PHONG THỊ MINH CHÂU
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 :
Hình tượng "li khách" trong bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm Tâm là một trong những hình ảnh đẹp và ám ảnh nhất về người trí thức yêu nước những năm 1940. Li khách không chỉ là người ra đi thông thường mà là một tráng sĩ mang "chí nhớn" – dấn thân vào chốn "hải hồ" gian truân, nguy hiểm. Vẻ đẹp của li khách trước hết là ở sự dứt khoát, quyết liệt trong lý tưởng sống. Dù có nỗi buồn xao xuyến khi chia tay "người đưa tiễn", nhưng câu thơ "người đi, ừ nhỉ, người đi thực" và "khúc độc hành" đã khẳng định một quyết tâm không ngoảnh lại. Khát vọng "chí nhớn chưa về bàn tay không / Thì không bao giờ nói trở lại" thể hiện lòng tự trọng và quyết tâm theo đuổi lý tưởng đến cùng, dẹp bỏ tình riêng. Hình tượng này vừa mang âm hưởng cổ kính, hiệp sĩ (như Kinh Kha) vừa đượm tinh thần lãng mạn, bi tráng của thời đại. Bằng ngôn ngữ gợi cảm và nhịp thơ dồn dập, Thâm Tâm đã khắc họa một "li khách" vừa đậm tình, vừa quyết liệt, đại diện cho thế hệ trẻ sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn, để lại nỗi buồn đẹp và niềm ngưỡng mộ khôn khôi trong lòng người đọc.
Câu 2:
Câu 1
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" – người đưa tiễn.
Câu 2
Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay.
Câu 3
− Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt"; "đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả; "hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dần. Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.
− Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.
Câu 4
Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câu thơ:
Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
− "Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa.
− Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.
Câu 5
− Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống:
+ Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn.
+ Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình.
+ Mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy.
+ Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiểu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người.
+ …
− Lí giải một cách hợp lí và thuyết phục.
Câu 1 :
Trong truyện “Anh béo và anh gầy”, anh Gầy hiện lên là một người điềm đạm, nghiêm túc và khá cầu toàn. Khác với anh Béo phóng khoáng, hồn nhiên, anh Gầy luôn cân nhắc kỹ càng trước mọi hành động, lời nói. Anh thường lo lắng, tỉ mỉ và hay phàn nàn về những điều không vừa ý, điều này cho thấy anh chú trọng đến nguyên tắc, lý trí và sự cẩn trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, chính sự nghiêm túc ấy cũng bộc lộ hạn chế: anh thiếu sự linh hoạt, đôi khi gò bó bản thân trong khuôn khổ, khiến cuộc sống trở nên căng thẳng. Qua nhân vật anh Gầy, tác giả không chỉ phản ánh tính cách riêng biệt mà còn muốn nhấn mạnh thông điệp về sự cân bằng giữa nghiêm túc và phóng khoáng, giữa lý trí và cảm xúc. Anh Gầy vì vậy là hình ảnh điển hình của những con người có suy nghĩ sâu sắc nhưng đôi khi bị chính tính cách của mình kìm hãm.
Câu 2 :
Cuộc sống luôn chứa đựng hai mặt: thuận lợi và khó khăn, niềm vui và thử thách. Cách mỗi người nhìn nhận vấn đề quyết định thái độ, cảm xúc và kết quả trong cuộc sống. Có người chỉ thấy khổ đau, bất tiện và dễ bi quan; nhưng cũng có người biết nhận ra cơ hội và giá trị tiềm ẩn, từ đó lạc quan, kiên trì vượt qua khó khăn. Câu nói: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” minh họa rõ ràng hai cách nhìn nhận này.
Nếu ta chỉ nhìn vào gai, chỉ thấy khổ đau và thất vọng, tâm hồn sẽ bị thu hẹp, dễ rơi vào bi quan, lo âu và bỏ lỡ những giá trị xung quanh. Ngược lại, biết nhìn vào hoa hồng nở từ bụi gai, con người sẽ học cách trân trọng, biết ơn và nhìn thấy cơ hội trong thử thách. Cách nhìn tích cực không chỉ giúp con người hạnh phúc hơn mà còn tạo động lực vượt qua khó khăn, biến trở ngại thành bài học quý giá.
Thực tế cho thấy, nhiều người thành công nhờ thái độ lạc quan, biết học hỏi từ thất bại. Những doanh nhân, nhà khoa học hay nghệ sĩ từng trải qua nhiều lần thất bại nhưng không bỏ cuộc đều đạt được thành công vang dội. Ngược lại, những người bi quan dễ bỏ cuộc ngay khi gặp thử thách, dù cơ hội đã ở trước mắt.
Vì vậy, lựa chọn cách nhìn nhận tích cực trong cuộc sống là vô cùng quan trọng. Biết “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” giúp con người sống vui vẻ, lạc quan, trân trọng giá trị xung quanh và đạt được hạnh phúc. Ngược lại, chỉ phàn nàn về gai hồng sẽ làm tâm hồn nặng nề, cuộc sống u tối và khó thành công. Mỗi người nên rèn luyện cách nhìn nhận tích cực để biến thử thách thành cơ hội, khó khăn thành bài học quý giá, từ đó cuộc sống trở nên ý nghĩa và nhẹ nhàng hơn.
Câu 1.
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2.
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy: "Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."
Câu 3.
Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản. Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.
Câu 4.
+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.
+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.
Câu 5
Nội dung: văn bản thông qua cuộc gặp gỡ của hai người bạn cũ lâu ngày không ngày. Những tưởng mối quan hệ gần gũi này sẽ giúp họ có một cuộc trò chuyện vui vẻ, thân mật, nhưng sau khi biết cấp bậc của bạn, anh gầy ngay lập tức thay đổi thái độ thân mật ban đầu bằng sự khúm núm của những kẻ nhát gan, sợ hãi trước quyền uy, khiến cho mối quan hệ giữa hai người trở nên xa cách. Thái độ của anh gầy chính là biểu hiện cho nỗi sợ cường quyền của xã hội Nga lúc bấy giờ. Và Sê-khốp đã rất tinh ý, khéo léo khi phát hiện và thể hiện điều đó qua một tình huống truyện giản dị, xen lẫn tiếng cười trào phúng.
Câu 1 :
Trong khổ thơ cuối của Tương tư, Nguyễn Bính đã mượn hình ảnh “giầu” và “cau” để gửi gắm nỗi niềm tình yêu và khát vọng gắn bó đôi lứa:
“Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau
Bao giờ giầu bén duyên cau
Thì ta sẽ cưới nhau về một nhà.”
Giầu và cau vốn là hình ảnh quen thuộc trong đời sống văn hóa cưới hỏi của người Việt, tượng trưng cho tình duyên vợ chồng gắn bó bền chặt. Nguyễn Bính đã đưa chất liệu dân gian ấy vào thơ, biến chúng thành biểu tượng nghệ thuật giàu sức gợi. Qua đó, ta thấy được khát vọng tình yêu chân thành, mãnh liệt của chàng trai nông thôn: yêu không chỉ để thương nhớ mà còn mong đến sự kết trái, mong tình yêu được đơm hoa kết quả bằng hạnh phúc hôn nhân. Hình ảnh “giầu – cau” còn cho thấy quan niệm tình yêu của Nguyễn Bính rất mộc mạc, thuần khiết, gắn bó với phong tục và nếp sống thôn quê. Như vậy, bằng hình ảnh dân dã, giàu tính biểu tượng, nhà thơ đã khẳng định sức mạnh, sự bền chặt và thiêng liêng của tình yêu lứa đôi.
Câu 2 :
Lựa chọn cho mình một lối đi trong cuộc sống quả thật không dễ dàng vì vậy Robert Frost từng nói: “Trong rừng có rất nhiều lối đi, ta chọn lối đi chưa có dấu chân người”. Quan điểm trên đem lại cho chúng ta một bài học quý giá.
Trước hết, “lối đi” là con đường là cách thức dẫn chúng ta bước đến đích. Còn “lối đi chưa có dấu chân người” nghĩa là lối đi còn mới mẻ mà chính ta là người tiên phong khai phá. Đó là lối đi đề cao sự sáng tạo và mạo hiểm, người lựa chọn nó phải dám đương đầu với thử thách, khó khăn. Khi Robert Frost nói rằng “tôi chọn” là muốn thể hiện một thái độ chủ động lựa chọn dấn thân vào con đường mới mẻ. Như vậy, câu nói trên muốn đề cao tư duy sáng tạo, khả năng đột phá và sự dũng cảm dám dấn thân của con người.
Mỗi con người là một cá thể độc lập, có những suy nghĩ và quan điểm khác nhau. Còn cuộc sống bao giờ cũng phong phú, luôn chứa đựng những cơ hội cũng như thách thức mở ra những lối đi riêng, những ngả đường mới. Mặt khác, cuộc sống cũng luôn luôn biến đổi không ngừng. Nếu không tìm ra những con đường mới mẻ cho bản thân, chúng ta sẽ trở nên lạc hậu. Từ đó mà đích đến thành công ngày càng xa cách hơn. Khi chúng chúng ta lựa chọn một lối đi “không có dấu chân người” nghĩa là chúng ta phải chấp nhận rằng ở đó sẽ còn nhiều khó khăn, thử thách. Điều đó buộc mỗi người phải có đủ dũng cảm để đối mặt và vượt qua. Chính nhờ vậy, mà con người mời khẳng định được dấu ấn của mình trong cuộc sống này. Đây cũng là một sự lựa chọn mạo hiểm với nhiều bất chắc, vì không có những người đi trước rút kinh nghiệm.
Trong cuộc sống, có biết bao những con người vĩ đại trở thành những “bậc công thần khai thiên lập quốc” góp phần cho sự phát triển của văn minh nhân loại. Trong quá khứ, Thomas Edison chính là một tấm gương tiêu biểu về sự chọn lựa con đường đi không có “dấu chân người”. Phát minh vĩ đại nhất của ông chính là chiếc bóng đèn đã mở ra một kỉ nguyên của văn minh cho thế giới. Nếu như Edison không có niềm đam mê cũng như khát khao sáng tạo, có lẽ ông đã không kiên trì để rồi có được thành công như vậy. Ở hiện tại, chắc hẳn chúng ta đều biết đến cái tên Steve Jobs là một tỷ phú, một ông trùm kinh doanh và sáng chế người Mỹ. Ông là đồng sáng lập viên, chủ tịch và cựu tổng giám đốc điều hành của hãng máy tính Apple; ông cũng từng là tổng giám đốc điều hành của xưởng phim hoạt hình Pixar (hãng sở hữu nhiều giải oscar cho phim hoạt hình hay nhất như Đi tìm Nemo, Gia đình siêu nhân, Chú chuột đầu bếp, WALL-E, Up và Câu chuyện đồ chơi 3; sau đó ông trở thành thành viên trong ban giám đốc của công ty Walt Disney sau khi Disney mua lại Pixar. Họ đều là những tấm gương tích cực đã tìm cho mình một con đường mới mẻ để bước đến thành công.
Sách điện tửChọn cho mình một lối đi riêng không phải là một lối đi lập dị cũng không có nghĩa là mù quáng như con thiêu thân lao vào ánh lửa. Mỗi người cần tự nhận thức được phải luôn chủ động, sáng tạo và không ngại khó khăn, gian khổ mới có thể thành công với lối đi riêng. Là một học sinh, tôi muốn lựa chọn một “lối đi không có dấu chân người” từ những điều nhỏ nhất. Ví như tìm ra một cách giải mới cho một bài toán khó, sáng tạo ra những bài văn thật hay khác với những kiểu mẫu… Quan trọng nhất đó là sự chủ động và sáng tạo trong phương pháp học tập để có thể gặt hái được thành tích tốt trong kỳ thi sắp tới. Chính từ những điều nhỏ ấy mà từ đó tôi đã rèn luyện được bản lĩnh và sự tự tin.
Như vậy, câu nói của Robert Frost là hoàn toàn đúng đắn khi đưa ra một lời chỉ dẫn về cách lựa chọn con đường bước đến thành công.
Câu 1.
Thể thơ: Thơ bảy chữ.
Câu 2.
– Vần được gieo: Vần “ay” trong “bay” – “tay” – “này”.
– Kiểu vần được gieo: Các vần này đều thuộc kiểu vần chân, bên cạnh đó “bay” – “tay” còn thuộc kiểu vần liền, “tay” – “này” thuộc kiểu vần cách.
Câu 3.
– Biện pháp tu từ liệt kê được tác giả sử dụng xuyên suốt trong văn bản khi chỉ ra những cuộc chia ly trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
– Tác dụng: Khắc hoạ chân thực những cuộc chia ly trong những hoàn cảnh khác nhau, từ đó tô đậm nỗi buồn sâu sắc của những cuộc chia ly trên sân ga.
Câu 4.
– Đề tài: Những cuộc chia ly.
– Chủ đề: Nỗi buồn của những cuộc chia ly trên sân ga.
Câu 5.
– Biểu hiện của yếu tố tự sự trong bài thơ:
+ Nhân vật trữ tình xưng “tôi” đóng vai trò như một nhân chứng trực tiếp quan sát và kể lại những điều tận mắt thấy ở sân ga.
+ Nhân vật trữ tình kể lại những cuộc chia ly trên sân ga. Mỗi cuộc chia ly giống như một lát cắt của một cuốn phim.
+ Trong những cuộc chia ly, có những cảnh có nhân vật, hành động cụ thể, có cảnh có cả lời thoại trực tiếp: “– Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”.
– Tác dụng:
+ Tạo tính chân thực, sống động cho văn bản, giúp cho bài thơ không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn trở thành một tấm gương, một thước phim tua chậm, tái hiện lại khung cảnh buồn của những cuộc chia ly ở sân ga.
+ Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ: Yếu tố tự sự giúp người đọc như được tận mắt chứng kiến, trực tiếp lắng nghe những cuộc chia ly ấy, qua đó giúp cho người đọc dễ dàng đồng cảm hơn.
Câu 1 :
Trong đoạn trích, Thúy Kiều hiện lên là một người con gái hiếu thảo, giàu tình cảm và có sự thông minh, quyết đoán. Khi Thúc Sinh phải về, nàng không chỉ đau khổ vì phải chia ly mà còn thể hiện sự lo lắng, chu toàn cho tương lai của cả hai. Nàng đã chủ động dặn dò Thúc Sinh về nhà trước, tìm cách giải quyết mối quan hệ với Hoạn Thư để tránh những tai họa về sau cho cả hai người. Điều này cho thấy Thúy Kiều là người có tầm nhìn xa, luôn suy nghĩ thấu đáo và không muốn để người mình yêu phải chịu tổn thương.
Nàng cũng là người rất kiên định và mạnh mẽ. Khi nói "Dù khi sóng gió bất bình, Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi", Thúy Kiều đã bộc lộ sự sẵn sàng đối mặt với mọi khó khăn, thậm chí là chấp nhận hy sinh bản thân để bảo vệ Thúc Sinh. Hình ảnh "Chén đưa nhớ bữa hôm nay, Chén mừng xin đợi bữa này năm sau!" không chỉ là lời hẹn ước thủy chung mà còn cho thấy niềm tin vào một tương lai tươi sáng, nơi họ có thể đoàn tụ. Đoạn trích đã khắc họa một Thúy Kiều vừa đằm thắm, thủy chung, vừa bản lĩnh, quyết đoán, xứng đáng là một trong những nhân vật nữ được yêu mến nhất trong văn học Việt Nam .
Câu 2 :
Trong cuộc sống muôn hình vạn trạng, lý tưởng sống đóng vai trò như ngọn hải đăng soi đường cho những con thuyền đang dập dềnh giữa biển khơi, giúp con người vượt qua mọi sóng gió để cập bến bờ bình yên. Đặc biệt, đối với thế hệ trẻ - những người đang đứng trước ngưỡng cửa tương lai với biết bao lựa chọn, lý tưởng sống càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Lý tưởng không chỉ là mục tiêu, hoài bão, mà còn là kim chỉ nam định hướng cho suy nghĩ và hành động, tạo nên sức mạnh nội tại giúp tuổi trẻ sống một cuộc đời trọn vẹn và ý nghĩa. Trước hết, lý tưởng sống giúp người trẻ định hình mục tiêu và phương hướng phấn đấu. Trong một xã hội hiện đại, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế, thế hệ trẻ có nhiều cơ hội để phát triển bản thân và kiến tạo tương lai. Tuy nhiên, nếu thiếu đi một lý tưởng rõ ràng, họ dễ bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc sống, sống hời hợt, vô định và lãng phí thời gian. Ngược lại, khi có một lý tưởng cao đẹp, dù là trở thành một nhà khoa học cống hiến cho nhân loại, một doanh nhân thành đạt tạo ra giá trị cho xã hội, hay đơn giản là một người có ích cho gia đình và cộng đồng, họ sẽ có động lực mạnh mẽ để học tập, rèn luyện và làm việc hết mình. Lý tưởng không chỉ giúp họ biết mình là ai, mình muốn gì, mà còn giúp họ xác định được những giá trị cốt lõi và con đường đúng đắn để đạt được thành công. Thêm vào đó, lý tưởng sống là nguồn sức mạnh tinh thần giúp người trẻ vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Con đường đi đến thành công không bao giờ trải đầy hoa hồng, mà luôn ẩn chứa những chông gai, vấp ngã. Một người có lý tưởng sẽ coi những thất bại đó là bài học kinh nghiệm, là cơ hội để trưởng thành chứ không phải là sự kết thúc. Họ sẽ kiên cường đứng lên sau mỗi lần vấp ngã, giữ vững niềm tin và tiếp tục bước đi trên con đường đã chọn. Ví dụ điển hình là những bạn trẻ không ngừng nỗ lực, sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp... để hiện thực hóa ước mơ, dù phải đối mặt với không ít rào cản. Tinh thần dám nghĩ, dám làm, không ngại thử thách để tạo ra những giá trị mới chính là biểu hiện rõ nét của một thế hệ trẻ có lý tưởng sống cao đẹp. Tuy nhiên, lý tưởng sống của người trẻ ngày nay cũng đối mặt với không ít thách thức. Một bộ phận thanh niên sống thực dụng, chạy theo những giá trị vật chất phù phiếm, thờ ơ với những vấn đề chung của đất nước. Áp lực thành công trong một xã hội cạnh tranh cũng có thể khiến một số bạn trẻ cảm thấy hoang mang, mất phương hướng và dễ dàng từ bỏ khi gặp khó khăn. Điều này đòi hỏi người trẻ phải có bản lĩnh để vững vàng trước những cám dỗ, có sự tỉnh táo để phân biệt được đâu là giá trị thật, đâu là giá trị ảo. Để xây dựng một thế hệ trẻ giàu lý tưởng, không thể chỉ trông chờ vào sự tự thân vận động của mỗi cá nhân, mà cần có sự chung tay của cả gia đình, nhà trường và xã hội. Trước hết, mỗi người trẻ cần chủ động nhận thức vai trò của lý tưởng sống, không ngừng học hỏi, trang bị kiến thức và kỹ năng để theo đuổi mục tiêu của mình. Gia đình và nhà trường cần đóng vai trò định hướng, giáo dục và khơi dậy khát vọng cống hiến trong mỗi người trẻ. Bên cạnh đó, xã hội cần tạo ra môi trường thuận lợi để người trẻ phát huy tài năng, đóng góp sức trẻ vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Tôn vinh những tấm gương sống đẹp, có lý tưởng cũng là cách để lan tỏa nguồn cảm hứng tích cực đến cộng đồng. Tóm lại, lý tưởng sống của thế hệ trẻ trong cuộc sống hôm nay không chỉ là khát vọng cá nhân mà còn gắn liền với trách nhiệm xã hội. Đó là hành trình nỗ lực không ngừng nghỉ để hoàn thiện bản thân, vượt qua thử thách và đóng góp cho một tương lai tốt đẹp hơn. Một dân tộc chỉ thực sự phát triển khi có một thế hệ trẻ sống có lý tưởng, dám nghĩ, dám làm và dám cống hiến.Câu 1.
Thể thơ: lục bát.
Câu 2.
Sự việc được kể: Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều, về gặp Hoạn Thư để trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.
Câu 3.
− HS xác định được biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong hai dòng thơ là biện pháp tu từ đối.
− Tác dụng: Nhấn mạnh sự lê thê của thời gian và sự dằng dặc, vô cùng của không gian trong cảm nhận của Thúy Kiều và Thúc Sinh.
Câu 4.
Cảm hứng chủ đạo: tác giả thể hiện sự đồng cảm, xót thương trước khát vọng hạnh phúc nhỏ nhoi mà mong manh, bấp bênh, nhiều bất trắc của nàng Kiều.
Câu 5.
− HS đặt nhan đề cho đoạn trích cần căn cứ vào nội dung chính và sự việc được kể trong đoạn trích.
− HS đưa ra lí giải của bản thân sao cho logic, phù hợp với nội dung, ý nghĩa, thông điệp của đoạn trích.
− Ví dụ: Ta có thể đặt tên cho đoạn trích trên là "Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều" hoặc "Vầng trăng ai xẻ làm đôi?" vì những nhan đề này thể hiện trọn vẹn nội dung chính của văn bản, đồng thời gợi lên cảm xúc buồn rầu của Thúy Kiều trước cảnh phu thê chia ly.
a. Cơ năng của vật dao động điều hòa là:
\(W = \frac{1}{2} m \omega^{2} A^{2} = \frac{1}{2} . 2. 5^{2} . 0 , 0 8^{2} = 0 , 16\) J
Khi vật có li độ \(x = 4\) cm hay \(x = \frac{A}{2}\) thì thế năng của vật là:
\(W_{t} = \frac{1}{2} m \omega^{2} x^{2} = \frac{1}{2} m \omega^{2} . \left(\left(\right. \frac{A}{2} \left.\right)\right)^{2} = \frac{1}{4} W = \frac{1}{4} . 0 , 16 = 0 , 04\) J
Động năng của vật là:
\(W_{đ} = W - W_{t} = 0 , 16 - 0 , 04 = 0 , 12\) J
b. Thế năng bằng động năng nên ta có:
\(W_{t} = \frac{W}{2} \Rightarrow \frac{1}{2} m \omega^{2} x^{2} = \frac{1}{2} . \frac{1}{2} m \omega^{2} A^{2}\)
\(\Rightarrow x = \pm \frac{A}{\sqrt{2}} .\)
a. Cơ năng của vật dao động điều hòa là:
\(W = \frac{1}{2} m \omega^{2} A^{2} = \frac{1}{2} . 2. 5^{2} . 0 , 0 8^{2} = 0 , 16\) J
Khi vật có li độ \(x = 4\) cm hay \(x = \frac{A}{2}\) thì thế năng của vật là:
\(W_{t} = \frac{1}{2} m \omega^{2} x^{2} = \frac{1}{2} m \omega^{2} . \left(\left(\right. \frac{A}{2} \left.\right)\right)^{2} = \frac{1}{4} W = \frac{1}{4} . 0 , 16 = 0 , 04\) J
Động năng của vật là:
\(W_{đ} = W - W_{t} = 0 , 16 - 0 , 04 = 0 , 12\) J
b. Thế năng bằng động năng nên ta có:
\(W_{t} = \frac{W}{2} \Rightarrow \frac{1}{2} m \omega^{2} x^{2} = \frac{1}{2} . \frac{1}{2} m \omega^{2} A^{2}\)
\(\Rightarrow x = \pm \frac{A}{\sqrt{2}} .\)