Nguyễn Hải An

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Hải An
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Trong một thế giới với hơn tám tỉ người, mỗi cá nhân là một bản thể duy nhất với những cá tính, hoàn cảnh và tư duy riêng biệt. Chính vì vậy, việc tôn trọng sự khác biệt đóng vai trò như một sợi dây gắn kết nhân văn giữa người với người. Tôn trọng sự khác biệt là thừa nhận và chấp nhận những điểm không giống mình ở người khác, từ ngoại hình, sở thích đến quan điểm sống, miễn là điều đó không vi phạm đạo đức hay pháp luật. Khi chúng ta mở lòng đón nhận sự đa dạng, thế giới sẽ bớt đi những định kiến hẹp hòi, những cuộc xung đột vô nghĩa và sự phán xét khắt khe. Nó tạo ra một môi trường an toàn để mỗi người tự tin là chính mình, tự do sáng tạo và cống hiến mà không sợ bị cô lập. Hơn nữa, sự đa dạng chính là nguồn cội của sự phát triển; nếu xã hội chỉ có một màu sắc, cuộc sống sẽ trở nên tẻ nhạt và dậm chân tại chỗ. Tuy nhiên, tôn trọng sự khác biệt không đồng nghĩa với việc dung túng cho cái xấu hay cái ác. Ngược lại, đó là thái độ sống bản lĩnh, biết lắng nghe bằng trái tim và nhìn nhận mọi thứ bằng sự bao dung. Học cách tôn trọng người khác cũng chính là cách chúng ta hoàn thiện bản thân và làm cho cuộc đời trở nên rực rỡ sắc màu hơn.

 Câu 2:
Trong dòng chảy của phong trào Thơ mới, nếu Thế Lữ mở đường bằng vẻ đẹp lẫm liệt, Xuân Diệu say đắm với tình yêu và tuổi trẻ, thì Lưu Trọng Lư lại chọn cho mình một lối đi riêng với những vần thơ đầy mộng mị, hư ảo và giàu sức gợi cảm về những kỷ niệm xa xăm. "Nắng mới" chính là thi phẩm kết tinh trọn vẹn phong cách ấy, một bài thơ thanh khiết như chính giọt nắng đầu mùa, tạc dựng nên một bức tượng đài bất diệt về tình mẫu tử qua dòng hồi ức của người con trưởng thành.

              Toàn bộ bài thơ là một sự đan xen tài tình giữa hiện tại và quá khứ, giữa cảnh vật và tâm tưởng, mà sợi dây liên kết chính là hình bóng người mẹ kính yêu. Bài thơ mở đầu bằng một không gian tràn ngập ánh sáng nhưng lại đượm một nỗi buồn mênh mông qua hình ảnh "nắng mới hắt bên song" cùng tiếng "gà trưa gáy não nùng". Ánh nắng ở đây không rực rỡ, chói chang của mùa hè mà là cái nắng hanh hao của sự chuyển giao, nó không làm bừng sáng gian phòng mà chỉ "hắt" nhẹ, gợi lên một sự xâm lấn chậm rãi của hoài niệm vào thực tại. Từ láy "xao xác" và "não nùng" không chỉ đơn thuần mô tả âm thanh tiếng gà mà còn gợi lên một sự tĩnh lặng đến rợn ngợp, một cảm giác trống trải trong tâm hồn thi sĩ khi đối diện với thực tại đơn chiếc. Tiếng gà trưa vốn là âm thanh quen thuộc của làng quê Việt Nam, nhưng trong thơ Lưu Trọng Lư, nó trở thành tiếng gọi của quá khứ, khơi gợi một nỗi lòng "rượi buồn" – một trạng thái buồn bã, rã rời và vô định. Chính cái nắng đầu mùa ấy đã trở thành tác nhân đánh thức miền ký ức ngủ quên, khiến tác giả không khỏi bồi hồi mà thốt lên "Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng", để rồi tâm hồn cứ thế chập chờn trôi về những ngày xưa cũ, nơi có bóng dáng mẹ hiền che chở. Sự đối lập giữa "hiện tại" hiu quạnh và "dĩ vãng" ấm áp đã tạo nên một sức căng cảm xúc mạnh mẽ, khiến người đọc cảm nhận được nỗi cô đơn của một cái tôi đang đi tìm lại hơi ấm của tình thân.

             Khi dòng hồi ức tuôn chảy, hình ảnh người mẹ hiện lên không phải bằng những nét vẽ lớn lao, cao cả mà lại vô cùng bình dị, gắn liền với những chi tiết thân thuộc của đời sống thôn quê Việt Nam. Tác giả nhớ về tuổi lên mười, cái tuổi còn non nốt nhưng đã đủ để khắc ghi hình bóng mẹ mỗi khi "nắng mới reo ngoài nội". Nếu ở khổ đầu nắng chỉ "hắt" buồn bã thì trong ký ức, nắng lại "reo" – một động từ nhân hóa gợi lên niềm vui, sự sống động và hồn nhiên của tuổi thơ bên mẹ. Màu "áo đỏ" mà mẹ đưa trước giậu phơi chính là một điểm nhấn thị giác cực kỳ đắt giá, nó làm bừng sáng cả không gian hoài niệm, xua đi cái tĩnh mịch của tiếng gà trưa và khẳng định một sức sống mãnh liệt của kỷ niệm. Màu đỏ của chiếc áo không chỉ là màu sắc trang phục mà còn là biểu tượng của hơi ấm, của tình yêu và sự săn sóc chu đáo mà người mẹ dành cho gia đình. Hình ảnh mẹ trong thơ Lưu Trọng Lư không tách rời khỏi thiên nhiên; mẹ chính là nắng, là hơi ấm, là sự hiện diện của niềm vui giản đơn trong gia đình. Càng đi sâu vào thế giới hoài niệm, ta càng thấy nhà thơ không chỉ nhớ về những sự vật hữu hình mà còn nhớ về cả những chuyển động vô hình nhưng đầy tình cảm. Đó là dáng hình "vào ra" tần tảo, là đôi bàn tay khéo léo chăm chút cho từng nếp áo, là sự hiện diện âm thầm nhưng không thể thiếu trong ngôi nhà nhỏ.

             Khổ thơ cuối cùng là một trong những đoạn thơ đẹp nhất của văn học thời bấy giờ, nó khắc họa chân dung người mẹ với sự tinh tế đến từ những chi tiết nhỏ nhất. Hình ảnh "nét cười đen nhánh sau tay áo" không chỉ mang đậm nét văn hóa truyền thống với tục nhuộm răng đen của phụ nữ Việt xưa, mà còn thể hiện sự kín đáo, dịu dàng và đức hạnh của người mẹ. Nụ cười ấy không phô trương mà lấp lánh sự nhân hậu, là ánh sáng sưởi ấm tâm hồn người con suốt bao năm tháng cuộc đời. Cụm từ "sau tay áo" gợi lên vẻ đẹp e ấp, khiêm nhường – một vẻ đẹp rất đặc trưng của người phụ nữ Á Đông. Ánh nắng trưa hè chiếu rọi vào nụ cười ấy, biến nó trở thành một khoảnh khắc vĩnh cửu, không bao giờ phai nhạt dù thời gian có tàn nhẫn trôi đi. Nghệ thuật sử dụng thể thơ bảy chữ nhịp nhàng, ngôn ngữ giàu tính tạo hình và biểu cảm đã giúp Lưu Trọng Lư chuyển tải thành công một tình cảm thiêng liêng: nỗi nhớ mẹ gắn liền với nỗi nhớ quê hương, nguồn cội. Nhà thơ đã khéo léo sử dụng các biện pháp tu từ như nhân hóa, ẩn dụ và cách ngắt nhịp linh hoạt để tạo nên một bản nhạc tâm tình đầy xúc động. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng riêng của tác giả mà còn chạm đến sợi dây đồng cảm của mọi độc giả về đạo hiếu và sự trân trọng những giá trị gia đình.

             Qua "Nắng mới", ta thấy được một Lưu Trọng Lư tinh tế trong cách cảm nhận, một tâm hồn giàu lòng nhân ái luôn hướng về những điều xưa cũ nhưng đầy giá trị nhân văn. Thi phẩm này không chỉ là một bức tranh phong cảnh, mà còn là một bức thư tình gửi về quá khứ, khẳng định rằng dù con người có đi xa đến đâu, dù thời gian có xóa nhòa mọi dấu vết, thì tình mẫu tử vẫn luôn là bến đỗ bình yên và ấm áp nhất trong tâm hồn mỗi người, khiến bài thơ mãi mãi là một đóa hoa thơm trong vườn hoa Thơ mới nói riêng và văn học dân tộc nói chung.

 

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận.

Câu 2: Hai cặp từ, cặp cụm từ đối lập được sử dụng trong đoạn trích (1) là:

    -  Hào phóng - Keo kiệt

    -  Thích ở nhà - Ưa bay nhảy

Câu 3:

    Tác giả cho rằng đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng bởi:

             - Mỗi người đều có sự khác biệt, cái tôi riêng biệt, không ai giống ai. Những gì chúng ta phán xét về người khác đôi khi chỉ là một định kiến có sẵn.

             - Phán xét người khác gây mất thời gian, ảnh hưởng đến bản thân mình và có thể dẫn đến những nhận định sai về người khác.

Câu 4:

              Em hiểu quan điểm của tác giả "Điều tồi tệ nhất là chúng ta chấp nhận buông mình vào tấm lưới định kiến" rằng:

             - Là khi chúng ta đánh mất đi bản thân và sự độc lập trong tư duy.

             - Khi buông mình vào tấm lưới định kiến, ta sẽ mất đi sự tự tin vốn có của bản thân, ta sẽ bó buộc mình trong những định kiến, sự hẹp hòi, ích kỉ của người khác hay chính bản thân mình. Từ đó, cuộc sống sẽ trở nên nặng nề, mệt mỏi hơn.

Câu 5:

              - Từ văn bản trên, thông điệp em rút ra chính là hãy sống là chính mình,đừng sống theo những định kiến của người khác.

               - Bởi:

             + Mỗi chúng ta là một cá thể riêng biệt, chúng ta có quyền được khác biệt, được sống là chính mình.

              + Khi sống là chính mình, ta sẽ được tự do, thoải mái làm những điều mình đúng.

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận.

Câu 2: Hai cặp từ, cặp cụm từ đối lập được sử dụng trong đoạn trích (1) là:

    -  Hào phóng - Keo kiệt

    -  Thích ở nhà - Ưa bay nhảy

Câu 3:

    Tác giả cho rằng đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng bởi:

             - Mỗi người đều có sự khác biệt, cái tôi riêng biệt, không ai giống ai. Những gì chúng ta phán xét về người khác đôi khi chỉ là một định kiến có sẵn.

             - Phán xét người khác gây mất thời gian, ảnh hưởng đến bản thân mình và có thể dẫn đến những nhận định sai về người khác.

Câu 4:

              Em hiểu quan điểm của tác giả "Điều tồi tệ nhất là chúng ta chấp nhận buông mình vào tấm lưới định kiến" rằng:

             - Là khi chúng ta đánh mất đi bản thân và sự độc lập trong tư duy.

             - Khi buông mình vào tấm lưới định kiến, ta sẽ mất đi sự tự tin vốn có của bản thân, ta sẽ bó buộc mình trong những định kiến, sự hẹp hòi, ích kỉ của người khác hay chính bản thân mình. Từ đó, cuộc sống sẽ trở nên nặng nề, mệt mỏi hơn.

Câu 5:

              - Từ văn bản trên, thông điệp em rút ra chính là hãy sống là chính mình,đừng sống theo những định kiến của người khác.

               - Bởi:

             + Mỗi chúng ta là một cá thể riêng biệt, chúng ta có quyền được khác biệt, được sống là chính mình.

              + Khi sống là chính mình, ta sẽ được tự do, thoải mái làm những điều mình đúng.

Sử dụng chế phẩm vi sinh Bacillus subtilis hoặc Trichoderma để phòng trừ sâu bệnh. Vì các vi sinh vật có lợi này ức chế vi sinh vật gây bệnh, cạnh tranh dinh dưỡng, và kích thích sức đề kháng của cây. Chúng an toàn, không để lại dư lượng hoá chất, phù hợp với ra hữu cơ và giúp bảo vệ lâu dài.