh cô đơn lắm..." tạo nên bi kịch sâu sắc về nỗi khao khát tình thân, tình yêu của người lính mồ côi''

- Nhận xét về tình huống truyện:Từ những tình huống này giúp bộc lộ chiều sâu tâm hồn nhân vật, làm nổi bật sự hi sinh thầm lặng và nỗi cô đơn day dứt của người lính trẻ trong chiến tranh.

câu 4 :

Nhan đề " ánh sao lấp lánh" mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc :

- nghĩa đen : đây là hình ảnh thực tế của những vì sao trên bầu trời sao đêm chiến khu mà những người lính đã ngước nhìn sau khi nghe câu chuyện của Minh. Đó cũng là hình ảnh so sánh với đôi mắt của cô gái tên Hạnh.

- ý nghĩa biểu tượng :

+ đây là ước mơ, niềm tin và hi vọng của những người lính trẻ : hình ảnh " ánh sao" đại diện cho ước mơ nhỏ, trong trẻo về tình yêu, hạnh phúc và ngày hòa bình của những người lính trẻ. Dù trong hoàn toàn cảnh khốc liệt, họ vẫn giữ những niềm tin lấp lánh.

+ vẻ đẹp tâm hồn của người lính : vẻ đẹp tâm hồn thuần khiết, lãng mạn, sự kiên cường và lòng chung thủy với lý tưởng của những người lính , những người đã trở thành những " vì sao" ( anh hùng liệt sĩ) tỏa sáng trên bầu trời của đất nước.

câu 5:

-Hình tượng người lính trong văn bản được khắc họa rất chân thực, gần gũi và cảm động :

+ các anh là người trẻ trung, lạc quan và giàu tình cảm : họ là những anh chàng mới đôi mươi, yêu đời, thích tán gẫu, quý mến nhau như anh em ruột thịt. Họ có những rung động, khát khao tình yêu đôi lứa.

+ các anh là người giàu ước mơ và lãng mạn: đặc biệt là qua nhân vật Minh, người lính hiện lên với một tâm hồn mơ mộng, khao khát tình yêu, nuôi dưỡng một chuyện tình yêu tưởng tượng, để vơi đi nỗi cô đơn và sự thiếu thốn tình thân nơi chiến trường.

+ các anh còn là người kiên cường, dũng cảm và hi sinh thầm lặng : khi đối mặt với cái chết, Minh không sợ hãi mà bình thản dò đồng đội, lo lắng cho nhiệm vụ chung. Sự hi sinh cao cả, lặng lẽ, không đòi hỏi sự đền đáp.

- thông qua câu chuyện, người lính hiện lên vừa là những chiến sị anh dũng, vừa là những con người bình thường với những nỗi niềm, khao khát nhân văn.