TRẦN THU HIỀN
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Thể thơ của văn bản trên là thể thơ bảy chữ
Câu 2:
- Vần được gieo trong khổ cuối của văn bản: bay- tay- này
- Kiểu vần: vần chân, vần liền, vần bằng
Câu 3:
- Biện pháp tu từ xuyên suốt bài thơ: Điệp cấu trúc " Có lần tôi thấy..."
- Tác dụng của biện pháp tu từ trên là
+ Tăng sức gọi hình, gợi cảm. Tạo giọng điệu tha thiết, trầm lắng cho lời văn, tăng tính liên kết cho câu văn.
+ Nhấn mạnh sự lặp đi lặp lại của nhưng cuộc chia ly trên sân ga. Tạo bầu không khí buồn bã, ám ảnh, cho thấy sân ga đó là nơi hội tụ của những vô vàn nỗi đau ly biệt
+ Qua đó, tác giả bày tỏ nỗi buồn day dứt, sâu lắng trước những cuộc chia ly của con người. Đồng thời, nhà thơ thể hiện sự cảm thông, xót thương đối với phận người nhỏ bé, cô đơn trong cuộc đời
Câu 4:
- Đề tài: Những cuộc chia ly của con người trên sân ga
- Chủ đề: Bài thơ thể hiện nỗi buồn chia ly, cô đơn, xót xa của kiếp người, đồng thời bộc lộ niềm thương cảm sâu sắc của tác giả trước số phận của con người trong cuộc đời phiên bạt
Câu 5:
- Yếu tố tự sự được thể hiện trong bài thơ trên: Bài thơ kể lại hàng loạt cảnh chia tay cụ thể: hai cô bé, đôi người yêu, bạn bè, vợ chồng, mẹ tiễn con, người đi lẻ loi…
- Tác dụng của yếu tố tự sự là:
- Làm cảm xúc trở nên chân thực, sinh động, không trừu tượng
- Giúp nỗi buồn chia ly hiện lên đa dạng, phổ quát, gắn với nhiều số phận
- Qua kể chuyện để bộc lộ cảm xúc trữ tình sâu lắng, thể hiện cái nhìn nhân văn, giàu lòng thương người của Nguyễn Bính
Câu 1:
Trong văn học Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng, nhiều tác phẩm đã phơi bày nỗi buồn và sự bế tắc của những con người nhỏ bé trong xã hội cũ. Nam Cao là một trong những cây bút đặc sắc nhất khi luôn day dứt về sự tha hóa và mòn mỏi của con người. Trong Sống mòn, nhân vật Thứ hiện lên như một điển hình cho bi kịch của tầng lớp trí thức nghèo. Thứ vốn là một người thầy giáo giàu lòng tự trọng, tha thiết với nghề, tin vào lẽ sống tử tế và luôn mong muốn được cống hiến. Thế nhưng cuộc đời lại dồn anh vào cảnh túng bấn, quẩn quanh với cơm áo, tiền thuê nhà và những nỗi lo lặt vặt không dứt. Chính hoàn cảnh ấy khiến Thứ ngày càng sống mệt mỏi, chán chường, nhiều khi hoài nghi chính mình. Dẫu vậy, trong anh vẫn le lói những tia sáng của nhân cách: một trái tim biết yêu thương, biết trăn trở, biết đau vì sự lãng phí tuổi trẻ và hoài bão. Thứ là nạn nhân của một xã hội đã làm cùn đi ý chí của người trí thức, nhưng đồng thời cũng là lời nhắc nhở về khát vọng sống có ý nghĩa của con người. Nhân vật Thứ vì thế vừa đáng thương, vừa đáng trân trọng, góp phần làm nổi bật giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc trong trang văn Nam Cao. Kết lại, nhân vật Thứ không chỉ phản ánh số phận mòn mỏi của người trí thức nghèo trước Cách mạng mà còn gửi gắm nỗi xót xa, trăn trở của Nam Cao về những ước mơ bị dập vùi. Hình tượng ấy giúp người đọc hiểu sâu hơn giá trị nhân đạo và sức lay động bền bỉ của Sống mòn.
Câu 2:
Gabriel García Márquez từng viết: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi, mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ.” Câu nói ấy gợi mở một chân lí giản dị: tuổi tác không làm con người mất đi sức sống bằng chính sự lụi tàn của khát vọng. Từ lời nhắn gửi ấy, ta có dịp suy ngẫm sâu sắc về tuổi trẻ và ước mơ – hai lực đẩy tinh thần mạnh mẽ nhất giúp con người trưởng thành.
"Ước mơ" là những điều tốt đẹp, chính đáng mà con người khao khát đạt tới. Với tuổi trẻ, ước mơ không chỉ là đích đến mà còn là động lực khơi dậy đam mê, sự gan lì và khát vọng tự vượt lên chính mình. Vì thế, tuổi trẻ và ước mơ không tách rời nhau; chính ước mơ đã làm tuổi trẻ mạnh mẽ và đáng sống hơn.
Biểu hiện của tuổi trẻ khi sống cùng ước mơ rất đa dạng. Đó là sự dám nghĩ dám làm, dám bắt đầu dù biết sẽ có khó khăn. Người trẻ có thể vấp ngã nhưng luôn sẵn sàng đứng dậy, bởi ước mơ cho họ lí do để kiên trì. Một học sinh thức khuya học bài mỗi tối vì muốn thi vào ngành yêu thích; một vận động viên trẻ chấp nhận tập luyện hàng giờ trong thầm lặng để nuôi hi vọng thành công; hay những bạn trẻ khởi nghiệp từ con số không nhưng mang trong mình niềm tin vào điều mình theo đuổi. Tất cả cho thấy ước mơ sống động nhất khi nó được nuôi dưỡng bằng hành động.
Ước mơ mang ý nghĩa to lớn đối với tuổi trẻ. , Ước mơ cho con người mục tiêu sống rõ ràng. Khi có mục tiêu, mỗi người sẽ biết mình cần cố gắng vì điều gì và không dễ bị cuốn trôi giữa dòng đời., Ứớc mơ tạo nên sức mạnh tinh thần phi thường. Nick Vujicic, dù sinh ra không tay không chân, vẫn vượt lên nỗi tuyệt vọng để trở thành diễn giả truyền cảm hứng, bởi anh tin vào ước mơ chứng minh giá trị của bản thân. Hay Malala Yousafzai – cô gái Pakistan suýt mất mạng vì muốn đi học – vẫn không từ bỏ ước mơ đến trường, để rồi trở thành biểu tượng toàn cầu cho quyền giáo dục. Chính ước mơ đã khiến họ không đầu hàng hoàn cảnh. Một người trẻ có ước mơ là người không bao giờ bị đánh bại hoàn toàn.
Ở Việt Nam, ta cũng có thể bắt gặp ý nghĩa của ước mơ trong đời sống. Ánh Viên – cô gái miền Tây – đã biến ước mơ trở thành vận động viên bơi lội thành tích cao thành động lực luyện tập không biết mệt mỏi suốt nhiều năm. Hay những bạn trẻ khởi nghiệp với mô hình nông nghiệp sạch, với hi vọng đưa nông sản Việt đến gần hơn với thế giới. Tất cả đều chứng minh rằng tuổi trẻ chỉ thật sự nở hoa khi nó gắn với khát vọng vươn lên.
Tuy nhiên, theo đuổi ước mơ không đồng nghĩa với mơ mộng viển vông. Ước mơ chỉ có giá trị khi người trẻ biết biến nó thành kế hoạch, hành động cụ thể và bền bỉ. Tuổi trẻ cần vừa mơ ước, vừa kỉ luật, vừa khát vọng, vừa trách nhiệm. Khi đó, ước mơ sẽ không còn là điều xa vời mà trở thành con đường để mỗi người khám phá chính mình.
Từ suy ngẫm ấy, ta nhận thấy câu nói của Márquez không chỉ ca ngợi sức mạnh của ước mơ, mà còn cảnh tỉnh: con người chỉ thực sự “già” khi trái tim không còn dám hi vọng. Một người sáu mươi vẫn say mê học hỏi, vẫn khao khát cống hiến có thể trẻ hơn rất nhiều so với người hai mươi đã buông xuôi trước cuộc đời. Tuổi trẻ vì thế không chỉ được tính bằng số năm sống mà còn bằng nhiệt huyết trong tâm hồn.
Tuy nhiên, bên cạnh những người trẻ biết sống có ước mơ và nỗ lực theo đuổi, vẫn tồn tại không ít bạn trẻ thờ ơ với tương lai của chính mình. Họ sống buông xuôi, ngại cố gắng, ngại học hỏi, bằng lòng với sự an toàn nhỏ bé. Một số khác lại mơ ước quá viển vông nhưng không bắt tay vào hành động, dẫn đến thất vọng và dễ bỏ cuộc. Cũng có những bạn chạy theo ước mơ của người khác – ước mơ cha mẹ đặt lên vai, ước mơ “để bằng bạn bằng bè” – khiến ước mơ trở thành gánh nặng chứ không phải sức mạnh nội tâm. Những cách sống ấy đáng phê phán bởi chúng khiến tuổi trẻ trôi qua vô nghĩa, làm hao mòn bản lĩnh và khiến con người trở nên “già” ngay từ khi chưa thực sự trưởng thành, đúng như lời cảnh tỉnh của Márquez.
Từ đó, bài học đặt ra là mỗi người trẻ cần học cách tự tạo cho mình một ước mơ đúng đắn và biết kiên trì thực hiện nó. Ước mơ phải gắn với năng lực, giá trị sống và mong muốn chân thành của bản thân. Quan trọng hơn, người trẻ cần biến ước mơ thành hành động cụ thể, rèn luyện bản thân mỗi ngày, không sợ khó khăn và không bỏ cuộc trước những thất bại ban đầu. Chỉ khi sống có mục tiêu, có khát vọng và có trách nhiệm với lựa chọn của mình, tuổi trẻ mới thực sự tỏa sáng và mang ý nghĩa.
Ước mơ làm tuổi trẻ đẹp hơn, mạnh mẽ hơn và có ý nghĩa hơn. Và tuổi trẻ chính là thời gian vàng để gieo hạt giống của ước mơ, nuôi nấng nó bằng nỗ lực và sự kiên trì. Bởi vậy, mỗi người trẻ hãy giữ lấy ước mơ của mình, đừng vì khó khăn mà từ bỏ điều khiến mình tỏa sáng. Khi còn ước mơ, ta còn sức sống. Khi còn theo đuổi ước mơ, ta vẫn mãi trẻ trung.
Câu 1: Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là của nhân vật Thứ- điểm nhìn bên trong
Câu 2: Ước mơ của y khi còn ngồi trên ghế nhà trường:
- Y sẽ đỗ Thành chung, đỗ tú tài, vào đại học đường, sang Tây.
- Y mong trở thành một vĩ nhân đem lại những thay đổi lớn lao cho xứ sở mình.
Câu 3:
- Biện pháp tu từ của đoạn trích là:
+ Điệp ngữ: "người ta", "vợ", "chính y"- "kinh y"
+ Liệt kê: "mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra"
- Tác dụng của biện pháp tu từ trên là:
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, tạo giọng điệu bất lực, tăng tính liên kết cho câu văn
+ Nhấn mạnh sự bế tắc, bất lực, tàn rụi, mòn mỏi, tự khinh bỉ bản thân mình khiến Thứ bị dồn đến kiếp" sống mòn" ; khắc hạo nỗi tuyệt vọng và bi kịch tinh thần của Thứ khi nghĩ về tương lai vô nghĩa
+ Qua đó, tác giả bày tỏ sự đồng cảm, thương xót, xót xa cho nhân vật Thứ. Đồng thời lên án, tố cáo xã hội thực dân- phong kiến đã đẩy con người vào kiếp "sống mòn", sống mà như đã chết.
Câu 4:
- Cuộc sống và con người của nhân vật Thứ:
+ Cuộc sống: Cuộc sống bấp bênh, éo le; không thực hiện được ước mơ, khát vọng của bản thân; tự ý thức về cảnh "sống mòn' của bản thân
+ Con người: Có ý tưởng, hoài bão nhưng yếu đuối không đủ nghị lực để vượt qua khó khăn; nhảy cảm, tự ý thức sâu sắc về nỗi khổ của mình; là người có trái tim nhân hậu, bao dung khi xót xa cho những người cùng cảnh ngộ.
- Qua đó ta thấy cuộc đời và con người của nhân vật Thứ : Là một người trí thức nghèo đầy bi kịch, có lí tưởng cao đẹp bị xã hội đẩy vào cuộc sống tù túng. Hình tượng Thứ tiêu biểu cho bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng: có ý thức nhưng bất lực, có ước mơ nhưng bị hiện thực tàn nhẫn bào mòn.
Câu 5:
- Triết lí nhân sinh sâu sắc: Sống là phải thay đổi, phải dám dấn thân, vượt qua nỗi sợ hãi và thói quen cũ để làm chủ cuộc đời mình.
+ Con người cần có ý thức vươn lên, không cam chịu số phận, không để cuộc sống trôi qua vô nghĩa.
+ Triết lí này là lời cảnh tỉnh mạnh mẽ, nhắc nhở mỗi người phải sống chủ động, tích cực, có trách nhiệm với bản thân và xã hội.
Câu 1:
Truyện ngắn Sao sáng lấp lánh của Nguyễn Thị Ấm gây xúc động sâu sắc không chỉ bởi câu chuyện về người lính trẻ Minh mà còn bởi những nét nghệ thuật giàu sức lay động. Đặc sắc nghệ thuật đầu tiên là tác giả đã xây dựng tình huống truyện giàu kịch tính và chất bất ngờ: câu chuyện “người yêu” tưởng như thật hóa ra chỉ là sự tưởng tượng của Minh, được hé lộ ngay trước phút hi sinh, khiến mạch truyện chuyển hướng đột ngột, tạo chiều sâu bi thương mà vẫn nhân văn. Bên cạnh đó, nghệ thuật xây dựng nhân vật tinh tế, đặc biệt là nhân vật Minh – một chàng lính trẻ mơ mộng, chân thật và giàu tình cảm. Tác giả không miêu tả dài dòng mà dùng những chi tiết giàu sức gợi: tấm vé xe buýt, cái nhìn lấp lánh của cô gái, lá thư nhàu nát… để khắc họa tâm hồn Minh một cách giàu hình ảnh và cảm xúc. Một điểm đặc sắc khác là lối kể chuyện ngôi thứ nhất, tạo được sự gần gũi, chân thực như lời tâm sự của một người lính đã trải qua chiến tranh. Qua điểm nhìn ấy, tình đồng đội trở nên ấm áp, nỗi đau mất mát trở nên nghẹn ngào và chân thật hơn. Không thể không nhắc đến ngôn ngữ giàu chất tạo hình, đặc biệt là hình ảnh “vì sao sáng lấp lánh” – biểu tượng cho vẻ đẹp của hi vọng, của tuổi trẻ, của những ước mơ trong trẻo giữa chiến tranh khốc liệt. Tất cả những yếu tố đó hòa quyện, tạo nên một truyện ngắn ngắn gọn nhưng giàu sức ám ảnh, tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn và sự hi sinh thầm lặng của người lính Việt Nam.Kết lại, những đặc sắc nghệ thuật ấy đã giúp Sao sáng lấp lánh trở thành một truyện ngắn giản dị mà giàu sức lay động. Nhờ cách kể tinh tế và hình ảnh giàu cảm xúc, tác phẩm để lại ánh sáng ấm áp về tình người và vẻ đẹp người lính trong chiến tranh.
Câu 2:
Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, có những lúc chúng ta tưởng mình mạnh mẽ, đủ sức chống chọi mọi thử thách. Nhưng chỉ cần một biến cố nhỏ – điểm số không như mong đợi, một tình bạn rạn nứt, hay một quyết định sai lầm – ta mới hiểu rằng không ai có thể sống mà không cần một điểm tựa tinh thần. Điểm tựa tinh thần là nơi ta tìm đến mỗi khi mệt mỏi; không phải là nơi để trốn chạy, mà là nguồn sức mạnh giúp ta hồi phục và đi tiếp. Nhà tâm lí học Viktor Frankl từng nhận định: “Ai có lý do để sống thì có thể vượt qua mọi hoàn cảnh.” Lý do ấy, chính là điểm tựa tinh thần của mỗi người.
"Điểm tựa tinh thần" là nguồn lực tâm hồn giúp con người giữ được sự cân bằng. Cuộc sống vốn chứa đầy những biến động khó lường: một kì thi áp lực, một mâu thuẫn trong gia đình, hay đơn giản chỉ là cảm giác bản thân “không đủ tốt”. Trong những thời điểm ấy, điểm tựa tinh thần giống như chiếc neo giữ con người khỏi bị cuốn trôi bởi lo âu và buồn bã. Giải thích một cách giản dị, đó là bất cứ điều gì tiếp thêm niềm tin để con người đứng vững – có thể là gia đình, bạn bè, thầy cô, một lời hứa, một ước mơ, hay thậm chí là niềm tin vào bản thân. Nó tồn tại lặng lẽ nhưng bền bỉ, giúp tâm hồn không bị trống rỗng.
Trong đời sống hiện nay, ta dễ dàng bắt gặp những câu chuyện cho thấy sức mạnh của điểm tựa tinh thần. Nhiều bạn học sinh gặp áp lực thi cử tưởng chừng muốn bỏ cuộc, nhưng chỉ một buổi tối được bố mẹ ngồi bên động viên, hay một tin nhắn bạn bè hỏi thăm, lại có thể giúp các bạn lấy lại bình tĩnh và tiếp tục cố gắng. Có bạn tìm thấy điểm tựa trong những thói quen nhỏ bé: đọc vài trang sách mỗi tối để tâm trí lắng lại, nghe một bản nhạc quen thuộc để lấy lại tinh thần. Những điều ấy tưởng nhỏ nhưng thực ra lại rất đáng kể, vì như người ta nói: “Sức mạnh không đến từ những điều lớn lao, mà đến từ những điều khiến ta tin rằng mình vẫn ổn.”
" Điểm tựa tinh thần" cũng giúp con người vượt qua khủng hoảng bằng cách khơi dậy sự kiên cường. Nếu không có điểm tựa, con người dễ rơi vào cảm giác lạc lõng. Nhưng khi biết mình còn người để tin tưởng, còn điều để hướng về, ta có thêm năng lượng để bước tiếp. Ta có thể nhớ đến câu chuyện nhiều vận động viên trẻ Việt Nam từng chấn thương nặng nhưng vẫn trở lại thi đấu. Điều giữ họ không gục ngã không chỉ là ý chí mà còn là điểm tựa tinh thần từ gia đình – những người luôn tin họ có thể trở lại. Hoặc trong đại dịch COVID-19, rất nhiều người trẻ tham gia tình nguyện, đối mặt với sợ hãi nhưng vẫn kiên cường vì có điểm tựa là niềm tin rằng “mình đang làm điều có ích”. Những ví dụ ấy cho thấy con người chỉ thật sự mạnh mẽ khi tâm hồn được nâng đỡ.
"Điểm tựa tinh thần" không chỉ giúp vượt qua khó khăn, mà còn giúp mỗi người hiểu rõ giá trị của bản thân. Khi được yêu thương, quan tâm, khi cảm nhận rằng “mình không đơn độc”, con người tự tin hơn và biết trân trọng chính mình hơn. Nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng trẻ chỉ có thể phát triển lành mạnh khi được sống trong môi trường có sự nâng đỡ tinh thần. Điều đó đúng với cả người lớn: ai cũng cần một nơi để trở về, một người để chia sẻ, hoặc một niềm tin để theo đuổi. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người đã đi rất xa nhưng trong lúc yếu lòng vẫn muốn trở về nhà – bởi gia đình là điểm tựa tinh thần bền vững nhất.
Tuy nhiên, điểm tựa tinh thần không có nghĩa là sự phụ thuộc tuyệt đối. Nó không phải là nơi khiến con người yếu đi, mà là cái nền để ta đứng vững và tự bước bằng đôi chân của chính mình. Một điểm tựa đúng đắn phải giúp con người trưởng thành, mạnh mẽ và tự lập hơn. Khi một học sinh được thầy cô tin tưởng giao nhiệm vụ, niềm tin ấy trở thành điểm tựa để bạn dám thử thách bản thân. Khi một người trẻ có ước mơ rõ ràng, ước mơ đó sẽ là điểm tựa giúp họ kiên trì trước thất bại. Điểm tựa tinh thần chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó hướng con người đến sự nỗ lực và tự tin, chứ không khiến họ ỷ lại.
Cuộc sống dù có khó khăn đến đâu, những ai có điểm tựa tinh thần sẽ luôn tìm được lối đi cho mình. Đó có thể là một bàn tay nắm lấy bạn khi bạn sắp ngã, là một lời nói kéo bạn ra khỏi thất vọng, là một tấm lòng nhắc bạn rằng mình xứng đáng được hạnh phúc. Và đôi khi, điểm tựa tinh thần lớn nhất lại chính là niềm tin mà bạn dành cho chính mình.
Điểm tựa tinh thần không phải điều hữu hình, nhưng nó hiện diện trong mọi khoảnh khắc con người vượt lên nghịch cảnh. Ở nơi có điểm tựa, con người tìm thấy bình yên; ở nơi có bình yên, con người tìm thấy sức mạnh. Và sức mạnh ấy sẽ dẫn chúng ta đi qua mọi biến động để sống trọn vẹn, mạnh mẽ và nhân ái hơn mỗi ngày.
Tóm lại," điểm tựa tinh thần" chính là phần “ánh sáng” giúp con người đứng vững giữa những biến động của cuộc sống. Khi có điều để tin, nơi để dựa và người để sẻ chia, ta mạnh mẽ hơn, kiên trì hơn và nhân ái hơn. Mỗi người có thể tìm cho mình một điểm tựa khác nhau, nhưng điều quan trọng nhất là đừng bao giờ để tâm hồn trống rỗng. Bởi như ai đó từng nói: “Con người chỉ thực sự cô đơn khi không còn điều gì để tin.” Và còn niềm tin, còn điểm tựa, là còn sức mạnh để bước tiếp, để sống một cách xứng đáng và đẹp đẽ hơn mỗi ngày.
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại Truyện ngắn
Câu 2: Tác dụng của dấu ba chấm trên là:
- Gợi sự kéo dài của cảm xúc, những suy nghĩ miên man, day dứt trong lòng người lính
- Tạo khoảng trống cảm xúc, gợi nỗi buồn thương và niềm xúc động về câu chuyện Minh kể
- Làm câu văn trầm lắng, phù hợp với không khí rừng yên tĩnh sau mưa
Câu 3:
- Tình huống truyện xoay quanh:
+ Mở đầu là câu chuyện vui vẻ, hồn nhiên về mối tình tưởng tượng của người lính tên Minh.
+ Kết thúc là sự thật bất ngờ và đau xót: Minh đã hy sinh, và lá thư trong túi áo ngực không phải là thư tình gửi Hạnh mà là lời độc thoại nội tâm đầy cô đơn của chính Minh: "Hạnh ơi... Anh cô đơn lắm...".
- Qua đó, ta thấy tình huống truyện của văn bản trên:
+ Là tình huống bất ngờ, độc đáo nhưng đầy xúc động, khi sự thật về cuộc đời của của Minh được hé lộ ngay trong phút cuối đời
+ Tình huống truyện giúp bộc lộ ve đẹp tâm hồn người lính: mơ mộng, tình cảm, nhưng chịu nhiều thiệt thòi, mất mát
+ Gợi nỗi xót xa về số phận trẻ tuổi trong chiến tranh
+ Giúp truyện có chiều sâu nhân văn, chạm vào trái của bạn đọc
Câu 4:
- Ý nghĩa của nhan đề
+ Nhan đề" Sao sáng lấp lánh" gợi hình ảnh đôi mắt sáng như sao của cô gái trong câu chuyện Minh kể
+ " Sao sáng lấp lánh" còn tượng trưng cho vẻ đẹp trong trẻo, thuần khiết, đầy hi vọng của tuổi trẻ giữa chiến tranh
+ Đồng thời, hình ảnh ngôi sao còn là biểu tượng của những người lính trẻ -những "ngôi sao" nơi chiến trường, lặng lẽ tỏa sáng bằng sự hi sinh thầm lặng
- Nhan đề trên gợi cho em suy nghĩ:
+ Nhan đề "Sao sáng lấp lánh" trong văn bản gợi liên tưởng đến vẻ đẹp lung linh, vĩnh cửu của những vì sao trên bầu trời đêm.
+ Trong truyện, hình ảnh này gắn liền với đôi mắt của cô gái tên Hạnh mà người lính Minh tưởng tượng ra, đại diện cho tình yêu, niềm hy vọng và ước mơ về một cuộc sống bình yên sau chiến tranh.
+ Sự tương phản giữa hình ảnh đẹp đẽ đó với cái chết bi tráng của Minh khiến người đọc suy ngẫm về giá trị của hòa bình và sự hy sinh cao cả của thế hệ đi trước.
Câu 5:
- Người lính trong văn bản trên hiện lên với những vẻ đẹp;
+ Trẻ trung, hồn nhiên, biết mơ mộng
+ Gắn bó, nghĩa tình đồng đội
+ Dũng cảm, hi sinh thầm lặng
- Qua đó, ta thấy được hình tượng của người lính hiện lên đẹp đẽ, trong sáng và kiên cường; họ là những “ngôi sao lấp lánh” giữa bóng tối chiến tranh, mang vẻ đẹp vừa bi tráng vừa nhân văn. Hình tượng người lính trong văn bản được khắc họa chân thực, giản dị nhưng vô cùng cao đẹp
Câu 1:
Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, Truyện Kiều của Nguyễn Du là kiệt tác kết tinh vẻ đẹp ngôn từ và tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Giữa những khổ đau, mất mát, Thúy Kiều vẫn tỏa sáng với tấm lòng vị tha, nhân hậu và trọng nghĩa tình. Trong đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán, đặc biệt là cảnh tiễn biệt Thúc Sinh, nhân vật Thúy Kiều hiện lên thật đáng quý. Sau những năm tháng long đong, nàng có cơ hội trả ơn, báo oán nhưng không hề cay nghiệt hay tàn nhẫn. Trái lại, Kiều vẫn giữ được trái tim bao dung, biết trân trọng nghĩa tình. Trước Thúc Sinh, nàng bày tỏ lòng biết ơn chân thành, cảm thông cho hoàn cảnh của người đã từng cứu mình. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng ngôn ngữ tinh tế, hình ảnh ẩn dụ, đối lập và giọng điệu trữ tình sâu lắng, giúp diễn tả trọn vẹn tâm trạng của nhân vật. Nguyễn Du đã khắc họa thành công hình tượng Thúy Kiều — người con gái tài sắc vẹn toàn, luôn giữ được nhân cách cao đẹp giữa bão giông cuộc đời. Qua đó, nhà thơ bộc lộ niềm cảm thương và ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam.Hai câu thơ “Người về chiếc bóng năm canh, kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi” thể hiện sâu sắc nỗi cô đơn, buồn thương và tình nghĩa tha thiết .Từ hình tượng Thúy Kiều trong đoạn trích, ta thấy được tầm vóc lớn lao của Nguyễn Du – người nghệ sĩ suốt đời đau nỗi đau nhân thế. Thúy Kiều không chỉ là nhân vật của quá khứ mà còn là biểu tượng của con người Việt Nam: giàu tình thương, thủy chung và luôn giữ trọn nhân cách giữa bão giông cuộc đời.
Câu 2:
Nhà thơ Tố Hữu từng viết: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình.” Câu nói ấy không chỉ là lời nhắn gửi đầy ý nghĩa mà còn là kim chỉ nam định hướng cho lý tưởng sống của mỗi con người, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay. Giữa xã hội hiện đại năng động nhưng cũng nhiều thử thách, việc xây dựng một lý tưởng sống đúng đắn có vai trò vô cùng quan trọng, giúp con người sống có mục tiêu, có trách nhiệm và có ý nghĩa.
Lý tưởng sống là mục tiêu, là khát vọng cao đẹp mà mỗi người hướng tới trong suốt cuộc đời. Với thanh niên – lứa tuổi tràn đầy nhiệt huyết – lý tưởng sống chính là ngọn lửa soi đường, giúp họ vượt qua thử thách và khẳng định giá trị bản thân. Một người trẻ có lý tưởng là người biết sống vì điều tốt đẹp, dám ước mơ, dám hành động và cống hiến cho cộng đồng. Lý tưởng ấy có thể là nỗ lực học tập để góp phần xây dựng đất nước, là khát vọng sáng tạo, dấn thân, hay chỉ đơn giản là sống tử tế, sống có ích.
Có lí tưởng sẽ giúp con người có một mục tiêu rõ ràng, một hướng đi để tiến lên phía trước. Lí tưởng sống cao đẹp không chỉ là điều kiện để một con người sống có ý nghĩa, mà còn giúp họ trở nên hoàn thiện về tâm hồn và nhân cách.
Để tìm cho mình những lí tưởng sống cao đẹp, chúng ta nên suy nghĩ về những tấm gương đã và đang sống theo lí tưởng đó. Họ có thể là những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc cách mạng giành độc lập cho dân tộc, hoặc những người dành cả cuộc đời để xây dựng và phát triển đất nước một cách vô danh.
Nhìn vào những người này, chúng ta cần nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của lí tưởng sống. Hãy quyết tâm thực hiện đến cùng những mục tiêu và lí tưởng của mình, sống hết mình với vị trí và công việc mình đang đảm nhiệm. Đừng bao giờ chấp nhận một lối sống vị kỉ, cá nhân, hay mục đích sống tầm thường. Hãy tìm cho mình những giá trị đích thực và sống theo đúng suy nghĩ của mình, để mỗi người chúng ta đều có thể đóng góp cho sự phát triển của xã hội và đất nước.
Thực tế cho thấy, rất nhiều bạn trẻ ngày nay đã và đang nỗ lực thực hiện lý tưởng của mình. Đó là anh Nguyễn Ngọc Mạnh, người tài xế dũng cảm cứu sống em bé rơi từ tầng cao; là những bác sĩ, sinh viên tình nguyện không ngại hiểm nguy trong đại dịch COVID-19; là các bạn trẻ khởi nghiệp bằng chính trí tuệ, sự sáng tạo và đam mê của mình để đóng góp cho đất nước. Họ là minh chứng cho thế hệ trẻ Việt Nam năng động, sống có trách nhiệm và lý tưởng.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận giới trẻ thiếu lý tưởng, sống buông thả, chạy theo vật chất và ảo tưởng hão huyền. Họ để thời gian trôi đi vô nghĩa, đánh mất bản thân giữa những thú vui tầm thường. Đó là lối sống cần bị phê phán, bởi một tuổi trẻ không có lý tưởng chẳng khác nào con thuyền không hướng đi – dễ bị cuốn trôi giữa dòng đời.
Từ đó, mỗi người trẻ hôm nay cần tự rút ra bài học cho bản thân: phải biết nuôi dưỡng ước mơ, xác định mục tiêu sống rõ ràng, không ngừng học tập, rèn luyện để hoàn thiện bản thân và sống có ích cho cộng đồng. Đồng thời, cần giữ vững niềm tin, lòng nhân ái và tinh thần trách nhiệm – đó chính là nền tảng cho một lý tưởng sống cao đẹp.
Như Tố Hữu từng khẳng định, “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình.” Sống có lý tưởng không chỉ giúp con người tìm thấy giá trị của bản thân mà còn làm cho cuộc đời thêm ý nghĩa. Tuổi trẻ hôm nay hãy biến lý tưởng thành hành động, sống đẹp, sống có ích để góp phần dựng xây tương lai tươi sáng cho Tổ quốc. Bởi tuổi trẻ có lý tưởng chính là mùa xuân đẹp nhất của cuộc đời và của dân tộc.
câu 1 : Thể thơ của văn bản trên : Lục bát
Câu 2: Đoạn trích trên kể về cảnh chia tay đầy cảm xúc giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh
Câu 3:
- Biện pháp tu từ được sử dụng là : Phép đối "Người về - Kẻ đi" , " Chiếc bóng năm canh - Một mình xa xôi"
Hoán dụ : Chiếc bóng năm canh ( chỉ sự cô đơn lẻ loi ) và Muôn dặm một mình ( chỉ quãng đường xa xôi, đơn độc)
- Tác dụng của biện pháp tu từ trên
+ Tạo sự cân xứng ,hài hòa cho câu thơ, nhấn mạnh sự chia ly mỗi người một ngả
+ Diễn tả nỗi buồn ,sự cô đơ,, lẻ loi của Thúy Kiều khi ở lại và sự cô đơn của Thúc Sinh trên đường đi.
+ Qua đó, tác giả về nỗi cô đơn, lẻ loi, buồn bã và dự cảm về sự chia cắt vĩnh viễn của tình yêu đôi lứa.
Câu 4:
Cảm hứng chủ đạo là nỗi buồn, sự cô đơn, xót xa trước số phận con người .Qua đó thể hiện tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du
Câu 5:
- Nhan đề: Tâm trạng của Thúy Kiều khi chia tay Thúc Sinh
- Vì:
+ Nhan đề khái quát được nội dung chính của văn bản trên
+ Miêu tả tâm trạng của Thúy Kiều
+ Nhấn mạnh nhân vật trung tâm Thúy Kiều khi phải chia tay Thúc Sinh