LÊ KHÁNH NAM

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của LÊ KHÁNH NAM
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 (khoảng 200 chữ)

Nhân vật Hoàng Cầm trong văn bản “Chuyện ông Hoàng Cầm” hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho người lính Việt Nam giàu trách nhiệm, sáng tạo và hết lòng vì đồng đội. Là một chiến sĩ nuôi quân, Hoàng Cầm luôn day dứt khi chứng kiến nhiều bộ đội hi sinh vì khói lửa từ những bếp nấu ăn bị máy bay địch phát hiện. Từ sự trăn trở ấy, ông đã miệt mài nghiên cứu, thử nghiệm hàng chục kiểu bếp khác nhau để tìm ra giải pháp tối ưu. Quá trình sáng tạo của Hoàng Cầm không hề dễ dàng, ông phải âm thầm đào bếp trong rừng, nhiều lần thất bại nhưng vẫn kiên trì không bỏ cuộc. Điều đó cho thấy tinh thần trách nhiệm cao, ý chí bền bỉ và tình yêu thương đồng đội sâu sắc của ông. Đặc biệt, bếp Hoàng Cầm không chỉ là một sáng kiến quân sự hữu ích mà còn trở thành biểu tượng của trí tuệ và sự sáng tạo của con người Việt Nam trong chiến tranh. Qua hình tượng Hoàng Cầm, tác giả đã bày tỏ niềm trân trọng, tự hào đối với những con người thầm lặng góp phần làm nên chiến thắng của dân tộc.


Câu 2 (khoảng 600 chữ)

Trong cuộc sống hiện đại, khi xã hội không ngừng phát triển và đổi thay, sự sáng tạo trở thành một yếu tố vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân cũng như toàn nhân loại. Sáng tạo không chỉ giúp con người vượt qua khó khăn mà còn tạo ra những giá trị mới, thúc đẩy xã hội tiến bộ và phát triển bền vững.

Sáng tạo là khả năng tìm tòi, đổi mới, tạo ra những ý tưởng, phương pháp hoặc sản phẩm mới mang lại hiệu quả cao hơn trong học tập, lao động và cuộc sống. Đó có thể là những phát minh khoa học lớn lao, nhưng cũng có thể chỉ là một cách giải quyết vấn đề thông minh trong đời sống hằng ngày. Trong bất kì lĩnh vực nào, sự sáng tạo cũng đóng vai trò quan trọng và cần thiết.

Trước hết, sáng tạo giúp con người thích nghi với những thay đổi nhanh chóng của thời đại. Thế giới hiện nay đang bước vào thời đại công nghệ số với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, internet và khoa học kĩ thuật. Nếu con người chỉ làm việc theo lối mòn cũ kĩ, thiếu đổi mới thì rất dễ bị tụt hậu. Chính sự sáng tạo giúp chúng ta tìm ra những phương pháp học tập hiệu quả hơn, những cách làm việc năng suất hơn và những giải pháp mới cho các vấn đề của cuộc sống. Trong đại dịch COVID-19, nhờ tinh thần sáng tạo mà nhiều quốc gia đã nhanh chóng nghiên cứu vắc-xin, áp dụng công nghệ vào học tập và làm việc trực tuyến, góp phần giảm bớt khó khăn cho xã hội.

Không chỉ vậy, sáng tạo còn là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Những thành tựu lớn của nhân loại như điện thoại thông minh, internet, xe điện hay trí tuệ nhân tạo đều bắt nguồn từ khả năng sáng tạo của con người. Nhờ có sáng tạo mà chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, con người có thêm cơ hội khám phá và chinh phục những điều mới mẻ. Đối với mỗi cá nhân, sáng tạo giúp khẳng định năng lực bản thân, tạo nên sự khác biệt và mở ra nhiều cơ hội thành công trong tương lai.

Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có nhiều người ngại đổi mới, sợ thất bại nên chỉ làm việc một cách máy móc, thụ động. Điều đó khiến con người khó phát triển và dễ bị đào thải trong xã hội cạnh tranh ngày nay. Bên cạnh đó, sáng tạo cũng cần đi kèm với đạo đức và trách nhiệm. Nếu sử dụng sự sáng tạo vào mục đích xấu như lừa đảo công nghệ, sản xuất thông tin sai lệch hay phá hoại môi trường thì sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Để phát huy khả năng sáng tạo, mỗi người cần không ngừng học hỏi, rèn luyện tư duy độc lập và dám thử thách bản thân. Nhà trường và gia đình cũng cần tạo điều kiện để người trẻ phát huy trí tưởng tượng, khuyến khích những ý tưởng mới thay vì áp đặt khuôn mẫu cứng nhắc. Quan trọng hơn, chúng ta phải biết kiên trì theo đuổi mục tiêu, bởi sáng tạo thường bắt đầu từ những khó khăn và cả những lần thất bại.

Sự sáng tạo chính là chìa khóa giúp con người mở cánh cửa của tương lai. Trong cuộc sống hiện đại, mỗi người cần chủ động đổi mới bản thân, nuôi dưỡng tư duy sáng tạo để thích nghi và góp phần xây dựng xã hội ngày càng phát triển tốt đẹp hơn.

Câu 1.
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là:

  • Tự sự
  • Miêu tả
  • Biểu cảm
  • Thuyết minh

Câu 2.
Văn bản kể về quá trình anh bộ đội nuôi quân Hoàng Cầm sáng chế ra “bếp Hoàng Cầm” nhằm hạn chế khói lửa để tránh sự phát hiện của máy bay địch trong thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.


Câu 3.
Cảm hứng chủ đạo của văn bản là sự ngợi ca tinh thần sáng tạo, trách nhiệm, lòng yêu nước và những cống hiến thầm lặng của người lính trong kháng chiến.


Câu 4.
Nội dung văn bản:
Văn bản kể lại quá trình Hoàng Cầm miệt mài nghiên cứu, sáng tạo ra bếp Hoàng Cầm — một phát minh quan trọng giúp bộ đội nấu ăn an toàn trong chiến tranh. Qua đó, tác giả ca ngợi trí tuệ, sự tận tụy và đóng góp to lớn của những người lính hậu cần đối với thắng lợi của dân tộc.


Câu 5.
Em ấn tượng nhất với chi tiết Hoàng Cầm một mình âm thầm đào hàng chục cái bếp để thử nghiệm, dù thất bại nhiều lần vẫn không bỏ cuộc.

Chi tiết này cho thấy tinh thần kiên trì, trách nhiệm và lòng yêu thương đồng đội sâu sắc của ông. Chính sự cố gắng bền bỉ ấy đã tạo nên một sáng kiến có ý nghĩa lớn đối với quân đội trong thời chiến.

♦ Ảnh hưởng của chế độ thực dân với các thuộc địa Đông Nam Á

- Ảnh hưởng tích cực: Sau hơn bốn thế kỉ thống trị, thực dân phương Tây đã tạo ra một số thay đổi ở khu vực Đông Nam Á như:

+ Gắn kết khu vực với thị trường thế giới;

+ Du nhập nền sản xuất công nghiệp, xây dựng một số cơ sở hạ tầng,…

+ Thúc đẩy phát triển một số yếu tố về văn hóa như chữ viết, tôn giáo, giáo dục....

- Ảnh hưởng tiêu cực: chế độ thực dân đã để lại hậu quả nặng nề đối với các quốc gia Đông Nam Á.

+ Về chính trị - xã hội: chính sách “chia để trị" của thực dân phương Tây là một trong những nguyên nhân dẫn tới xung đột sắc tộc, tôn giáo, vùng miền gay gắt ở các quốc gia Đông Nam Á, đồng thời gây ra nhiều tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa các quốc gia trong khu vực.

+ Về kinh tế: chế độ thực dân để lại một hệ thống cơ sở hạ tầng nghèo nàn, lạc hậu. Phần lớn các nước trong khu vực bị biến thành nơi cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ hàng hóa của phương Tây.

+ Về văn hóa: thực dân phương Tây áp đặt nền văn hóa nô dịch, thi hành chính sách ngu dân và hạn chế hoạt động giáo dục đối với nhân dân các nước thuộc địa.

♦ Liên hệ Việt Nam: Ở Việt Nam, hơn 80 năm cai trị của thực dân Pháp đã để lại những hậu quả nặng nề trên mọi lĩnh vực. Ví dụ như:

- Về chính trị:

+ Từ một quốc gia thống nhất, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam bị chia thành 3 xứ với 3 chế độ khác nhau: Bắc Kì là xứ bảo hộ; Trung Kỳ là xứ nửa bảo hộ; Nam Kỳ là xứ thuộc địa. Tên nước Việt Nam bị xóa trên bản đồ chính trị thế giới.

+ Thực dân Pháp cũng lập ra nhiều xứ tự trị, làm phức tạp các mối quan hệ vùng miền, tôn giáo, tộc người.

- Về kinh tế:

+ Sự của du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tuy đem lại một số chuyển biến tích cực, tuy nhiên, đó chỉ là sự chuyển biến mang tính cục bộ ở một số ngành nghề, một số địa phương.

+ Về cơ bản, kinh tế Việt Nam vẫn nghèo nàn, lạc hậu, phát triển thiếu cân đối và lệ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp;

- Về xã hội: hầu hết các giai cấp, tầng lớp nhân dân ở Việt Nam bị áp bức, bóc lột nặng nề, lâm vào cảnh nghèo khổ, bần cùng. Mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược bao trùm xã hội, làm bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh yêu nước.

- Về văn hóa: đại bộ phận dân cư vẫn trong tình trạng nghèo đói, lạc hậu, trình độ dân trí thấp (hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ); nhiều giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam bị xói mòn; trong xã hội tồn tại phổ biến nhiều hủ tục, tệ nạn xã hội, như: cờ bạc, mại dâm, hút thuốc phiện,…

Các cường quốc phương Tây xâm lược Đông Nam Á hải đảo từ thế kỷ 16 vì gia vị, cảng biển và tuyến thương mại.

Thế kỷ 16:

+Bồ Đào Nha: Chiếm Malacca (1511), Moluccas.

+Tây Ban Nha: Chiếm Philippines (1565).

Thế kỷ 17−18:

+Hà Lan: Đẩy lùi Bồ Đào Nha, thiết lập quyền kiểm soát tại Indonesia (Đông Ấn Hà Lan).

+Anh: Thiết lập tiền đồn ở Penang (1786), Singapore (1819).

Thế kỷ 19 - Đầu thế kỷ 20:

+Anh: Củng cố quyền lực tại Mã Lai và Borneo.

+Hà Lan: Hoàn thiện việc thôn tính toàn bộ Indonesia.

+Hoa Kỳ: Mua lại Philippines từ Tây Ban Nha (1898).

Câu 1

Bài thơ “Những giọt lệ” của Hàn Mặc Tử là tiếng lòng đầy đau đớn và ám ảnh về nỗi chia ly trong tình yêu. Ngay từ khổ thơ đầu, tác giả đã cất lên những câu hỏi dồn dập, thể hiện tâm trạng tuyệt vọng, bế tắc trước tình yêu tan vỡ và cuộc đời nhiều bi kịch. Đến khổ thơ thứ hai, nỗi đau được đẩy lên cao trào qua hình ảnh “một nửa hồn tôi mất”, diễn tả sự mất mát lớn lao khi người yêu rời xa, khiến tâm hồn trở nên trống rỗng, dại khờ. Đặc biệt, khổ thơ cuối gây ấn tượng mạnh với những hình ảnh giàu tính tượng trưng như “bông phượng nở trong màu huyết”, “giọt châu”, gợi lên nỗi đau như máu chảy, hóa thành nước mắt thấm sâu vào tâm hồn. Giọng thơ vừa tha thiết, vừa quằn quại đã làm nổi bật một cái tôi cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời. Qua đó, bài thơ thể hiện rõ phong cách sáng tác của Hàn Mặc Tử: cảm xúc mãnh liệt, giàu tính tượng trưng và chất chứa nỗi đau nhân sinh sâu sắc.

Câu 2

Trong hành trình sống của mỗi con người, không ai có thể tránh khỏi khó khăn, thử thách. Chính vì vậy, ý chí và nghị lực trở thành những yếu tố vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công và giá trị của mỗi cá nhân. Có thể nói, ý chí, nghị lực chính là “ngọn lửa” giúp con người vượt qua nghịch cảnh và vươn tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Ý chí là khả năng tự xác định mục tiêu và kiên định theo đuổi mục tiêu đó, còn nghị lực là sức mạnh tinh thần giúp con người vượt qua khó khăn, không bỏ cuộc trước thất bại. Người có ý chí, nghị lực là người dám đối mặt với thử thách, không dễ dàng khuất phục trước hoàn cảnh. Trong thực tế, có rất nhiều tấm gương tiêu biểu cho phẩm chất này. Có những người sinh ra trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn nỗ lực học tập để thay đổi cuộc đời. Có những người mang bệnh tật nhưng không đầu hàng số phận, vẫn sống tích cực và cống hiến cho xã hội.

Ý chí và nghị lực mang lại nhiều ý nghĩa to lớn. Trước hết, nó giúp con người vượt qua nghịch cảnh, biến những điều tưởng chừng không thể thành có thể. Bên cạnh đó, ý chí còn giúp con người rèn luyện bản thân, trở nên mạnh mẽ, trưởng thành hơn. Những người có nghị lực thường đạt được thành công bền vững, bởi họ không ngừng cố gắng và biết đứng lên sau mỗi lần vấp ngã. Hơn nữa, những tấm gương giàu ý chí còn truyền cảm hứng tích cực cho cộng đồng, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại, không ít người lại thiếu ý chí, dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn. Một số người sống dựa dẫm, ngại thử thách, chỉ muốn đạt được thành công một cách nhanh chóng mà không cần nỗ lực. Đây là lối sống đáng phê phán, bởi nó khiến con người trở nên yếu đuối, dễ thất bại và không thể phát triển bản thân.

Để rèn luyện ý chí và nghị lực, mỗi người cần xác định mục tiêu rõ ràng cho bản thân và kiên trì theo đuổi. Đồng thời, cần học cách chấp nhận thất bại như một phần tất yếu của cuộc sống, từ đó rút ra bài học và tiếp tục cố gắng. Bên cạnh đó, việc giữ tinh thần lạc quan, suy nghĩ tích cực cũng giúp con người có thêm động lực vượt qua khó khăn.

Tóm lại, ý chí và nghị lực là những phẩm chất không thể thiếu để con người vươn tới thành công và sống có ý nghĩa. Mỗi chúng ta cần không ngừng rèn luyện bản thân, nuôi dưỡng ý chí mạnh mẽ để vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống, bởi chính nghị lực sẽ quyết định chúng ta là ai và sẽ đi được bao xa trên hành trình của mình.

Câu 1

  • Các phương thức biểu đạt được sử dụng:
    • Biểu cảm (chủ yếu): bộc lộ cảm xúc đau đớn, tuyệt vọng.
    • Tự sự (kết hợp): kể lại sự chia ly (“Người đi…”).
    • Miêu tả (kết hợp): hình ảnh thiên nhiên, nội tâm (“bông phượng nở trong màu huyết…”)

Câu 2

  • Đề tài: nỗi đau chia ly trong tình yêu, gắn với tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng của con người trước mất mát.

Câu 3

  • Hình ảnh tiêu biểu: “Người đi, một nửa hồn tôi mất / Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ”

Cảm nhận:

  • Đây là hình ảnh mang tính tượng trưng sâu sắc:
    • “Một nửa hồn” → tượng trưng cho phần tâm hồn gắn bó với người yêu.
  • Diễn tả:
    • Nỗi đau chia ly tột cùng, như mất đi chính bản thân mình.
    • Sự tan vỡ, hụt hẫng và mất cân bằng tâm hồn.
  • Thể hiện phong cách thơ Hàn Mặc Tử:
    • Cảm xúc mãnh liệt, cực đoan, giàu tính ám ảnh.

Câu 4

Biện pháp tu từ:

  • Câu hỏi tu từ: “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?”, “Ai đem bỏ tôi…?”
  • Ẩn dụ, tượng trưng:
    • “bông phượng nở trong màu huyết”
    • “giọt châu”

Tác dụng:

  • Câu hỏi tu từ:
    • Thể hiện sự hoang mang, mất phương hướng, cảm giác lạc lõng.
  • Hình ảnh ẩn dụ:
    • “màu huyết” → màu đỏ của máu → đau thương, bi kịch.
    • “giọt châu” → giọt nước mắt → nỗi buồn kết tinh.
  • Góp phần:
    • Khắc họa nỗi đau nội tâm sâu sắc, ám ảnh.
    • Tăng tính bi thương và giàu chất tượng trưng cho bài thơ.

Câu 5

  • Bài thơ có cấu tứ vận động theo mạch cảm xúc:
    1. Khổ 1: Nỗi đau, dự cảm bi kịch (câu hỏi về cái chết, tình yêu).
    2. Khổ 2: Hiện thực chia ly → mất mát (“một nửa hồn…”).
    3. Khổ 3: Tâm trạng cực điểm → hoang mang, tuyệt vọng, ám ảnh.
  • Đặc điểm:
    • Cấu tứ chặt chẽ, tăng tiến cảm xúc.
    • Từ đau đớn → mất mát → khủng hoảng tinh thần.
    • Đậm chất thơ Hàn Mặc Tử: mãnh liệt, siêu thực, giàu tượng trưng.

Câu 1 :

Văn bản “Giữa người với người” của Nguyễn Ngọc Tư là một tản văn giàu suy tư, phản ánh sâu sắc thực trạng xuống cấp trong mối quan hệ giữa con người trong xã hội hiện đại. Tác giả khắc họa hình ảnh một người y sĩ vô cảm, sẵn sàng chụp ảnh bệnh nhân đang đau đớn để đăng lên mạng nhằm “câu view”, qua đó phê phán lối sống thực dụng, đánh mất y đức và tình người. Bên cạnh đó, hàng loạt dẫn chứng về tin giả, tin giật gân được lan truyền cho thấy sức tàn phá của mạng xã hội đối với đời sống và lòng tin của con người. Đặc biệt, những hình ảnh như “chỉ thấy giấy bạc bay mà không thấy nạn nhân” hay “chỉ thấy bia lăn lóc” đã làm nổi bật sự vô cảm đáng sợ, khi con người đặt lợi ích vật chất lên trên giá trị nhân đạo. Với giọng văn nhẹ nhàng nhưng đầy ám ảnh, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc: trong xã hội hiện đại, khi công nghệ phát triển, con người càng cần giữ gìn lòng nhân ái, sự đồng cảm và trách nhiệm, để không đánh mất chính mình trong guồng quay vô cảm.

Câu 2 :

Trong xã hội hiện đại, khi công nghệ phát triển mạnh mẽ và đời sống vật chất ngày càng được nâng cao, con người tưởng chừng như xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên, một nghịch lý đáng buồn lại xuất hiện: sự thờ ơ, vô cảm giữa người với người ngày càng trở nên phổ biến. Đây không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là vấn đề đáng báo động về đạo đức và nhân cách con người.

Vô cảm là trạng thái con người trở nên lạnh lùng, thờ ơ trước nỗi đau, khó khăn hay bất hạnh của người khác. Biểu hiện của nó rất dễ nhận thấy trong đời sống: người ta sẵn sàng đứng nhìn tai nạn giao thông mà không giúp đỡ, quay video thay vì cứu người; thờ ơ trước những hoàn cảnh khó khăn xung quanh; hoặc dễ dàng buông lời chỉ trích, công kích người khác trên mạng xã hội. Thậm chí, có những người coi nỗi đau của người khác như một “công cụ giải trí” để thu hút sự chú ý.

Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là do lối sống thực dụng, đề cao vật chất khiến con người chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà quên đi giá trị tinh thần. Bên cạnh đó, sự phát triển của mạng xã hội cũng góp phần làm gia tăng sự vô cảm, khi con người quen với việc “xem” thay vì “cảm”, “bình luận” thay vì “hành động”. Ngoài ra, áp lực cuộc sống, sự cạnh tranh khốc liệt cũng khiến nhiều người trở nên khép kín, ít quan tâm đến người khác.

Hậu quả của sự vô cảm là vô cùng nghiêm trọng. Nó làm suy giảm các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp như lòng nhân ái, sự sẻ chia, tinh thần tương thân tương ái. Một xã hội mà con người thờ ơ với nhau sẽ trở nên lạnh lẽo, thiếu niềm tin và dễ rơi vào khủng hoảng tinh thần. Nguy hiểm hơn, vô cảm có thể lan rộng như một “căn bệnh”, khiến cái xấu, cái ác có cơ hội phát triển mà không bị ngăn chặn.

Tuy nhiên, không phải xã hội chỉ toàn những điều tiêu cực. Vẫn còn rất nhiều người sống tử tế, sẵn sàng giúp đỡ người khác trong hoạn nạn, tham gia các hoạt động thiện nguyện, lan tỏa những giá trị tích cực. Chính họ là minh chứng cho thấy lòng tốt vẫn luôn tồn tại và cần được nuôi dưỡng.

Để khắc phục tình trạng vô cảm, mỗi cá nhân cần tự ý thức rèn luyện lòng nhân ái, biết đồng cảm và chia sẻ với người khác. Gia đình và nhà trường cần giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Đồng thời, xã hội cần lên án mạnh mẽ những hành vi vô cảm và khuyến khích những hành động đẹp.

Tóm lại, sự thờ ơ, vô cảm là một vấn đề đáng lo ngại trong xã hội hiện đại. Mỗi người cần sống có trách nhiệm, biết yêu thương và sẻ chia, bởi chỉ khi đó, xã hội mới thực sự trở nên tốt đẹp và nhân văn hơn.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản

  • Văn bản thuộc thể loại: tản văn (văn xuôi hiện đại mang tính nghị luận – cảm xúc).
  • Đặc điểm: giàu suy tư, cảm xúc cá nhân, bàn luận về vấn đề xã hội.

Câu 2. Đề tài của văn bản

  • Đề tài: mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội hiện đại, đặc biệt là sự lạnh lùng, vô cảm và lệch lạc đạo đức do ảnh hưởng của mạng xã hội và lối sống thực dụng.

Câu 3. Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê

Các chi tiết liệt kê:

  • “tin nồi nước luộc có pin đèn”
  • “nước dùng chuột cống”
  • “chè bưởi có thuốc rầy”
  • “ăn chè bưởi ngộ độc thuốc trừ sâu”

Tác dụng:

  • Nhấn mạnh sự dồn dập của các tin giả, tin giật gân trên mạng và báo lá cải.
  • Khắc họa rõ hậu quả nghiêm trọng: làm người buôn bán khốn đốn, mất kế sinh nhai.
  • Tăng tính chân thực và sức thuyết phục cho lập luận.
  • Qua đó, phê phán mạnh mẽ hiện tượng “câu view bằng nỗi đau, tin thất thiệt”, cho thấy sự xuống cấp về đạo đức truyền thông và ý thức cộng đồng.

Câu 4. Suy nghĩ về thực trạng đạo đức con người hiện nay

Hai câu văn gợi ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm:

  • Sự vô cảm của con người:
    • Người ta chỉ quan tâm đến tiền bạc (giấy bạc, bia) mà bỏ quên con người đang gặp nạn.
  • Sự xuống cấp đạo đức:
    • Lòng tham lấn át lương tri.
    • Thiếu sự đồng cảm, thiếu trách nhiệm với người khác.
  • Thực trạng đáng lo ngại trong xã hội hiện nay:
    • Một bộ phận người dân thờ ơ trước đau khổ của người khác.
    • Bị chi phối bởi lợi ích vật chất, mạng xã hội, tâm lý đám đông.

- Bài học rút ra:

  • Cần sống có trách nhiệm, biết quan tâm, giúp đỡ người khác.
  • Giữ gìn giá trị nhân văn, lòng nhân ái trong xã hội hiện đại.

Câu 5. Bài học rút ra từ văn bản

Từ văn bản, có thể rút ra những bài học quan trọng:

  1. Phải biết tôn trọng con người
    • Không biến nỗi đau của người khác thành công cụ giải trí hay câu view.
  2. Sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm
    • Không lan truyền tin giả, tin thất thiệt.
    • Cân nhắc trước khi đăng tải thông tin.
  3. Giữ gìn lòng nhân ái và sự đồng cảm
    • Biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác.
    • Không vô cảm trước nỗi đau của đồng loại.
  4. Cảnh giác với “hiệu ứng đám đông”
    • Không vội tin, vội chia sẻ những thông tin chưa kiểm chứng.
  5. Sống tử tế trong xã hội hiện đại
    • Công nghệ không xấu, nhưng cách con người sử dụng nó quyết định giá trị đạo đức.

C: 40%

H: 6,67%

O: 53,33%

= 100%

=> Hợp chất có chứa C,H,O => CTTQ : CxHyOz

x : y : z = 40/12 : 6,67/1 : 53,33:16

= 3,33 : 6,67 : 3,33

= 1 : 2 : 1

=> CTĐGN : CH2O

=> CTPT : (CH2O)n

Theo phổ khối lượng ta có Mx = 60 g/mol

M/Mctđgn = 60/1*12 + 2*1 + 1*16 = 60/30 = 2

=> CTPT : (CH2O)2 = C2H4O2

=> Công thức cấu tạo thu gọn của X là : CH3COOH

Ta có: 

 

2SO

2

 (g)

+

O

2

 (g)

2SO

3

 (g)

Ban đầu (M):

0,4

 

0,6

 

 

Phản ứng (M):

0,3

 

0,15

 

0,3

Cân bằng (M):

0,1

 

0,45

 

0,3

⇒ Hằng số cân bằng của phản ứng:  Kc = (0,3x0,3) / (0,1x0,1x0,45) = 20