NGUYỄN NGỌC BẢO LINH

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của NGUYỄN NGỌC BẢO LINH
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Thể loại của văn bản là: truyện ngắn

Câu 2:

Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái,biểu cảm của gia đình anh gầy: "Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…"

Câu 3:

Tình huống của văn bản trên là: Cuộc gặp gỡ tình cờ tại sân ga giữa hai người bạn cũ (Pơ-phi-ri - anh gầy và Mi-sa - anh béo)

Câu 4:

-Thái độ của anh gầy đối với anh béo trước khi biết được cấp bậc của anh béo: Vui mừng khôn xiết, vồn vã, thân mật, gọi anh béo là "bạn từ thuở nhỏ", "cậu", tự nhiên khoe về gia đình và công việc của mình.

-Thái độ của anh gầy đối với anh béo sau khi biết được cấp bậc của anh béo: Run sợ, sùng bái thái quá, chuyển sang cách xưng hô "quan lớn", "bẩm quan trên", cử chỉ thì rúm ró, khúm núm, nịnh nọt đến mức làm cho anh béo cảm thấy buồn nôn.

Câu 5:

Nội dung của văn bản là: Văn bản phê phán và mỉa mai thói nịnh bợ, nô lệ, tôn thờ tôn ti trật tự một cách mù quáng của một bộ phận viên chức trong xã hội Nga thời bấy giờ. Đồng thời, tác phẩm cho thấy sự tha hóa của con người khi đối diện với quyền lực và địa vị, làm mất đi sự chân thành trong những mối quan hệ tình bạn cao đẹp.


Câu 1:

Thể loại của văn bản là: truyện ngắn

Câu 2:

Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái,biểu cảm của gia đình anh gầy: "Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…"

Câu 3:

Tình huống của văn bản trên là: Cuộc gặp gỡ tình cờ tại sân ga giữa hai người bạn cũ (Pơ-phi-ri - anh gầy và Mi-sa - anh béo)

Câu 4:

-Thái độ của anh gầy đối với anh béo trước khi biết được cấp bậc của anh béo: Vui mừng khôn xiết, vồn vã, thân mật, gọi anh béo là "bạn từ thuở nhỏ", "cậu", tự nhiên khoe về gia đình và công việc của mình.

-Thái độ của anh gầy đối với anh béo sau khi biết được cấp bậc của anh béo: Run sợ, sùng bái thái quá, chuyển sang cách xưng hô "quan lớn", "bẩm quan trên", cử chỉ thì rúm ró, khúm núm, nịnh nọt đến mức làm cho anh béo cảm thấy buồn nôn.

Câu 5:

Nội dung của văn bản là: Văn bản phê phán và mỉa mai thói nịnh bợ, nô lệ, tôn thờ tôn ti trật tự một cách mù quáng của một bộ phận viên chức trong xã hội Nga thời bấy giờ. Đồng thời, tác phẩm cho thấy sự tha hóa của con người khi đối diện với quyền lực và địa vị, làm mất đi sự chân thành trong những mối quan hệ tình bạn cao đẹp.


Câu 1:

Bài làm


Trong truyện ngắn Sao sáng lấp lánh, Nguyễn Thị Ấm đã vận dụng nhiều nét nghệ thuật đặc sắc để tạo nên sức lay động mạnh mẽ. Trước hết, truyện được xây dựng bằng ngôi kể thứ nhất, giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc và gần gũi như lời tâm sự của người lính từng trải qua chiến trường. Tác giả cũng rất thành công trong việc xây dựng tình huống bất ngờ: từ câu chuyện về “người yêu tưởng tượng”, người đọc dần nhận ra nỗi lòng cô đơn và số phận mồ côi của Minh – một người lính trẻ chưa kịp yêu ai. Đây chính là điểm tạo chiều sâu nhân văn cho truyện. Bên cạnh đó, nghệ thuật khắc họa nhân vật bằng lời thoại tự nhiên, hóm hỉnh nhưng ẩn chứa nhiều tâm sự cũng góp phần làm nổi bật tính cách Minh: hồn nhiên, giàu mơ ước nhưng đầy thiệt thòi. Hình ảnh “những vì sao lấp lánh” được sử dụng như một biểu tượng nghệ thuật cho vẻ đẹp tâm hồn người lính và những ước mơ nhỏ nhoi giữa chiến tranh. Giọng văn nhẹ nhàng, giàu chất trữ tình đã hòa quyện khéo léo với chất bi thương, tạo nên một truyện ngắn vừa cảm động vừa ám ảnh.

Câu 2:

Bài làm


Trong hành trình sống, mỗi con người đều phải đối diện với vô vàn thử thách: áp lực học tập, sự thất bại, nỗi buồn, mất mát hay những ước mơ còn dang dở. Trong những khoảnh khắc khó khăn ấy, điều nâng đỡ chúng ta mạnh mẽ nhất không chỉ là vật chất hay tri thức, mà chính là điểm tựa tinh thần – nơi ta gửi gắm niềm tin, sức mạnh và ý chí để tiếp tục bước đi. Vậy điểm tựa tinh thần có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống mỗi người?


Điểm tựa tinh thần có thể là gia đình, bạn bè, một người thầy, một niềm tin, một lý tưởng sống, thậm chí một điều giản dị như âm nhạc hay một sở thích riêng. Đây là nguồn sức mạnh vô hình giúp con người vững vàng hơn trước biến cố, tránh được sự chán nản, buông xuôi. Khi có điểm tựa tinh thần, con người sẽ biết rằng mình không đơn độc; luôn có nơi để trở về, có điều để hi vọng, có mục tiêu để phấn đấu. Nhờ vậy, ta dễ dàng vượt qua áp lực, giữ được cân bằng cảm xúc, nhìn nhận vấn đề sáng suốt hơn.


Điểm tựa tinh thần còn giúp con người nuôi dưỡng giá trị tốt đẹp trong tâm hồn. Một học sinh có gia đình luôn ủng hộ sẽ tự tin hơn trong học tập; một người trẻ tin vào lý tưởng sống tốt đẹp sẽ biết hướng thiện, sống có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. Điểm tựa tinh thần cũng chính là động lực để con người dám mơ ước, dám vượt qua giới hạn của chính mình. Nhiều người thành công trên thế giới đều thừa nhận rằng niềm tin vào bản thân và sự động viên từ những người thân yêu là “chìa khóa” dẫn họ đi xa.


Tuy nhiên, điểm tựa tinh thần không tự nhiên mà có. Mỗi người cần chủ động xây dựng cho mình một nền tảng tinh thần vững chắc: trân trọng tình thân, mở lòng với người khác, rèn luyện ý chí và niềm tin, đồng thời nuôi dưỡng đam mê lành mạnh. Bên cạnh đó, ta cũng nên trở thành điểm tựa tinh thần cho những người xung quanh, bởi sự sẻ chia luôn mang lại giá trị rất lớn trong cuộc sống.


Cuộc sống luôn chứa đựng nhiều biến động, nhưng một người có điểm tựa tinh thần sẽ không dễ bị quật ngã. Đó là sức mạnh giúp ta kiên trì hơn, nhân ái hơn và trưởng thành hơn. Vì thế, mỗi chúng ta hãy biết trân trọng, nuôi dưỡng và giữ gìn những điểm tựa tinh thần của riêng mình, để dù trước phong ba nào, ta vẫn luôn có một nơi để hướng về và một niềm tin để tiếp tục bước tới tương lai.

Câu 1: Thể loại của văn bản là Truyện ngắn

Câu 2:

Tác dụng của dấu ba chấm trong câu văn:

+ Làm tăng tính gợi hình, gợi cảm

+ Diễn tả sự kéo dài, sự ngập ngừng, khoảng lặng trong suy nghĩ của nhân vật.

+ Qua đó tác giả nhấn mạnh rằng dù khoác lên mình màu áo lính, những người lính vẫn là những chàng trai trẻ, đầy mộng mơ và khao khát hạnh phúc.

Câu 3:

- Tình huống truyện: Câu chuyện về người yêu tên Hạnh có đôi mắt sáng lấp lánh như sao mà người lính trẻ Minh kể cho đồng đội nghe, rồi sau đó được tiết lộ sự thật phũ phàng ngay trước lúc anh hi sinh.

- Nhận xét:

+ Tác giả tạo ra một cú lật bất ngờ ở cuối truyện. Ban đầu là câu chuyện tình yêu lãng mạn, như một niềm hy vọng, một điểm tựa tinh thần, nhưng hóa ra đó lại là lời nói dối của Minh.

+ Nó làm nổi bật hơn sự cô đơn và khát vọng yêu thương, khát vọng hạnh phúc, khát vọng có người thân của người lính trẻ.

Câu 4:

Nhan đề của văn bản gợi cho em những suy nghĩ:

+ Là hình ảnh đôi mắt của cô gái tên Hạnh mà Minh đã miêu tả. Đôi mắt ấy là biểu tượng của vẻ đẹp tinh khôi, trong sáng, là niềm mơ ước về một tình yêu lãng mạn, thuần khiết giữa chiến tranh.

+ "Sao sáng lấp lánh" còn có thể là ánh sáng linh hồn của người lính Minh—sự tỏa sáng của tâm hồn cao thượng của một người chiến sĩ dũng cảm, dù cô đơn, nhưng vẫn giữ trong tim mình khát vọng đẹp đẽ và sự yêu thương thầm kín.

Câu 5:

-Hình tượng người lính được khắc họa một cách chân thực, vừa có sự mạnh mẽ của người chiến sĩ, vừa có những nét tâm hồn mềm yếu, sâu sắc:

+ Họ là những người trẻ tuổi, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh cho Tổ quốc. Họ có tinh thần trách nhiệm cao trong nhiệm vụ.

+ Người lính quý mến nhau "như anh em ruột thịt". Họ cùng nhau chia sẻ, lắng nghe và động viên nhau. Đặc biệt, tình cảm của "tôi" dành cho Minh thể hiện qua hành động băng bó, cõng đồng đội bất chấp nguy hiểm, và giữ lời hứa mang lá thư về tận hậu phương.

+ Dù trong bom đạn, họ vẫn mang trong tim những ước mơ giản dị, những tình cảm riêng tư về người yêu, người thân.

- Hình tượng người lính trong văn bản là sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa anh hùng cách mạng và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc.

Câu 1

Bài làm


Nhân vật Thứ trong đoạn trích cuối tiểu thuyết "Sống mòn" là hình ảnh điển hình và bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám, người bị hoàn cảnh xã hội bóp nghẹt, dẫn đến bi kịch “sống mòn”. Thứ hiện lên với sự giằng xé nội tâm sâu sắc giữa khát vọng và bất lực. Khi còn trên ghế nhà trường, Thứ nuôi hoài bão cao đẹp là trở thành “một vĩ nhân” đem lại “những sự thay đổi lớn lao” cho xứ sở. Tuy nhiên, hiện thực nghèo khó đã đẩy y vào con đường lùi dần, từ Sài Gòn hăm hở đến Hà Nội còm cõi, và nay là nguy cơ phải “mục ra ở một xó nhà quê”, trở thành kẻ ăn bám bị mọi người và chính bản thân khinh miệt. Thứ ý thức rõ ràng bi kịch của mình, y phẫn uất, muốn cưỡng lại số phận, muốn “đi bất cứ đâu” để thoát khỏi cái chết tinh thần “chết mà chưa sống”. Song, cuối cùng, Thứ lại chấp nhận sự thật cay đắng: y “nhu nhược quá, hèn yếu quá”, “chỉ để mặc con tàu mang đi”. Bi kịch của Thứ không chỉ là thất bại của cá nhân mà còn là lời tố cáo mạnh mẽ xã hội cũ đã thui chột, làm mục ruỗng cả một thế hệ trí thức có tài năng và tâm huyết, biến họ thành những con người sống vô nghĩa như “con trâu” bị sợi dây thừng của thói quen và lòng sợ hãi cột chặt.

Câu 2:

Bài làm


Gabriel Garcia Marquez từng viết: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ”. Lời phát biểu này không chỉ là một nhận định sâu sắc về quy luật cuộc sống mà còn là lời khẳng định đanh thép về vai trò thiết yếu của ước mơ – đặc biệt là đối với tuổi trẻ. Ước mơ chính là nguồn sống, là động lực và là thước đo giá trị của một đời người, là ngọn hải đăng soi sáng con đường ta đi, giúp ta luôn giữ được sự trẻ trung, nhiệt huyết bất chấp tuổi tác.


Ước mơ, hiểu theo nghĩa rộng nhất, là những khát vọng, mục tiêu tốt đẹp mà con người hướng tới trong tương lai. Đối với tuổi trẻ, ước mơ mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nó là ngọn lửa thổi bùng lên sự sáng tạo, nhiệt huyết và lòng dũng cảm.

Trước hết, ước mơ là động lực giúp tuổi trẻ vượt qua những khó khăn, thách thức. Nếu cuộc sống là một cuộc hành trình dài đầy chông gai, thì ước mơ chính là bản đồ và nhiên liệu thúc đẩy ta tiến lên. Một người trẻ có ước mơ sẽ không dễ dàng gục ngã trước thất bại, bởi họ biết rằng những vấp ngã đó chỉ là thử thách nhỏ trên con đường chinh phục đỉnh cao đã định. Họ chấp nhận “đánh vật nhau với đất” nhưng không chấp nhận sống mòn hay sống tù đày trong sự tầm thường.

Thứ hai, ước mơ giúp tuổi trẻ định hình giá trị và ý nghĩa cuộc sống. Khi ta có một mục tiêu rõ ràng, cuộc sống sẽ không còn vô vị hay trôi dạt. Tuổi trẻ có ước mơ sẽ biết sử dụng năng lượng và thời gian một cách hữu ích, biết từ chối sự “nhu nhược, hèn yếu” của sự an phận thủ thường. Chính ước mơ đã tạo nên những vĩ nhân dám mang “sự thay đổi lớn lao” đến cho xứ sở. Ngược lại, người thiếu ước mơ dễ rơi vào trạng thái "sống mòn", sống mà như đang chết dần chết mòn trong thói quen và sự sợ hãi. Họ sẽ "già đi" trong tâm hồn dù tuổi đời còn rất trẻ.


Để ước mơ không chỉ là ảo vọng, tuổi trẻ cần biến khát vọng thành hành động cụ thể và ý chí kiên cường. Điều này đòi hỏi sự dũng cảm để vượt qua nỗi sợ hãi sự đổi thay, vượt qua sự ngăn cản của hoàn cảnh và chính sự hèn yếu của bản thân mình.

Tuy nhiên, trong thực tế, không ít người trẻ đã đánh mất đi ngọn lửa ước mơ. Họ chấp nhận lối sống thực dụng, an toàn, bị trói buộc bởi những giá trị vật chất ngắn hạn hoặc tâm lí sợ thất bại. Nhiều người từ bỏ ước mơ khi đối diện với hiện thực khắc nghiệt, để mặc "con tàu mang đi" về một "xó nhà quê" tinh thần. Việc ngừng theo đuổi ước mơ chính là tuyên án tử hình cho sự phát triển của bản thân, dẫn đến một cuộc đời thiếu sinh khí, thiếu dấu ấn và cuối cùng là "chết mà chưa sống".


Ước mơ là tài sản vô giá mà tạo hóa ban tặng cho tuổi trẻ. Để không già đi trong tâm hồn, mỗi người trẻ phải không ngừng thắp sáng và theo đuổi ước mơ của mình bằng cả lòng nhiệt thành và nghị lực. Hãy sống trọn vẹn từng khoảnh khắc, không ngại thay đổi, không sợ rủi may, để mỗi bước đi là một sự tiếp cận gần hơn với mục tiêu đã định. Bởi lẽ, một cuộc đời được dẫn dắt bởi ước mơ chính là một cuộc đời sống đích thực và mãi mãi tuổi trẻ.

Câu 1: Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là điểm nhìn bên trong

Câu 2: Ước mơ của nhân vật Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là những hoài bão cao xa, lớn lao, thoát khỏi sự tầm thường, hèn mọn:

+ Về học vấn và địa vị: Đỗ Thành chung, đỗ Tú tài, vào đại học đường, sang Tây (du học Pháp).

+ Về sự nghiệp và lí tưởng sống: Trở thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình. Y không bao giờ mong làm một ông phán tầm thường.

Câu 3:

-Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích trên là biện pháp tu từ liệt kê : “sẽ mốc lên,sẽ gỉ đi, sẽ mòn,sẽ mục ra”

- Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong đoạn trích trên là:

+ Tăng sức gợi hình gợi cảm

+ Nhấn mạnh cảm giác bế tắc, tuyệt vọng cùng cực của nhân vật trước một tương lai tăm tối, nơi cuộc sống không còn ý nghĩa.

+ Qua đó tác giả muốn bộc lộ sâu sắc bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám

Câu 4:

- Cuộc sống và con người của nhân vật Thứ:

+ Cuộc sống của Thứ là chuỗi thất bại kéo dài, từ việc không thực hiện được hoài bão đến việc mất kế sinh nhai, phải về quê chịu cảnh thất nghiệp, có nguy cơ "ăn bám vợ".

+ Thứ là người trí thức, có lí tưởng cao đẹp, khát khao làm việc lớn, không chấp nhận cuộc sống tầm thường. Y tự ý thức sâu sắc về sự thất bại và nỗi nhục nhã của mình, khao khát thoát khỏi cảnh "sống mòn” .

- Nhận xét: Nhân vật Thứ là một biểu tượng bi kịch của sự bế tắc xã hội cũ, một người trí thức có lý tưởng nhưng bị hiện thực làm cho suy kiệt, cuối cùng trở nên nhu nhược, bất lực trước số phận, chấp nhận sự hủy hoại tinh thần trong kiếp sống "sống mòn".

Câu 5:


Một triết lí nhân sinh sâu sắc được rút ra từ văn bản là: Sống tức là thay đổi, và sự nhu nhược, sợ hãi đổi thay sẽ dẫn đến cái chết tinh thần, tức là "sống mòn".

Câu 1:

Bài làm

Đoạn trích “Trao duyên” là một trong những cảnh tượng bi thương và lay động lòng người nhất trong “Truyện Kiều” , thể hiện sâu sắc vẻ đẹp nhân cách của Thuý Kiều. Nhân vật hiện lên với tâm trạng giằng xé giữa nỗi đau tột cùng và một tấm lòng vị tha,nhân hậu. Nỗi đau của Kiều là nỗi đau của người con gái phải từ bỏ mối tình đầu trong sáng với Kim Trọng, nàng vẫn cố nén nỗi đau riêng để nghĩ đến người khác. Trước hết, Kiều là người con hiếu thảo, sẵn sàng bán mình chuộc cha,đặt chữ hiếu lên trên chữ tình. Đặc biệt, trong cảnh trao duyên, nàng còn thể hiện sự bao dung và trách nhiệm khi dùng tình cảm chân thành để thuyết phục Thuý Vân thay mình nối tiếp mối duyên dang dở. Hành động trao kỉ vật “chiếc vành, bức tờ mây” , “phím đàn, mảnh hương nguyền” không chỉ là gửi gắm kỉ niệm, mà còn là sự dứt ruột trao đi cả một phần tâm hồn và quá khứ.Kiều nhận hết thiệt thòi, lỗi lầm về mình, chấp nhận số phận éo le và tình duyên lỡ làng. Qua đó Nguyễn Du đã khắc hoạ thành công hình tượng Thuý Kiều— người phụ nữ tài sắc nhưng bạc mệnh, vẫn giữ trọn nhân phẩm,tấm lòng nhân ái và tình nghĩa thủy chung ngay cả trong bi kịch lớn nhất đời mình.

Câu 2:

Bài làm

Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, lí tưởng sống giống như ngọn đuốc soi đường, giúp ta nhận ra hướng đi và mục tiêu để nỗ lực phấn đấu. Đối với thế hệ trẻ— những người đang và sẽ gánh vác tương lai đất nước, việc xác định và nuôi dưỡng lí tưởng sống đúng đắn càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xã hội hiện đại đầy cơ hội và thử thách.

Lí tưởng của thế hệ trẻ có thể hiểu là những mục tiêu, khát vọng cao đẹp mà họ hướng tới, gắn liền với trách nhiệm đối với bản thân,gia đình và cộng đồng. Ngừoi trẻ có lí tưởng không chỉ sống để “tồn tại”, mà còn sống để tạo giá trị, để cống hiến và làm cho cuộc đời trở nên ý nghĩa hơn. Trong thời đại toàn cầu hóa,khi vật chất và danh lợi dễ khiến con người chạy theo những giá trị ngắn hạn, việc giữ vững một lí tưởng sống tích cực là thước đo phẩm chất, bản lĩnh của thế hệ trẻ.

Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ Việt Nam hôm nay đang nuôi dưỡng lí tưởng sống đáng quý:khát vọng học tập, sáng tạo,đóng góp cho xã hội, gìn giữ bản sắc dân tộc và bảo vệ môi trường sống. Họ là những người dấn thân trong nghiên cứu khoa học, trong hoạt động tình nguyện, khởi nghiệp sáng tạo,hay đơn giản là sống tử tế, yêu thương và lan toả điều tốt đẹp mỗi ngày. Chính những lí tưởng ấy đã giúp họ vượt qua khó khăn, khẳng định bản thân và góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn không ít người trẻ thiếu mục tiêu, sống mơ hồ,chạy theo lối sống thực dụng,xem trọng vật chất hơn tinh thần,ngại nỗ lực và dễ buông xuôi trước thử thách. Có người sống chỉ để “an phận”, có người lại sa vào ảo tưởng thành công nhanh, thích hưởng thụ hơn là cống hiến. Những biểu hiện ấy cho thấy sự thiếu hụt về lí tưởng và định hướng sống, dễ khiến họ đánh mất giá trị bản thân và bị cuốn theo vòng xoáy tiêu cực của xã hội hiện đại.

Để xây dựng và theo đuổi lí tưởng sống đúng đắn, thế hệ trẻ hôm nay cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước và thời đại. Mỗi người cần tự hỏi: “Mình sống để làm gì?” — và từ đó xác định mục tiêu sống phù hợp với năng lực,sở trường,đồng thời gắn với lợi ích chung của cộng đồng. Bên cạnh đó, người trẻ cần rèn luyện tri thức,đạo đức,nghị lực và lòng nhân ái— bởi lí tưởng chỉ thực sự có giá trị khi được thể hiện bằng hành động cụ thể và bên bỉ trong cuộc sống.

Lí tưởng sống của thanh niên Việt Nam hôm nay không phải là điều gì xa vời, mà chính là khát vọng được sống có ích, sống tử tế, sống cống hiến. Khi mỗi người trẻ biết nuôi dưỡng lí tưởng đẹp,họ không chỉ làm chủ tương lai của chính mình, mà còn góp phần làm cho đất nước thêm phồn vinh, nhân ái và tiến bộ.

Câu 1: Thể thơ của văn bản là: thể thơ lục bát.

Câu 2: Đoạn trích trên kể về cuộc chia tay giữa Thuý Kiều và Kim Trọng

Câu 3:- Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ trên là biện pháp đối : “người về” - “kẻ đi” , “chiếc bóng năm canh” - “muôn dặm một mình xa xôi”

- Tác dụng của biện pháp tu từ đối được sử dụng trong hai dòng thơ trên là:

+ Tạo sự nhịp nhàng,cân xứng cho câu thơ.

+ Làm nổi bật nỗi cô đơn,nhớ thương,chia lìa của đôi lứa. Đồng thời thể hiện tình yêu sâu nặng,thuỷ chung giữa Kiều và Kim Trọng dù phải xa cách.

+ Qua đó, tác giả bộc lộ niềm cảm thương sâu sắc trước số phận con người trong tình yêu, ca ngợi tình yêu chân thành,thuỷ chung son sắt dù bị chia cách bởi không gian và số phận.

Câu 4:

Cảm hứng chủ đạo trong văn bản trên là cảm hứng bi thương,đau đớn trước sự chia ly và nỗi cô đơn của tình yêu tan vỡ.

Câu 5:

- Nhan đề cho đoạn trích: “Cảnh chia ly”

- Lí do:

Nhan đề này khái quát đúng nội dung chính của đoạn trích: cuộc chia ly đầy xúc động giữa Kiều và Kim Trọng